Mẹ tôi ăn trầu

 

(Trồng dây trầu trước nhà để nhớ mẹ)

 ( Mẹ tôi- áo đỏ)

MẸ TÔI ĂN TRẦU 

Mai Thìn 

Ở Bình Định, thời trước hầu như ai cũng ăn trầu, vì thế mới có nghề lái trầu giúp Biện Nhạc (Nguyễn Nhạc) góp phần gầy dựng nên cơ nghiệp Nhà Tây Sơn.

  1. Từ chuyện ăn trầu ở Bình Định xưa

Hồi ấy, con trai, con gái tới tuổi thành niên thường bắt đầu ăn trầu, con trai thì có thêm tục hút thuốc, đàn bà con gái chỉ ăn trầu chứ không hút thuốc. Người Bình Định rất ghét phụ nữ hút thuốc, uống rượu. Họ xem miếng trầu là đầu câu chuyện, nên thường hay khuyến khích thanh niên nam nữ ăn trầu. Nhà nào cũng trồng một vài cọc trầu và cây rễ trong vườn. Dây trầu bò lên cây cau, cây dừa hoặc cây bồ ngót tàu. Nhà mẹ tôi ở ven thành Hòang Đế còn một cây bồ ngót tàu trên trăm tuổi, thân to như cột đình, nơi trước kia ông nội tôi trồng một dây trầu tươi tốt, cả xóm ăn không hết; còn cây rễ ông tôi trồng ở góc vườn thì đã chết từ lâu.

           Thuở mới về làm dâu, mẹ tôi chưa biết ăn trầu, nhưng vì được ông nội  khuyến khích (ông nội tôi rất nghiện trầu, nhưng cha tôi thì không ăn vì ông  sợ dơ dáy) nên bà đã ăn thử rồi nghiện luôn đến giờ.

2. Đến cách ăn trầu và triết lý nhân sinh

Cây rễ cao, lá thuôn dài, cành suông. Khi ăn, người ta chặt cành, bóc vỏ đánh thành nài (như nài cày, nhưng nhỏ hơn) rồi đem thui lửa, phơi khô dùng dần. Nếu hôm nào đi chợ bán nón mà quên mua rễ, mẹ tôi bảo tôi ra vườn tìm hái cho bà những nụ hoa chim chim ăn tạm thay rễ. Chim chim là loại cây như dú dẻ, hoa thơm, trái hình rẻ quạt như nhánh chuối, nhưng rất nhỏ, hạt to, khi chín màu đỏ, ăn có vị ngọt.

Khi ăn trầu, mẹ tôi dùng vôi quết nhẹ lên mảnh lá trầu tươi đã cắt xéo (thường là ½ hoặc ¼ lá), gập lại cho vôi nằm ở giữa rồi bỏ vô miệng nhai. Vôi ăn trầu là vôi đã được tôi chín, màu đỏ hồng, hay trắng. Ăn trầu nhất thiết phải có vôi, không có vôi, trầu không đỏ, không nồng, vị nhạt như nước ốc, bỡi thế ca dao có câu:

                    “Có trầu, có vỏ không vôi

          Có chăn có chiếu không người nằm chung”.

 

Vôi trong trường hợp này cũng quan trọng như cái người nằm chung vậy. Và cũng có lẽ do đặc điểm nồng cay quan trọng ấy, mà người ta còn ví  vôi với nghĩa, với tình, mang đậm triết lý nhân sinh:        

                              “Trầu xanh, cau trắng cay nồng

Vôi pha với nghĩa, thuốc nồng với duyên”.

                                         (Ca dao)

 

Hoặc:           “Anh về em đưa miếng trầu

                               Miếng thương miếng nhớ miếng sầu anh ơi

                    Quệt vôi em quệt cả lời trăm năm…”

                                                                    (Ca dao)

          Mẹ tôi bảo: Để có miếng trầu ngon, thì ngoài cách têm trầu cho đẹp, cho khéo còn phải biết cách quệt vôi sao cho vừa ăn. Nếu quệt nhiều, miếng trầu cay xé, quệt ít thì không đủ nồng.                          

“Tội tình thiếp lắm chàng ơi

                    trầu ăn không đỏ vì vôi quệt già.”

                                                                      (Ca dao)

 

         Để tăng thêm vị chát, và giảm bớt chất cay nồng của trầu và vôi, mẹ tôi thường cắn một mẩu rễ và lát cau tươi. Nếu là cau khô thì phải ngâm kỹ trong nước cho mềm. Tất cả nhai chung cho đến khi nước cốt có màu đỏ bầm như máu, hương thơm nồng ải rất dễ chịu.

Mẹ tôi còn dùng thuốc rê (lá thuốc xắt thành sợi nhỏ), vo thành viên như viên bi, lăn qua lăn lại nơi hàm răng, vừa để chặn nước cốt trầu không chảy ra ngoài, vừa tăng cảm giác ngon miệng. Những khi hết thuốc, bà thường lấy đỡ vài điếu Nam Dương, hoặc thuốc Công nông của anh tôi tháo ra xài tạm, nhưng bà bảo không ngon bằng thuốc rê. Có những lúc bận tay, phải sàng gạo hay lột đậu… bà thường nhét viên thuốc rê dưới môi trên (giữa răng và môi), rồi dùng ngón trỏ và ngón cái vuốt hai mép cho sạch nước cốt trầu (mẹ tôi gọi là cổ trầu). Do ăn trầu thường xuyên, nên hai ngón tay trỏ và ngón cái của mẹ lúc nào cũng nâu xỉn màu cổ trầu. Đặc biệt là túi áo bà ba của mẹ như cái đãy trầu, lúc nào cũng có sẵn mẩu cau, miếng trầu, và thơm thơm, nồng nồng cái hương vị mà đến giờ tôi vẫn còn nhớ cảm giác được nằm bên mẹ những thuở còn thơ. Mùi trầu nơi áo và hương dầu dừa trên tóc là hai thứ gợi nhớ về mẹ tôi nhiều nhất.

  1. Và những vật dụng quanh chuyện ăn trầu

Vì ăn trầu thường phải nhổ nước cổ trầu, nên nhà nào cũng sắm một hai ống nhổ bằng đất hoặc bằng đồng có trang trí hoa văn rất đẹp.

 

Các loại trầu, cau, thuốc, rễ đựng trong cơi trầu (mẹ tôi gọi là cão trầu) bằng tre, nhỏ xinh như chiếc rá gạo bây giờ. Chiếc cơi trầu cũng đi vào ca dao bằng lời tỏ tình rất dễ thương của chàng trai trẻ:

 

                              “Ước gì anh hoá ra cơi

                    để cho cơi đựng cau tươi trầu vàng

                              ước gì anh cưới được nàng

                    mai sau anh trả lại nàng đôi mâm”.

Ngày nay cơi trầu được thay bằng rổ nhựa, tuy tiện lợi nhưng ít thẩm mỹ hơn nhiều.

 

Ngoài cơi trầu, còn có đãy trầu. Khi đi ra ngoài, thì có đãy trầu bằng vải luôn dắt theo người, gặp ai cũng lấy ra mời như người ta mời thuốc lá  bây giờ. Các ông, các bà không có đãy trầu thì bỏ đại vào hai túi áo vạt hò, áo bà ba hoặc trong yếm để khi ra đồng có cái ăn cho đỡ thèm.

Miếng trầu đã trở thành vật giao duyên khá độc đáo của các chàng trai cô gái:              -         “Yêu nhau trao một miếng trầu

                            Giấu thầy giấu mẹ trao sau bóng đèn.”

                                                                                        (Ca dao)

Hoặc:           -         “Đêm trăng thiếp mới hỏi chàng

                                        Cau tươi ăn với trầu vàng xứng không?

                              Trầu vàng nhá với cau xanh

                              Duyên em sánh với tình anh tuyệt vời.”

                              (Ca dao)

 

Lúc về già răng yếu, khi ăn trầu, mẹ tôi dùng ống xoáy trầu nghiền cho dập trầu cau, rễ trong xoáy trước khi dùng. Ống xoáy làm bằng gỗ, hay  bằng đồng, còn ống xoáy của mẹ được anh Năm tôi làm bằng vỏ đạn đại liên to bằng ngón chân cái, cưa bớt phần ngọn, chừa lại phần đáy cao độ ba bốn phân. Chày giã trầu, là một đoạn thép gai dài bằng cây bút bi đập dẹt một đầu, đầu kia uốn vòng tròn để dễ cầm và xỏ dây cột vào đáy ống xoáy cho khỏi thất lạc. Sau khi trầu, cau, rễ được bỏ vào ống xoáy, mẹ tôi dùng cây sắt chọt vào ống cho dập trầu, làm mềm rễ, cau rồi mới ăn. Có lúc rễ khô cứng quá, bà phải dùng cái búa nhỏ, kê lên ngạch cửa mà gõ cho mềm rồi mới cho vào ống xoáy mà nghiền. Những năm cuối đời, chiếm hết công việc thường ngày của mẹ là têm trầu, cắt rễ, ngâm cau và nghiền các loại trong ống xoáy để ăn. Bà nghiện trầu đến nỗi đi đâu cũng tòng teng cái đãy trầu và cây gậy, như vật bất ly thân. Ngày chuyển xuống phố ở với cháu con, bà càng ăn trầu nhiều hơn, vì nhớ làng, nhớ quê, nhớ mái nhà tiên tổ…

Chi tiết này tôi có viết trong một bài thơ in trong tập Khúc Sơn Ca, (NXB HNV,2004)

                                    NHỚ QUÊ

                              Rã rời trong nỗi nhớ quê

                              mẹ mang cau héo hong nhờ mái hiên

                              dõi nhìn bóng nắng xiên xiên

                              trầu têm nửa cánh ưu phiền nhạt vôi

 

                              Các con rong ruổi đường đời

                              không mang theo được góc trời quê hương

                              mái nhà tranh gốc trầu vườn

                              cột kèo xiên trính khói hương bàn thờ…

 

                              Ngày ngày mẹ cứ ngẩn ngơ

                              vào ra ngồi ngóng bơ thờ phố đông

                              nhớ cây mít, nhớ dòng sông

                              nhớ ngờm ngợp gió, nhớ lồng lộng xanh

 

      Một đời bóng mẹ toả quanh

                              cây lên thành trái, trái thành chúng con

                              bây giờ dáng mẹ hao mòn

                              vào ra thơ thẩn nhớ con, nhớ làng.

Trong cão trầu của mẹ tôi, ngoài các vật dụng ăn trầu như: Bình vôi, ống xoáy, dao xếp (dao nhỏ có cán xếp lại được) để cắt trầu, cau, rễ còn chứa các vật dụng như: nút áo, kim, chỉ, nhíp nhổ gai, dầu cù là… để phòng khi cần đến cho dễ tìm; còn ống nhổ thì để ở chân giường hoặc xó nhà tránh đụng ngã. Trẻ con biết bò hoặc lò dò biết đi rất thích nghịch cão trầu của bà, bởi trong đó có nhiều đồ vật lạ mắt, đặc biệt là ống xoáy trầu, vừa nhỏ xinh, vừa có tiếng leng keng của que sắt chạm vào ống trầu rất vui tai.

Dụng cụ để quệt vôi gọi là cái chìa vôi. Bình vôi loại thường thì dùng bằng chìa tre, dài hơn cây bút bi vót tròn; bình vôi sang thì dùng bằng chìa sắt. Có khi chìa vôi cột chung với lưỡi dao để rọc trầu, gọi là dao ăn trầu. Dao này thường có chuôi nhọn như mũi tăm để vừa rọc trầu, vừa têm trầu, hoặc rọc lá làm nón chứ không dùng vào việc khác.

          Bình vôi có nhiều loại, thường làm bằng đất nung, sau bằng sứ, bây giờ thì đựng vào những lọ nhựa, lọ thuỷ tinh cho tiện, nhưng không đẹp.

          Bình vôi đất nung ở quê tôi cũng giống như ông bình vôi trong truyện của nhà văn Phan Khôi in trong “Việt Nam Thi nhân tiền chiến” hồi giữa thế kỷ trước. Bình giống như cái hũ nhỏ, cổ eo, miệng loa; có loại bình tròn, đít bằng, trên có quai xách, miệng ở về một bên, toàn thân tô màu lục hoặc màu vàng, màu da lương…

          Bình vôi được gọi một cách trân trọng là ông Bình Vôi. Khi ông bình vôi vỡ, hỏng hoặc đầy vì vôi chết trong ruột không cạy được, người ta không vứt đi mà trang trọng đặt ở gốc đa, gốc bồ đề trong làng, nơi thường để những ông táo, lò vỡ, hỏng. Trong truyện của nhà văn Phan Khôi thì ông bình vôi hỏng được bà mẹ đặt lên trang thờ chứ không chịu bỏ đi.

          Khi ông bình vôi đói cũng tức là vôi đã hết, mẹ tôi mua vôi về dùng cái chìa vôi quệt vôi nhét vào miệng bình vôi cho ông bình vôi ăn.

Vào buổi tối, nhất thiết phải rút cái chìa vôi ra khỏi miệng ông bình vôi để có cái cho ông bình vôi thở mà ngủ cho yên giấc. Chuyện này được mẹ của nhà văn Phan Khôi cắc nghĩa rằng: Ông bình vôi linh lắm, đêm hôm có kẻ trộm, kẻ đạo “ông" sẽ mách cho mình, mà nếu để cái chìa vôi lấp cái miệng thì không mách được.

4. Nhuộm răng ăn trầu - cách làm đẹp của người xưa

Khi ăn trầu, răng lợi thường dính cốt trầu đen xỉn, nên đàn ông, đàn bà ở quê tôi đều đi nhuộm răng. Có được hàm răng đen bóng như hạt huyền là điều mơ ước của nhiều người.

Đầu tiên, người ta dùng than giã nhỏ cho vào một bọc vải nhỏ bằng ngón tay để chà răng cho sạch lớp men cũ, sau đó dùng quả lựu tươi thái nhỏ, sắc nước để ngậm thường xuyên trong hai ngày một đêm, kể cả khi ra đồng làm việc. Chỉ những lúc ăn, uống thì mới nhổ ra. Có nơi không có lựu thì dùng vỏ quả dừa tươi sắc nước ngậm thay nước lựu.

Ngậm xong dùng một thứ thuốc (được chế bằng cách cô đặc nước lựu sắc nói trên thành chất keo) để bôi lên răng trong một ngày đêm. Cuối cùng, người ta dùng thuốc rỏi là một loại bột màu hồng được bán nhiều ở chợ Gò Găng để chà lên răng cho đến kỳ đen bóng mới thôi. Từ lúc ngậm nước lựu đến khi chà thuốc rỏi, mỗi lần súc miệng, không súc bằng nước lạnh mà súc bằng nước mắm Gò Bồi để sát trùng và làm cho các loại thuốc không phai.

Với cách nhuộm này mà mẹ tôi cũng như nhiều cụ khác trong thôn, như: Mai Thị Năm, Mai Xuân Lang, Trần Thị Ba, Hai An, Sáu Tồn… giữ được hàm răng đen bóng trong hơn nửa thế kỷ.

Người ta quan niệm răng càng đen, càng đẹp, nhưng càng về sau, tục ăn trầu giảm dần, chỉ còn những bà cụ già; còn đàn ông thì chuyển sang hút thuốc ngon hơn. Vì thế, tục nhuộm răng, ăn trầu ở Bình Định càng về sau càng mất dần, và khi văn hoá phương Tây du nhập thì không còn ai nhuộm răng và cũng ít người ăn trầu, chỉ sót lại vài cụ bà đã trên bảy tám mươi tuổi.

M.T (Nguồn: Lá rụng buồn tênh, NXB HNV, 2015)