Độc đáo nhà lá mái Bình Định

(Thế hệ thứ IV trong ngôi nhà lá mái của cha tôi ở thôn Vĩnh Phú)

ĐỘC ĐÁO NHÀ LÁ MÁI BÌNH ĐỊNH 

Mai Thìn

          1- Từ một tiếng đồn…

           Tiếng đồn Bình Định tốt nhà

          Phú Yên tốt lúa, Khánh Hòa tốt trâu…

          Câu ca dao thể hiện niềm tự hào của người Bình Định về nét độc đáo của ngôi nhà lá mái, đến nay vẫn không gì thay thế được.      

        Nhà lá mái Bình Định có cột kèo, xiên trính... đều bằng danh mộc và được chạm trổ tinh xảo với qui mô lớn; đặc biệt là ở các đoạn tiếp giáp của cột, kèo có chạm hình lân, qui, hoặc nho sóc... mang tính nghệ thuật cao. Vách nhà lá mái thường trét đất ở trong, tô vôi ở ngoài, hoặc xây toàn đá ong hay gạch, rồi tô vôi láng. Thường thì nhà nào cũng ba gian hai chái, có nhà đến năm gian hai chái. Những gian giữa, phía trước đóng bàng khoa, có nhà đóng phên dại, hoặc cổng. Hè trước rất rộng, có khi lại làm một lớp cổng hoặc phên dại ở ngoài cho thêm chắc chắn.

          Vì tính chất qui mô như vậy, nên để làm được ngôi nhà lá mái là cả quá trình gian khổ, lâu dài và là một sự kiện trọng đại của đời người. Người Bình Định có câu:“Một lần cất nhà bằng ba lần cha chết ” là vậy.

          Thợ làm nhà lá mái thường phải là thợ giỏi, có tay nghề cao trong vùng. Họ được gia chủ rước về nuôi ăn ở trong trại (được cất lên gần nơi làm nhà) để làm từ năm này sang năm khác. Có nhà, từ khi khởi công xây dựng, người con trai chưa lấy vợ, nhưng đến khi khánh thành thì đã có cháu nội để ẵm bồng; nghĩa là phải mất hai, ba năm mới hoàn thành, mặc dù trước đó việc chuẩn bị khởi công dựng nhà cũng đã khá lâu. Để chuẩn bị dựng nhà, gia chủ phải đi mua gỗ tận vùng Bình Khê (Tây Sơn) đóng bè chở về, rồi tre phải được chặt, ngâm ở ao, mương trước đó cả năm trời để chống mối mọt; còn đá ong thì đặt cho các thợ làm đá ở Nhơn Mỹ hay Thiết Trụ xã Nhơn Hậu, thị xã An Nhơn… chọt theo kích cỡ đã định sẵn. Vì thế nên ca dao mới có câu:

                                       “Anh về dỡ gỗ đa đa

                                       Cất nhà lá mái tháng ba em hầu

                                        Em về coi trước ngó sau

                              Coi nhà mấy cột, coi cau mấy buồng.”

        Đặc biệt, khoảng một tháng trước khi dựng nhà, gia chủ còn phải tổ chức giã gạo để nấu cơm cho thợ làm nhà ăn. Đây là công việc được khá nhiều nam thanh nữ tú trong thôn và các vùng lân cận hưởng ứng. Vì giã gạo không đơn thuần là một hoạt động nặng nhọc mà đây là một buổi sinh hoạt văn hoá khá độc đáo của người Bình Định, bởi nó gắn liền với loại hình hò đối đáp mà ta gọi là hò giã gạo.

    Tuy hoàn toàn làm bằng gỗ, nhưng nhà lá mái là một loại hình kiến trúc khá bền vững. Nhiều nhà do bị cháy phần mái, hoặc vì điều kiện phải di dời, người ta tháo rời các mộng bằng gỗ, cắt các vòng mây buộc rồi dỡ từng cây cột, kèo, trính để dựng nhà khác.

Ngôi nhà của cha tôi ở khu vực Vĩnh Phú, phường Nhơn Thành, thị xã An Nhơn có dàn cột kèo, xiên, trính… truyền qua ba đời với ba lần dựng nhà, đến đời cuối cùng đã gần một trăm năm sử dụng, nhưng vẫn vững chắc.

2- Thử tìm hiểu cấu trúc của nhà lá mái

2.1- Mái nhà            

Nét độc đáo của nhà lá mái còn ở hai lớp mái. Lớp mái thứ nhất (giống phần la phông trong nhà xây), nhưng được lợp phủ lên các đầu cột, kèo và bám chặt vào các đòn tay bằng những sợi dây mây chuốt rất kỹ. Phần mái này có nơi lát ván hoặc vỏ cây đập dập, hoặc bằng những cây tre già (có sẵn ở khắp nơi) đã ngâm nước hơn một năm để khỏi mối mọt, rồi dùng chàng (dụng cụ của thợ mộc) đục, dầm thành những tấm khịa bằng phẳng trải lên trên đầu cột, kèo và các đòn tay trước khi đắp đất sét đã trộn nhuyễn với rơm. Lớp mái thứ hai được chống cao phần đỉnh với độ dốc lớn, song song với lớp mái thứ nhất để đến mùa mưa thóat nước nhanh, giữ được độ bền của mái rạ lâu hơn.

Như vậy, nhà lá mái có hai lớp đòn tay. Lớp đòn tay của mái trong đỡ phần khịa đã trét đất; lớp đòn tay của mái ngoài đỡ thêm rui, mè để có chỗ lợp tranh hoặc móc ngói.

          Lớp mái này lợp bằng tranh rạ đánh thành tấm dài độ 1,5- 2m. Người ta dùng lạt tre cột tấm tranh vào cây mè phủ lên trên lớp mái thứ nhất theo thứ tự lớp lang từ dưới lên đến nóc. Ngày nay lớp mái tranh này được thay bằng ngói cho vững bền hơn.

Mái nhà và mái lá nằm cách nhau chừng năm bảy tấc, hoặc một thước, do những trụ chống. Vì thế ở trong nhà lá mái, mùa nắng đóng kín cửa thấy mát rượi, mùa đông thì ấm áp, dễ chịu chứ không như nhà bê tông ngày nay  phải luôn có quạt hoặc máy điều hoà nhiệt độ.

2.2- Vách nhà

          Vách nhà lá mái cũng được làm hai lớp. Để trét vách, người ta dùng tre đã ngâm kỹ, chẻ thành mầm, trỉ.

Cây mầm to bảng hơn cây trỉ (khoảng ½ cây tre) dựng đứng bên trong vách cách nhau vài ba tấc để cột cây trỉ làm sườn trét vách. Ðất ruộng pha sét nhào nhuyễn với rơm, nhét vào những ô mầm trỉ. Hàng trỉ giữ cho đất không rơi. Trét hai phía trong ngoài xong, thợ đất còn dùng đất gò mối trộn nước dây tơ hồng hồ lại lớp mặt cho phẳng, nhuyễn. Nếu trét không kỹ hoặc trét bằng đất bở thì khi vách khô, đất nứt nẻ, rơm lòi ra ngoài rất xấu.

2.3- Nền nhà

Nền nhà lá mái xưa vẫn là nền đất nện như kiến trúc nhà ở đồng bằng quen thuộc của người Việt, nhưng có một điểm khác là nền của nhà lá mái tuyền bằng đất thịt trộn muối đằm kỹ. Nền nhà kiểu này không bị nứt nẻ vào mùa nóng, lại khô ráo vào mùa mưa. Xung quanh nền thường đắp đá ong có nhiều ở đồi Gò Quánh, hoặc Nhơn Hậu, thị xã An Nhơn. Nền nhà trên phải cao hơn nhà dưới, nhà trước phải cao hơn nhà sau, vì theo quan niệm của người Bình Định thì:

Nền nhà nước đổ chảy vào

làm ăn phát đạt đón chào ngợi ca

nền nhà nước đổ chảy ra

làm ăn kha khá tiêu pha bội phần

nền nhà bằng phẳng như cân

đề phòng con cháu ái ân tư tình.

2.4- Các loại cửa

Dàn cửa chính trong nhà lá mái được xoi chỉ rảnh, chạm khắc công phu. Ngày trước chủ yếu là cửa bàng khoa gồm nhiều khung hình chữ nhật  theo chiều đứng. Mỗi khung lại chia ra nhiều ô, phần trên là những ô vuông, phần dưới là ô hình chữ nhật lát ván. Giữa các ô có nhiều khung với các rãnh lồi chạm hoa văn rất đẹp. Một số ô vuông ở trên có những trụ nhỏ đẩy qua đẩy lại được để tạo ra khoảng trống cho mát. Vì thế nên cửa này còn có tên gọi là cửa thượng song hạ bảng là vậy.

Nhà nghèo thì làm cửa phên dại, cửa này cũng có cấu tạo bằng khung gỗ hình chữ nhật đứng, có khổ thường là khoảng (8 tấc x 1,6 m), có các thanh ngang cho chắc. Người ta chẻ tre, vót kỹ rồi gài vào các thanh ngang của khung này cho kín sịt sẽ có một tấm cửa phên dại bằng phẳng và kín đáo. Những ngày giỗ kỵ hoặc cưới hỏi, người ta dễ dàng tháo rời từng tấm cửa cho rộng rãi và tận dụng kê làm bàn ăn hoặc giường nghỉ thật tiện lợi. Ngày nay, người ta ít dùng cửa phên dại hoặc cửa bàng khoa mà thay bằng các cửa lá sách hoặc cửa bảng tiện lợi và đẹp hơn.

Cửa lá sách phần dưới khép kín bằng những tấm ván vuông như cửa bảng, phần trên có nhiều thanh gỗ xếp nghiêng nghiêng để thông gió và từ bên ngoài không nhìn vào được. Lối kết cấu cửa ngõ của nhà lá mái cũng thể hiện tính cách của chủ gia là sống khép kín, đóng cữa bảo nhau, không muốn chuyện trong nhà chưa rõ, ngoài ngõ đã tường.

Cửa của nhà lá mái ở Bình Định thường thấp, bậc lại cao, đặc biệt là cửa đi lên gian nhà trên, nơi có bàn thờ.

Theo các cụ già giải thích thì cần bố trí cửa như thế để nhắc nhở mọi người khi bước vào gian thờ tự phải cúi đầu, mọi động tác phải khoan thai, cung kính. Đặc biệt, ngày xưa, gian thờ này người phụ nữ không được vãng lai. Ngày nay, tục này không còn nữa, vì vai trò nam nữ bình quyền và cũng vì người đàn ông luôn đi làm ăn xa, mọi công việc ở nhà, kể cả nhang đèn, cúng giỗ đều do phụ nữ quán xuyến, nếu không được vãng lai thì lấy người đâu mà hương khói.

2.5- Đòn dông và các loại cột, kèo, xiên, trính…

Trong việc dựng nhà lá mái, quan trọng nhất là gác đòn dông. Lễ gác đòn dông thường tiến hành vào đêm khuya để tránh người ta “dòm ngó", nhất là đàn bà chửa. Luận về cách chọn ngày giờ để gác đòn dông, dân gian Bình Định có bài thơ:

                    Kinh Dịch luận gác đòn dông

                Giờ Tí, giờ Sửu: Phước hồng trời ban.

 Khi đòn dông gác lên phải dán một lá bùa và treo một bát quái bằng gỗ để cầu an, trừ tà. Gỗ làm đòn dông phải là cây thẳng, tròn, không bị sâu mọt. Khi gác đòn dông, bao giờ đầu ngọn cũng phải nằm bên tay phải của ngôi nhà. Về kinh nghiệm này, người Bình Định có bài thơ về cách đặt trang ông táo và gác đòn dông:

Ngồi trong nhà nhìn ra đường cái

Gốc đòn dông tay trái tả ban

Ngọn dông tay phải rõ ràng

Cùng là trang táo thiếp chàng nên ghi.

Nhà lá mái ở Bình Định thường có từ 12 đến 16 cây cột lớn trồng thẳng xuống đất theo bốn hàng, mỗi hàng bốn cây, bao gồm: Hàng cột cái (cao và to nhất) rồi đến hàng cột con, hoặc cột nhì, cột ba nhỏ và thấp hơn. Riêng bốn cây cột ở giữa cao từ 3,5m đến 4m, còn các cây cột bên ngoài  giảm đều xuống từ 2 đến 3m. Đoạn tiếp giữa các đầu cột với các cây xiên, trính đều có chạm trổ hình con lân, qui, hoặc nho sóc rất công phu.

Xiên là cây đặt từ đầu cột này sang đầu cột kia theo chiều dọc ngôi nhà.

Trính là cây đặt từ đầu cột này sang đầu cột kia theo chiều ngang của ngôi nhà.

Ở Bình Định, cây xiên thường bào có cạnh lục giác, chạy rãnh nổi, hoặc chạm hoa văn rất đẹp; còn cây trính (để đỡ trụ lỏng) thì được đẽo bằng một khúc gỗ rất to, dáng cong hình vòm, và cũng được chạm trổ hoa văn, sống  nổi, uốn lượn dọc theo thân cây.

Khi đầu cột có chạm trổ thì đầu kèo cũng chạm trổ cho cân xứng. Các cây trính, xiên dùng gỗ vuông thì ở cạnh có chạy chỉ và những gờ, rãnh dọc chiều dài cho đẹp. Ngoài các cột đứng còn có các trụ lỏng; tuỳ theo nhà mà có trụ lỏng chày, trụ lỏng ba lá hoặc trụ lỏng chữ lập (立), trong đó, trụ lỏng hình chày là đẹp nhất. Trụ lỏng theo kiểu này được kết hợp thành dáng cối chày với cây trính được đẽo cong, ưỡn lên khá mạnh mẽ đỡ cây trụ lỏng từ trên thòng xuống trông rất hoành tráng. Theo nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Liễn thì trụ lỏng ở dạng này được mô phỏng theo dáng lin ga - yô ni của đồng bào Chăm xưa, nhưng trông thanh thoát và vững chãi hơn nhiều.

Ngoài việc chạm khắc sao cho sinh động, trình độ của thợ làm nhà lá mái còn được bộc lộ ở khâu xoi đục các ngàm miệng. Những ngàm miệng này vừa đẹp vừa chắc, lại rất khít khao. Nhiều chủ nhà đã thử bằng cách đổ nước vào chỗ lắp ghép, lúc tháo ra nếu phần lỗ mộng bên trong vẫn khô là đạt yêu cầu.

Trong nhà lá mái, trụ lỏng và xiên, trính là các điểm trang trí quan trọng. Khách đến thường nhìn lên trần và thấy ngay trụ lỏng, cũng như trính, xiên… cho nên trụ lỏng không chỉ là cây gỗ thẳng đơn thuần mà còn được trang trí dưới nhiều hình thức. Điều đặc biệt ở nhà lá mái là nơi giáp khớp, ngàm, người ta không dùng đinh như ngày nay mà khoan lỗ, đóng những con sẻ bằng tre đực già thay đinh giữ chặt, vì thế khi chạm trổ không đụng đến lưỡi bạc, chàng, hoặc cưa đục của thợ mộc.

          Nhà cất theo kiểu ấy trông nặng nề vì cột choáng hết nhiều chỗ. Hơn nữa, ba gian nhà trên hoàn toàn dùng để thờ. Trước bàn thờ kê trường kỷ hoặc phản gõ, thỉnh thoảng khách đến ngồi và nằm, chứ người trong nhà ít khi dùng đến. Trong nhà lại treo nhiều liễn, đối, trướng, sáo… cho nên dù nhà rộng đến đâu, vào cũng thấy lấn cấn không được thoải mái.

          2.6- Sân vườn và cổng ngõ

          Nhà lá mái thường xoay mặt vào hướng nam. Và nhà nào cũng đều có vườn cây ở chung quanh, sân ở phía trước, rồi hàng rào ở bốn bên. Nhiều nhà chỉ trồng cau và chuối, (chuối vườn sau, cau vườn trước); sân phần nhiều dện đất thịt. Để khỏi nổi bùn, hàng năm dùng phân bò tươi khuấy nước sềnh sệch, đem tráng lên mặt sân cho láng làm nơi phơi thóc đậu, nông sản. Còn hàng rào thì mặt trước thường trồng duối, chè tàu, hớt tỉa mỹ thuật, hoặc rào cây tre khô, bằng thẳng chắc chắn. Phía sau và hai bên thường trồng tre, trúc cao xanh. Trong vườn thì trồng các loại rau cải, hoa quả, mùa nào thức ấy. Đặc biệt, đến ngày tết nhà nào cũng trồng hoa vạn thọ vàng ươm cả vườn.

          Ngõ ra vào trổ trước nhà. Có nhà trổ thêm ngõ sau. Và ngõ sau cũng như ngõ trước đều trổ xiên một bên, chứ không bao giờ trổ ngay ở giữa. Ngõ trước nếu vì phương hướng phải trổ ở giữa, thì đường vào nhà cũng phải chạy né một bên, hoặc quanh co như ất tự (乙):

Đường đi, nước chảy chớ cho ngay

Hai bên thềm uyển như ất tự

Gia nội an khương, tự nhiên hưng.

Từ cách bố trí cửa, ngõ, sân, vườn như trên, đã tạo nên sự hài hoà giữa thiên nhiên và kiến trúc. Sống trong nhà lá mái, tuy kín mà không bí, thấp mà không ẩm, con người dễ giao hoà với thiên nhiên cây cỏ nên thường sống thanh bạch, đậm nhân văn và có cốt cách văn hoá cao.

3- Và triết lý nhân sinh trong một ngôi nhà

          Mái nhà xưa, khu vườn cổ chính là môi trường thích hợp để bảo tồn thuần phong mỹ tục, đạo lý truyền thống của gia đình mà người Bình Định gọi chung là nếp nhà. Phải chăng tên gọi nếp nhà này cũng xuất phát từ gia phong của những chủ nhân ngôi nhà lá mái ở Bình Định.  Không chỉ là một di sản vật chất quý báu, nhà lá mái còn là một phần đời sống tinh thần, một nét văn hóa tốt đẹp của người Bình Ðịnh.

Cách đây chừng hơn mươi năm, nhà lá mái vẫn còn khá nhiều ở Bình Định, đặc biệt ở khu vực ven kinh thành Hòang Ðế xưa. Nhưng nay do thiếu điều kiện bảo quản nên nhiều ngôi nhà cổ đã bị hư hỏng dần.

Nếu ở phương Tây có những ngôi nhà tuyền gỗ thì nhà lá mái của Bình Định cũng có thể coi là một loại hình kiến trúc nhà gỗ độc đáo không nơi nào có được. Bỡi gỗ là vật liệu chính của nhà lá mái, gỗ hiện diện ở mọi lúc, mọi nơi, kể cả trong ký ức và tương lai, trong cuộc sống hiện tại và lâu dài, và ngay cả trong cái chết của con người.

Những ai từng lớn lên trong nhà lá mái không thể quên cái bậc cửa  mòn nhẵn, mỗi lần bước qua là một lần quệt vào ống quyển đau nhói; và cũng không thể quên những cây cột láng bóng đã không biết bao nhiêu lần  va vào trán trong đêm khuya quờ lối tìm cửa ra ngoài. Và có lẽ tiếng động khó quên nhất trong nhà lá mái, đẫm đầy trong ký ức tuổi thơ là tiếng võng đưa cót két những trưa hè thanh vắng. Âm thanh ấy đối với tôi như một sức mạnh huyền bí neo giữ suốt đời những ký ức gắn liền với tuổi thơ trong ngôi nhà lá mái, và trở thành những vần thơ trong bài “Tiếng võng” viết năm 1989:                        

                             Đi mòn tuổi xanh

chiều nay con về thăm mẹ

mới đến đầu hè

đã nghe

tiếng võng đưa cót két…

                            

                              Tuổi thơ con yên ả

trong tiếng mẹ ru hời

giờ chững lại

trước điệu buồn

cót két…

                              Mẹ một đời vất vả nuôi con

năm đứa trai năm thằng ngạ quỷ

cái võng chuyển lưng hoài

nhay nhay bầu vú mẹ

từng giọt thời gian

tần tảo

chắt chiu

trong tiếng võng

sớm chiều

cót két…

                              Năm đứa lớn lên

đàn chìm rời tổ

trôi dạt mọi miền

quên cả tháng năm

giờ con về thăm

chiếc võng xưa

cót két…

                              Mẹ đón con

lưng còng dáng võng

xưa mẹ ru

võng còng

cót két…

                            Giờ mẹ già rồi

ru ai

mà cót két hoài

tiếng võng

mẹ ơi!?

          Âm thanh ấy tạo nên từ gỗ, sắc màu ấy, tâm linh ấy phôi thai từ gỗ. Gỗ không chỉ che chở, nâng đỡ, bao bọc thân xác con người từ lúc mới sinh ra cho đến lúc đã qua đời mà còn hun đúc những ý chí bền bĩ, kiên trung; dưỡng nuôi những tinh thần thuỷ chung, nhân hậu.

          Thật vậy, ngoài những cột kèo, xiên, trính… gắn liền với ngôi nhà, gỗ còn kề cận với con người trong sinh hoạt, sản xuất qua những vật dụng, như: giường tủ, bàn ghế, hay thúng mủng, cuốc cày…. Từ chiếc tăm xỉa răng, đôi guốc mộc đến chiếc nón đội đầu; từ tấm vạt giường bện tre mát rượi hay chiếc rế đặt dưới niêu cơm, chiếc rương đựng nữ trang, quần áo của cô gái  mới về làm dâu, hay cái cối cái chày thức suốt những đêm hò giã gạo, đến tấm phản gõ láng bóng ở nhà trên, hay bộ bình phong, liễn thờ chạm khảm cầu kỳ … Tất cả cùng sống, cùng yêu, cùng buồn vui chia sẻ với con người, giúp con người giữ nếp gia phong đạo lý, sống nhân hậu, yêu thương.

          Gỗ có mặt ở ruộng vườn, gỗ sinh sôi nảy nở ở đồi nương, sông suối, gỗ đi theo suốt cuộc đời người… Ngày nay, có xi măng, sắt thép, dù bền vững và tiện lợi hơn nhiều, song vẫn không thể thay được chiếc phản gõ mát rượi những trưa hè, không thể thay được chiếc võng đưa cót két, và lại càng không thể thay được ngôi nhà cuối cùng cho người đã qua đời.

          Có lẽ chính vì cái triết lý ấy cùng với những năm tháng tuổi thơ được sống trong ngôi nhà lá mái ven thành Hoàng Đế mà trong thơ tôi không thể nào quên được bóng dáng mái nhà xưa khu vườn cũ của cha ông.

                    Trong ngôi nhà lá mái

                    Anh thắp hương trước khi làm lễ

                    chúng mình nguyện thề tóc bạc răng long

                    tiên tổ về trên mái lá đòn dông

                    đón nhận nàng dâu hiền thảo

 

                    Cha đã ra đi một mùa đông hết gạo

                    cỏ đầy gò, dưa chửa ra hoa

                    chiếc lư thờ đầy ắp tàn tro

                    hàng cột cái tựa mòn vai áo

 

                    Bậc thềm nhà mình những ngày mưa bão

                    giọt nước mái tranh róc rách cá rô nằm

                    cau cũng tốt mà trầu cũng tốt

                    mẹ hái đầy mấy giỏ hồi dâu

                    bánh ít lá gai gói trong tàu chuối

                    bột giã đều hai họ khen ngon

 

                    Chiếc giường đôi trải đôi chiếu mới làm

đôi gối thêu loan phụng

mẹ mua về cất tận đáy rương

 

Chái nhà sau mình nằm nhìn ra vườn bắp

              nhu nhú mầm lún phún râu non

em bảo con chúng mình rồi cũng thế

no no tròn những quả bắp non.

(Rút từ sách Lá rụng buồn tênh của Mai Thìn, NXB HNV, 2015)