Đời phản

Phản gõ và bàn thờ gia tiên trong nhà lá mái của cụ Nguyễn Cao Đệ ở thôn Vạn Thuận, Nhơn Thành. Ảnh chụp 2004

ĐỜI PHẢN 

Tản văn của Mai Thìn

Một trong những đặc điểm dễ thấy của ngôi nhà lá mái là hầu hết mọi vật liệu làm nhà và vật dụng trong nhà đều bằng gỗ. Thuở nhỏ, tôi được may mắn sinh ra và lớn lên trong một ngôi nhà như vậy ở vùng ven thành Hoàng Đế, cạnh khu Văn Miếu cũ.

          Ký ức về ngôi nhà thì rất nhiều, từ cột kèo xiên trính, cửa bàn pha, cho đến cái bậc cửa cao ngang ống quyển và chiếc võng gai kẽo kẹt suốt bao hè… Trong đó có hai thứ mà cha tôi lúc còn sống vẫn thường hay nhắc đến, như một sự tưởng nhớ, như một nỗi hoài cổ. Đó là chiếc phản và dàn cột kèo xiên trính lên nước bóng loáng dễ đã trăm năm.

Dàn cột kèo xiên trính đến đời cha tôi là đã qua ba lần tháo lắp. Đầu tiên, nó được ông cố tạo dựng nên; chiến tranh ly tán, nhà phải chuyển dời, ông ngoại cha tôi tháo ra, mang về cho thợ mộc gia công thêm rồi dựng lại. Đến đời cha tôi, nó lại được chuyển dời hơn chục cây số để làm nên ngôi nhà cho chúng tôi ngày nay.

          Còn cái phản gỗ bóng nâu - một trong những vật lưu dấu của ngôi nhà thì lại chằng chịt vết mực. Nó vừa là bàn trà cho cha tôi đãi khách, vừa là bàn học, vừa là chỗ nằm theo tôi suốt những tháng năm tuổi nhỏ. Đêm đêm tôi vẫn thường đặt chiếc ghế đẩu nằm ngang, lấy phản gỗ làm bàn học. Lúc mỏi thì trèo lên phản nằm đọc sách, có lần ngủ quên, quờ tay ngã chiếc đèn dầu, may mà không bị cháy.

          Chiếc phản nằm ở chái tây, nhìn ra cửa sổ có vườn mít, xoài với triền đá ong đầy cây hoa dại, ríu rít tiếng chim những trưa mùa hè và long lánh sáng những đêm trăng thanh. Khi tôi lớn lên đã thấy cái phản gỗ ấy nằm ở chái tây rồi. Nó dày gần hai mươi phân với hai tấm rộng, đủ trải một chiếc chiếu rộng, thừa ở phần đầu hơn một gang tay.

        Thường thì ở các nhà giàu, phản phải được làm bằng gỗ gõ, một loại cây có thịt trơn láng và cứng, gõ vào nghe bon bon; trưa hè nằm trên đấy mát lạnh mà không hại phổi như nằm trên nền đất. Còn tấm phản nhà tôi thì không làm bằng gỗ gõ. Cha tôi kể, ông nội tôi đã này được nó từ cây xoài tượng to nhất ở khu Văn Miếu Bình Định – nơi ông đã làm Tự thừa suốt mấy mươi năm.

Cây xoài có tuổi bao nhiêu, không ai biết được; chỉ biết nó đứng ở góc trái nhà quan cư, đối diện chái đông đền thờ Khổng Tử. Trái của nó to, lúc còn non thì vỏ có màu xanh ngọc, khi hườm hườm thì vàng hươm; lúc chín tới lại chuyển sang màu cam pha chút hồng trông thật ngon mắt. Đến mùa xoài, ông nội tôi cực nhất vẫn là việc đuổi lũ dơi, bảo vệ xoài khỏi bị ăn trộm; bởi đây là cây được chọn lấy quả để tiến vua, còn các quan về cúng tế chỉ được đãi quả của những cây khác trong vườn.

Vì tán của nó rộng, nên thân cây cũng to lắm - bốn năm người ôm không xuể; ngọn thì cao chất ngất, đứng dưới gốc nhìn trật ót cũng không  thấy được. Cha tôi kể, ông vẫn thường trèo lên cành xoài, đoạn mọc chỉa về phía trước sân Văn Miếu những đêm trăng để xem làng tế lễ, bởi lúc ấy lính canh không cho trẻ con vào. Chỉ đến khi kép hát bội khua trống, khua kèn thì mọi người và trẻ nhỏ mới được tự do vào xem hát. Cây xoài đứng đó, che bóng mát cho ngày hè và che bóng tối cho đêm trăng. Ngày nắng cũng như mưa, nó không chút thở than, chỉ xao xác lúc một mình, hay rung rinh sáng khi nghe câu hát thủng được tiếng trống chầu.

Thời kháng chiến chống Pháp, đền thờ Khổng Tử bị san phẳng, con lân già và nhà bia trước cổng lần lượt bị xô ngã, nhưng cây xoài thì vẫn đứng đó, dù lớp vỏ có xù xì lỗ chỗ thêm nhiều vết đạn. Nó đã chứng kiến bao nhiêu lần đoàn tụ, bao nhiêu cảnh biệt ly và vô vàn tội ác mà kẻ thù đã gieo rắc trên quê hương tôi.

Sau này, ngay trên nền đền thờ Khổng Tử mọc lên ngôi trường làng với một sân khấu nhỏ xây bằng đá ong, đêm đêm sôi động tiếng hát tuồng; nhưng cây xoài thì đã không còn nữa. Nó đã chết đứng, hiên ngang như một chiến sĩ cách mạng từng bị giặc treo cổ ngay bên mình nó. Nhựa cứ chảy ra, chảy ra và dần dần khô đi từng ngọn nhánh. Khi cây xoài trút hết nhúm lá cuối cùng, ông tôi vẫn chưa cho đẵn gốc; chỉ đến lúc làng quyết định bán nó cho phường xẻ gỗ thì ông mới chịu buông xuôi. Nghĩ công ông tôi chăm bẵm cây xoài, người ta mới để rẻ hai tấm phản đặt ở chái tây bây giờ cho tôi làm bàn học. Ngày trước, nó được đặt trang trọng ở giữa hai hàng cột cái, ngay trước bàn thờ ông nội và chỉ dành làm nơi tiếp khách đàn ông. Đến lúc đóng được bộ bàn chữ U bằng gỗ hương, cha tôi mới chuyển nó qua chái tây như bây giờ.

Ngày tôi vào đại học rồi ra trường, vào thành phố, tấm phản gỗ vẫn nằm ở chái tây, nhưng đến khi cha tôi không còn nữa thì nó đã trở thành tấm kệ để nong nia và vật dụng cho mẹ tôi làm nón. Do không có người nằm, không có người đàm đạo nên nó phải chuyển xuống nhà dưới, dành chỗ cho khoảng không gian chái tây được rộng rãi hơn.

Những hôm giỗ nội, những ngày giỗ cha; rồi chạp mả, lễ Tết, tôi lại về quê, lau chùi phản gỗ nghe ngậm ngùi một nỗi nhớ quê. Thương phản gỗ, thương nội tôi, cha tôi; thương đời cây, đời người lầm lũi nắng mưa, nghe vân vi xào xạc những thăng trầm…  

 

Nguồn: Sách Lá rụng buồn tênh của Mai Thìn