Ánh hồi quang hiêu hắt/ Truyện LHL/ 4/9/2010

ĐỌC TIẾNG CHUÔNG CHIỀU CỦA LÊ HOÀI LƯƠNG/ 4-9-2010
 
Trương Tham
 
Nói đến những truyện ngắn hay trong những năm gần đây không thể không nói đến tập Tiếng chuông chiều tập truyện ngắn của Lê Hoài Lương (NXB Văn học 2010) gồm 17 truyện ngắn viết rất đều tay. Mỗi truyện một gương mặt riêng. Chuyện nào cũng là những vấn đề nóng hổi hiện thực của cuộc sống mà mọi người đều quan tâm. Khi thì sinh hoạt thường nhật của một tổ dân phố khi là chuyện “hiến xác”. Khi là chuyện xây dựng cuộc sống mới trên một vùng “Đất vua”… Dù có khi tác giả viết về cuộc chiến đấu hôm qua hay những chuyện xa xưa đi nữa cũng là những vấn đề những trăn trở của con người trong cuộc sống hôm nay.
 
Những người nhiễu sự đáng yêu là chuyện về các cụ về hưu những thiếu tá trung tá từng vang bóng một thời nay về lãnh đạo một tổ dân phố. Phẩm chất tốt đẹp nhiệt tình cách mạng vẫn không phai nhưng cuộc sống đã hoàn toàn đổi khác. Chuyện gì cũng cần phải giải quyết. Lắm lúc các cụ không khỏi cảm thấy chơi vơi hụt hẫng không sao giải quyết cho cùng. Thì ra phẩm chất nhiệt tình là điều không thể thiếu nhưng trong cuộc sống xây dựng đổi mới hôm nay còn đòi hỏi nhiều điều khác nữa. Tác giả đã chọn lựa được những chi tiết rất sống động gần gũi với một chút hài hước rất có duyên.
 
Ở truyện Kẻ ruồng bỏ quê hương tác giả xây dựng theo phương pháp đối lập nhiều tầng. Một vùng đất có truyền thống văn hiến nay trở thành điểm tiêu biểu trong cuộc xây dựng mới.Có sức cuốn hút với đài báo văn chương… Nhưng cũng vì thế mà ông trưởng thôn dần dần chỉ lo chú trọng đến hình thức tìm thấy niềm vui khi được biểu dương mà nhẹ đi việc lớn chăm lo đời sống của nhân dân. Một chiếc cầu qua sông hình thức rất đẹp từng lên đài lên báo nhưng chỉ một cơn lũ đã sụp đổ. Trẻ con nheo nhếch người dân còn đói nghèo. Trong khi đó thì các ông từ đội trưởng trở lên đều giàu có khá giả. Kẻ - ruồng - bỏ - quê - hương có quan niệm khác. Với hắn “việc kiếm miếng ăn là hành vi vĩ đại của con người còn chia miếng ăn cho đều là việc thiện lớn nhất”. Ông trưởng thôn không thống nhất quan điểm ấy. Còn hắn không thống nhất với việc làm của ông.
Ai ruồng bỏ quê hương? Ruồng bỏ cái gì đây? Thật sâu sắc! Đó là một nghịch lý rất hiện thực làm trăn trở bao người không chỉ ở vùng “đất vua” ấy mà thôi.
 
Trong tập Tiếng chuông chiều truyện ngắn cùng tên là tác phẩm đoạt Giải Nhì cuộc thi Truyện ngắn Văn nghệ Quân đội 2005-2006. Ở truyện này tác giả tỏ ra hiểu biết cặn kẽ về kiến thức quân sự kể cả ngoại cảm tâm linh. Diễn tả thật hay những trận mưa bom bão đạn trên chiến trường Quảng Trị trong cuộc chiến chống Mỹ cứu nước. Câu chuyện nhằm khẳng định niềm tin của con người vào cuộc sống. Niềm tin bao giờ cũng gắn với những gì chân thực vào cái đẹp. Người lính trẻ miền Bắc bằng sự hy sinh xương máu của mình vì độc lập tự do của đất nước đã mở cho anh lính ngụy một con đường sống một sự gắn bó với cả một giai đoạn chiến chinh. Đến nỗi sau này anh lính ngụy ấy đã đi tu đã dứt bỏ thế tục mà vẫn còn tìm ra tận Quảng Trị bồi hồi tìm kiếm nơi xưa đã từng chôn cất người liệt sĩ ấy. Đáng tiếc có lẽ tác giả không còn cách nào khác mà trở về với kết thúc theo kiểu “tu là cõi phúc”. Thà mở ra như Cánh đồng bất tận của Nguyễn Ngọc Tư có lẽ câu chuyện sẽ thoáng hơn… C
 
ứ như thế mỗi truyện là một vấn đề. Những điều thật cụ thể mà cũng thật khái quát về những vấn đề có tầm quan trọng của cuộc sống mà mọi người đều quan tâm. Sở dĩ ngày nay người đọc ít quan tâm đến văn học có nhiều lý do nhưng theo tôi điều cơ bản là văn học chưa đề cập được những vấn đề mà mọi người mong mỏi.
 
Hay nhất trong tập Tiếng chuông chiều là truyện Lỗi tại Mẹ Âu Cơ. Chủ yếu nhà văn viết theo lối đối thoại. Viết một cách bình dị nhưng mỗi lời thoại đều cô đúc sự sống và ý tưởng như đúc chữ. Theo tác giả lỗi của Mẹ Âu Cơ là không sinh đẻ tuần tự đứa trước đứa sau mà sinh một lứa một trăm người con. Tất cả đều thấy mình ngang nhau. Là Rồng Tiên mà không truyền lại cho các con chất “Rồng” “Tiên” ấy. Thành thử các con chỉ gắn kết với nhau được trong khi đất nước lâm nguy để bảo vệ giang sơn nòi giống. Bao nhiêu bi kịch đau lòng từng xảy ra trong lịch sử “những điều trông thấy”.
 
Là một câu chuyện có tầm khái quát lớn lại viết một cách bình dị trong sáng. Với Lỗi tại Mẹ Âu Cơ đã đưa ngòi bút Lê Hoài Lương lên một tầm cao mới.
 
Tập truyện của Lê Hoài Lương ra đời trước cuộc hội thảo về văn học nghệ thuật do Ban Tuyên giáo Trung ương tổ chức tại Đà Lạt vào ngày 12và 13/7/2010 nhưng có sự gặp gỡ trong tinh thần “văn học nghệ thuật phản ánh hiện thực đất nước hôm nay”.
 
Tháng 8. 2010
 
Nhà giáo ưu tú TRƯƠNG THAM
 
 
 
 
 
ÁNH HỒI QUANG HIU HẮT/ 2026/ 4-9-2010
 
Truyện ngắn của Lê Hoài Lương
 
 
1. Nàng thực sự lộng lẫy khi vừa mười lăm tuổi. Cả tài và sắc. Sắc thì có thể mỗi người có “gu” riêng để mê để yêu. Nhưng tài chắc rằng sự thừa nhận rất dễ chung. Tài được cộng đồng thừa nhận thì khó bài bác. Nàng là con gái của chánh ca Tầm. Ở cái đất hát bội này chánh ca là tôn vinh lớn nhất. Đó là sự tôn vinh sòng phẳng vì không có bất kỳ thế lực nào chi phối. Phép vua thua lệ làng. Mọi tổng đốc tuần phủ nơi khác đến Bình Định đều tuân thủ “lệ” hát Văn miếu hàng năm để tôn vinh tài năng hát bội ở địa bàn mình cai quản. Cái nôi hát bội dân của hát bội muốn cai quản tốt không thể không tuân thủ lề luật này. Hát Văn miếu quan ngồi cho có lệ để chứng kiến người đề xuất các danh hiệu là những nghệ sĩ có tên tuổi được nhân dân thừa nhận. Sự thừa nhận khắc nghiệt bằng chính thực tài chứ không phải danh xưng hão. Vậy là các nghệ sĩ thực tài này sẽ “bỏ phiếu” cho các danh hiệu chánh phó ca. Người cầm quyền cao nhất tỉnh chỉ “chuẩn y”. Mọi thứ đều hợp lòng dân. Thời ấy đơn giản lắm chính xác và đàng hoàng lắm. Nhưng thôi trở lại chuyện nàng.
 
Khi tôi kể những chuyện này 2010 nàng đã tám mốt tuổi ta nàng sinh năm Canh Ngọ 1930. Bắt đầu theo cha đi hát từ năm lên mười năm mười sáu tuổi ta nàng đẹp rực rỡ và thực sự nổi tiếng. Nàng nổi tiếng vai kép Lữ Bố trong “Lữ Bố hí Điêu Thuyền”. Vì nét mặt như hoa. Vì hát hay diễn giỏi. Sáu thứ cần cho một đào kép giỏi thanh sắc thục tinh khí thần nàng đều có cả. Vậy là nàng nổi tiếng. Ngay thời hát bội phải cạnh tranh với cuộc tấn công của cải lương. Các đoàn cải lương dựng rạp ngay trên đất hát bội mà tranh khách tranh thành công. Lao đao vài năm hát bội thích nghi bằng cách chế tác nhanh diễn các vở tiểu thuyết diễm tình và đòi lại được khách xem. Cuộc giằng co lúc thiên bên này lúc ngả bên kia bất phân thắng bại. Thời điểm này nàng bí mật vào tận Sài Gòn tới rạp lặng lẽ xem Phùng Há diễn cải lương cũng vai Lữ Bố và cách diễn của nàng sau đó đã có chút pha trộn tinh túy cải lương thành càng độc đáo. Một thế hệ tài năng mới đã vẽ mặt đeo râu làm nức lòng người xem. Nhưng cách diễn hát mới gặp sự phản kháng quyết liệt của lớp cha chú họ bảo khi sư diệt tổ. Nhưng chính công chúng thừa nhận cuộc cách tân quyết liệt này và đã dần hình thành danh hiệu “tứ đại danh ca” trong đó có nàng.
 
Một người ái mộ tài hát diễn của nàng sau này trở thành nhà nghiên cứu hàng đầu của hát bội đang ngồi trước mặt tôi đây cùng hát mấy trích đoạn của “Hoàng Phi Hổ quá giới bài quan” với nàng. Ông lớn hơn nàng mấy tuổi giọng còn âm vang.
 
2. Chạng vạng tối một người mặc áo bôn-nha cái áo chẽn để múa võ hách cánh cỗng gỗ khép hờ vào nhà ông. Dưới chỉ còn độc cái quần đùi. Nghệ sĩ Trần Long của tứ đại. Ông đang là chủ tịch kháng chiến xã mê hát rồi chơi thân với các diễn viên này từ lâu. Ngạc nhiên hỏi sao áo quần kỳ cục Trần Long cười ngượng không nói. Chắc là bán sạch hút rồi.
- Anh giúp tôi làm mấy đêm hổm rày đói quá!
 
- Thôi cứ vô nhà kiếm gì ăn đã rồi tính. Ông bảo vợ làm cơm rồi bà đi xé về mấy thước vải cắt may luôn trong đêm thành hai bộ bà ba. -
 
Hát thì được sẵn mùa trăng biển nghỉ nghề dân đông. Nhưng anh phải rút cho được mấy đào kép này…
 
-Được. Tôi đi luôn đêm nay. Đang hát Gò Bồi tôi lẻn xuống đây. Chắc ông Mười làm thịt tui nhưng cũng liều. Với lại nếu vậy lấy ai đóng Địch Thanh ai làm Bao Công ai diễn Tiết Cương… Hà hà.
 
Ông ra trụ sở bàn với xã đội. Đôi bên cùng có lợi dân xem hát hay đào kép có tiền dân quân du kích cũng thêm quỹ. Mấy đám ruộng còi chẳng ra sao.
 
Sáng hôm sau dân quân dựng sân khấu. Đơn giản lắm chứ không rườm rà phông màn đèn điện bây giờ. Chỉ một màn hậu mấy vác lá đùng đình về kết mấy mẻ đèn dầu treo là hát diễn hát bằng chính giọng thật không qua mi- cờ - rô khuếch âm. Lại nói giọng đặc biệt của nàng hát tận Gò Bồi cách cả chục cây số đường chim bay mà mùa nam thuận gió xóm Vũng của ông cũng nghe! Kèn trống thì cũng âm vọng từng chặp trong gió.
 
Sáng hôm sau lục tục kéo qua mấy diễn viên nhạc công với đề lề gọn nhẹ trốn đi làm sao mang vác lịch kịch. Thiếu người diễn đã có đội văn nghệ Vũng bổ sung thời này chủ yếu là hát bội với hô bài chòi.
 
Trần Long rủ được mấy đào kép xịn qua vì người Vũng mê hát tiền thướng luôn cao lại được ăn cá thỏa thích. Chuyện thướng điển hình là có ông gánh chiếu đổi cả gánh lấy tiền cầm chầu hôm sau hết tiếp tục tới người quen mượn tiền đăng ký cầm tiếp sau trả. Trả bằng tiền hay trả bằng chiếu cũng được. Làng chiếu quê ông cách Vũng hơn hai chục cây số. Thời ấy không có khái niệm xù nợ. Ông này đặc biệt ở chỗ ngày tang mẹ dù mình là trai trưởng cũng phân đều chi phí cho các em keo và tính toán nhưng với việc xem hát cầm dùi trống thưởng phạt thì có thể bán lúa non mà chơi dù Bình Định có câu “Trên đời có bốn cái ngu/ Mai dong lãnh nợ nuôi cu cầm chầu!” Lần này hát đến bảy đêm chứ không phải ba đêm như dự tính hát đến khi hết mùa trăng dân còn yêu cầu là còn hát. Từ “Cổ thành” đến “Hộ sanh đàn” từ “Hoàng Phi Hổ” đến “Đào Tam Xuân” “Lữ Bố” “Liễu Nguyệt Tiêm”… Lần đó Trần Long suýt bị ông Mười làm thịt: ông phải nuôi không dàn diễn viên nhạc công còn lại vì lèo tèo mấy mạng thường thường ai coi? Người Bình Định thuộc làu tuồng tích coi hát bội là coi diễn viên hát diễn đã từ lâu mặc định qua sự khổ luyện bao thế hệ truyền lại. Hoàng Phi Hổ nằm miễu phải diễn thế nào Tiết Cương chống búa Châu Thương bắt ngựa Tạ Ôn Đình đá giáp… làm sao nếu hát diễn không thấu không tới là dân không coi. Những vở tuồng tiểu thuyết mỗi hồi diễn cả đêm coi mỏi ra trước làm cuốn nem nướng vài cái trứng lộn rồi vô coi tiếp. Ở nhà nghe kèn trống cũng hiểu tới lớp nào ai đang diễn… Mấy năm sau khi Đoàn văn công liên khu V thành lập ông xin chuyển công tác theo đoàn tập kết ra bắc với danh nghĩa diễn viên được cử đi Trung Quốc học bảy năm đại học rồi nghiên cứu sinh ngành lý luận sân khấu thành nhà nghiên cứu đã góp nhiều công trình quý giá cho hát bội nói riêng và cho lý luận sân khấu truyền thống.
 
3.
 
Mươi năm gần đây nàng sống với một người con ở thành phố trên Tây Nguyên lâu lâu mới về Bình Định ít ngày với cô con gái út. Nàng sinh ra là để hát chứ không phải cho đời sống gia đình nhiều toan tính và cũng cháy vèo những rực rỡ tăm tiếng đời sống gia đình chật hẹp và những cuộc tình thoảng qua hay dai dẳng. Nhờ sự tác động của nhiều nhân vật hoạt động ngành văn hóa tỉnh cấp cho nàng một lô đất ở thành phố chế độ nghệ sĩ ưu tú sòng sành làm sao bán mấy tháng sau cũng hết vèo cho tiêu pha hùn hạp gì đó. Thực ra danh hiệu nghệ sĩ ưu tú là do ngành Văn hóa Bình Định làm hồ sơ cho “tứ đại danh ca” vì họ sừng sững sống trong dân chứ sau năm bảy lăm phần đông họ không về Nhà hát đơn vị nhà nước vì không quen cách quản lý mới. Những ông bầu xưa khác và một phần chất nghệ sĩ cầm ca của họ. Họ mãi là các nghệ sĩ của nhân dân.
 
Tôi thường lại chơi nhà ông nên mỗi làn nàng về ghé thăm tôi đều gặp.
 
- Máu nghề mà sao bác không dạy học trò cho vui?
 
- Nhà hát cũng đôi lần đề nghị nhưng tôi không làm. Mà bên ngoài đâu còn ai tha thiết học nghề này. Mấy gánh không chuyên giờ kiếm lực lượng trẻ không ra. Hết thời lâu rồi. Họ còn cầm cự được là may đó cậu. Nàng thường gọi tôi là cậu một cậu nhỏ có viết mấy bài báo về hát bội và tỏ ra vui mừng mỗi lần gặp người còn lại của tứ đại. - Giờ đã bát tuần mà bác vẫn còn giữ được làn da đẹp còn nét quá chắc xưa hàng hàng đàn ông mê? Tôi nịnh cho nàng vui. Qua nhiên mặt nàng thoáng đỏ và vui hẳn ra.
 
- Già yếu hom hem rồi cậu à xưa thì nói gì. Và kể. Về những đêm diễn rực rỡ sự nồng nhiệt tán thưởng. Những khay thẻ bay ào ào lên sân khấu. Những đón mời. Những đàn ông hâm mộ nữa đương nhiên. Trong câu chuyện có nhắc tới ông còn ông cười cười cũng lẳng không rõ bao nhiêu đùa bao nhiêu thật chuyện hai người. Bao giờ nàng chào về ông cũng giúi vào tay nàng ít tiền xe tiền quà. Lần này đột nhiên ông đề nghị hát cùng hát. Tôi mừng vui nghe hai người đối ca ngồi đối diện nhau ca chứ không diễn tám mấy rồi còn gì. Ông tuy giọng còn vang nhưng đã xì hơi vì mấy cái răng trống. Nàng tuy không xì hơi nhờ hàm răng giả nhưng cũng yếu hơi hẳn. Họ hát đoạn hồn Giả Thị gặp Hoàng Phi Hổ. Được ánh mắt hạnh phúc nhớ lại thể hiện lại một thời vang bóng. Ông thì gì cũng để lại mấy cuốn sách quan trọng cho hậu thế muốn để tâm nghiên cưu tra cứu dạy học nhưng nàng thì chỉ còn cái tiếng tất cả qua rồi qua lâu rồi. Buổi sáng. Mặt trời rực lên trên vách nhà bên kia đường hắt đúng vào giây phút hai người hoài niệm thuở vàng son. Tôi rùng mình và miên man cuốn vào khoảnh khắc xuất thần không phải vì nuối tiếc ngày xưa. Dù cái ngày xưa đó ông còn nhiều lần nhiệt tình đề xuất bằng các bài báo bằng gặp trực tiếp cán bộ quản lý chuyên ngành cách cứu nó theo niềm yêu và máu thịt một đời. Dù nàng còn chép miệng than theo ông. Cũng chỉ nói rõ sự buồn bã và bất lực. Còn mất mọi sự đều có quy luật đều theo quy luật. Chỉ cảm ơn tôi có mặt nhà ông hôm nay để vô tình chứng kiến ánh hồi quang hiu hắt trước khi mọi thứ biến mất hoặc biến dạng./.
 
Trại viết VNQĐ Bến Tre 13/ 7/2010
 
LHL
 
 
 
Lời bình:
 
 
ÁNH HỒI QUANG HIU HẮT là truyện viết về thời vàng son và hiu hắt của hát bội Bình Định. Truyện chỉ có bốn nhân vật đó là nhân vật nàng – một trong tứ đại danh ca nhà nghiên cứu hát bội hàng đầu - người rất ái mộ "nàng" nghệ sĩ Trần Long và nhân vật người kể chuyện. Tác giả đã dựng lại thời vàng son của hát bội Bình Định thông qua những cố gắng và thành tích của nhân vật nàng. Từ chuyện lao đao của hát bội trước cuộc tấn công của cải lương: "Các đoàn cải lương dựng rạp ngay trên đất hát bội mà tranh khách tranh thành công. Lao đao vài năm hát bội thích nghi bằng cách chế tác nhanh diễn các vở tiểu thuyết diễm tình và đòi lại được khách xem." đến sự thành công của Nàng khi biết kết hợp cái tinh túy của cải lương với hát bội trong cách diễn vai Lữ Bố. Và thế là "Một thế hệ tài năng mới đã vẽ mặt đeo râu làm nức lòng người xem. Nhưng cách diễn hát mới gặp sự phản kháng quyết liệt của lớp cha chú họ bảo khi sư diệt tổ. Nhưng chính công chúng thừa nhận cuộc cách tân quyết liệt này và đã dần hình thành danh hiệu “tứ đại danh ca” trong đó có nàng." Truyện còn là những kỷ niệm của nhân vật nhà nghiên cứu hát bội hàng đầu với những đêm diễn của ông bầu nghệ sĩ Trần Long về niềm đam mê hát bội của khán giả quê Vũng… Những chi tiết trong truyện đều xoay quanh nghệ thuật hát bội và niềm đam mê hát bội của nghệ sĩ và công chúng Bình Định. Đây có lẽ là thời vàng son là ánh hồi quang mà tác giả muốn nói đến. Phần kết truyện là câu chuyện về buổi gặp gỡ giữa "nàng" và nhà nghiên cứu hát bội hàng đầu. Họ cùng hồi tưởng về "những đêm diễn rực rỡ sự nồng nhiệt tán thưởng. Những khay thẻ bay ào ào lên sân khấu. Những đón mời. Những đàn ông hâm mộ nữa đương nhiên…" Và sau những hồi ức huy hoàng là những hiu hắt xế chiều của cái nghề mà họ đã một đời đam mê và dâng hiến. Hãy nghe tác giả viết: "Lần này đột nhiên ông đề nghị hát cùng hát. Tôi mừng vui nghe hai người đối ca ngồi đối diện nhau ca chứ không diễn tám mấy rồi còn gì. Ông tuy giọng còn vang nhưng đã xì hơi vì mấy cái răng trống. Bà tuy không xì hơi nhờ hàm răng giả nhưng cũng yếu hơi hẳn.… Ông thì gì cũng để lại mấy cuốn sách quan trọng cho hậu thế muốn để tâm nghiên cưu tra cứu dạy học nhưng bà thì chỉ còn cái tiếng tất cả qua rồi qua lâu rồi." Bằng bút pháp kể chuyện tác giả đã thành công khi đưa vào truyện cái không khí của nghệ thuật hát bội Bình Định thuở xưa
./.
 

 
 
 

phan phương bình

cảm ơn chú

dạ, cháu cảm ơn chú.Chúc weblogs của chú ngày càng được nhiều người biết đến

maithin

@ Phan Phương Bình

Chắc là lời bình của nhà văn Nguyễn Đức Thiện đấy. Ko hiểu sao khi đưa lên lại mất tên tác giả lời bình.

phan phương bình

xin chú giải đáp giùm cháu

Chú Thìn ơi ! Chú có thể nói rõ tác giả nào đã viết lời bình về truyện Ánh hồi quang hiu hắt  được không ạ?