Đọc Thiên đường thơm rèm cửa nhà mình, NXB HNV, 2015 của Mai Thìn

Người góp hương đời từ rèm cửa nhà mình

(Đọc Thiên đường thơm rèm cửa nhà mình, NXB HNV, 2015 của Mai Thìn)

Hà Công Trường (Hội VHNT tỉnh Gia Lai)

 

Thơ là cửa sổ của tâm hồn với những gì vừa mới mẻ, vừa huyền diệu mà cũng đầy huyền bí của thế giới tâm hồn của cảm xúc trong những trường liên tưởng mới lạ và sự biến hóa của ngôn từ. Trong thế giới ấy, nhà thơ luôn phải đổi mới mình không chỉ về ngôn ngữ, tâm hồn mà phải đổi mới cả về tư duy, tránh lặp lại những lối mòn đơn điệu. Thơ như là “một thực thể sống” luôn nỗ lực hết mình để đi về phía trước. Và, dĩ nhiên trong cuộc chơi ấy nếu nhà thơ không thay đổi thì sẽ bị đào loại. Mai Thìn nhận rõ về điều ấy nên thơ anh luôn trong tư thế “động” – “động” để sẵn sàng với cuộc chơi, để thích nghi với dòng chảy cuộc sống. Thiên đường thơm rèm cửa nhà mình là cuộc “thiên di” của anh về thơ. Những liên kết văn bản lạ, những cấu trúc và thể loại thơ được sử dụng một cách đầy biến tấu, nhuần nhuyễn, sự va chạm của cảm thức. Tập thơ là những gạch nối, những liên tưởng bất ngờ, mới mẻ của tác giả về cuộc sống.

Với “Thiên đường thơm rèm cửa nhà mình”, Mai Thìn nhận chân cuộc sống từ những gì gần gũi, thân thương, nhỏ nhặt và bình dị nhất trong sự cài đặt giữa hư và thực, trong sự sắp xếp và xâu chuỗi của những mảnh ghép liên tưởng. Bằng cách đó nhà thơ hướng độc giả đến một cuộc sống đầy dung dị trong cái ồn ã của nhịp đời; một cái tôi dân dã trong một cách tân về thể loại vẫn nồng nàn, vẫn ăm ắp hơi thở quê nhà. Mai Thìn trong vai trò người kể chuyện, đã đưa người nghe đến với nhiều hình ảnh đất nước trên chuyến hành trình lãng du từ Nam chí Bắc.

1. Trong hành trình lãng du ấy, có nhiều chi tiết, đôi khi thoáng qua thảng hoặc nhỏ bé đến mức ta sẵn sàng bỏ qua nó. Nhưng Mai Thìn đã bắt chộp và xây dựng nên hình ảnh rộng lớn của đất nước từ những gì nhỏ bé nhất. Những chiếc lá ngô trên bãi sông Hồng cũng tạo nên dáng hình đất nước với sự sinh sôi nảy nở: gươm giáo đỏ phù sa Châu Thổ/ lụa là xanh lúa mới dậy thì/ những vân vi lượn dài đất nước/ thoảng đâu đây tiếng nói ấm nồng.

 Qua thơ Mai Thìn, chiếc lá ngô đã trở thành những thiếu nữ quần bò quần lĩnh mỏ quạ đuôi gà thắt đáy lưng ong với ánh thân thương/ môi mọng đỏ/ màu cổ trầu màu son phấn đậm chất tảo tần chung thủy của người phụ nữ Việt. Cái “hổn hển” mang đầy tâm thức phân tâm học trong đêm trăng bên bãi sông Hồng tạo nên một sức sống mới, tràn đầy sự thanh tân, sự tiếp nối trường tồn: “hổn hển trăng khuya/ những chiếc lá ngô trên bãi sông Hồng/ hát/ hát mãi bài ca sinh nở/ đất đai rùng mình đón nhận phù sinh” (Những chiếc lá ngô trên bãi sông Hồng). Trong bức tranh thiên nhiên ấy, cảm xúc như được thổi vào luồng sinh khí mới với cấu trúc thơ lặp liệt kê A và B “thêm” (một đứa con/ thêm làng thêm phố/ thêm tiếng chuông chùa/ bình minh sóng vỗ/lao xao trời chiều/vàng dáng Rồng Bay) tạo nên bức tranh sinh động về sự no ấm, phát triển phồn thịnh của một vùng đất truyền thống.    

Hình ảnh quê hương đất nước ngồn ngộn trong thơ Mai Thìn, trải suốt từ Nam đến Bắc và thật gần gũi thân thiết, như những (Bông cải ơi), hay bông lục bình tím như gương mặt em ngày nào rầu rầu mùa lũ rút (Lục bình), đến những hạt cát li ti (Cát ở Lý Sơn), hay những cánh hoa bời bời một giấc mơ ở Tây Bắc (Giấc mơ hoa ban trắng)... Bông cải nhỏ bé vào thơ anh cứ rực lên sự ám ảnh, sự nhớ thương đến khôn khuây. Nó là chiếc cầu nối để tâm hồn anh ngược về dòng kí ức đi tìm lại những tháng ngày đã qua, ở đó có tiếc nuối về lời chưa kịp nói với “em nhỏ bé em đẹp xinh” để rồi “mãi mãi rằm bông cải cha trồng đầu sông cuối bãi ngân ngân hoài tiếng vọng đất đai” (Bông cải ơi).

 Đất nước là những gì thân thuộc, những gì tạo nên tiếng ngân trong dòng cảm xúc của tác giả trước dư ba cuộc sống. Đêm ở Bến Tre anh nghe lòng thổn thức trước những mảnh đời lam lũ của những em bé bắt chuột bắt gặp ban chiều, rồi thốt lên câu hỏi đầy ám ảnh, nó như bóp nghẹt trái tim và khiến nhịp thơ chìm trong tĩnh lặng của thực tại. Cái tĩnh lặng của con người thơ Mai Thìn trong xúc động để rồi nhạy cảm đến mong manh “đêm Bến Tre/ nghe/ giọt mồ hôi/ trên đồng không kịp mát/ những em bé bắt chuột ban chiều/ không biết/ được bao nhiêu.” (Đêm Bến Tre). Bài thơ là sự liệt kê của hình tượng với những cảm xúc “lặng đi” trước sự thật của cuộc sống với đầy rẫy những nhọc nhằn khốn khó. Trong cuộc “thiên di” của mình, tác giả dừng chân bên Tiếng chuông Thành Cổ nơi một thời trở thành điểm ác liệt với máu và nước mắt. Cảm xúc của nhà thơ như nghẹn lại trong trầm tư giữa hiện thực và quá khứ, một quá khứ đau thương bi hùng để tiếng chuông như gõ thẳng vào tâm thức: “35 năm xanh ngắt chênh chao như tiếng gọi đò”. Một quen thuộc được nhận chân qua thế giới tâm hồn để trở thành một liên tưởng rất mới, rất lạ. Hình ảnh những người trai trẻ hiện ra mồn một, với những tương lai đang đợi chờ phía trước: “những thanh xuân chưa kịp quen xa mẹ chưa kịp hôn lên tóc người yêu tiếng chuông báo học phần mới mở bài toán nào dang dở trang thơ” (Tiếng chuông Thành Cổ). Không gọt giũa câu chữ, không làm xiếc ngôn từ, Mai Thìn đặt các ký tự của mình vào trong một trật tự của dòng cảm xúc để nó tự nảy mầm tạo nên những câu thơ chở đầy tâm sự và mang cảm giác ám ảnh đến “run” người: “đêm vượt sông 35 năm chưa tới bến ngọn đèn lô ông… ch ô ông… ngọn đèn không tắt các anh chưa về hoa đăng nở khôn nguôi (Tiếng chuông Thành Cổ). Những khoảng trắng thơ (lô ông… ch ô ông…) như những day dứt nghẹn ngùi làm nên những cộng hưởng vọng lại trong lòng người đọc.

2. Trong cuốn “Ngôn ngữ thơ” (NXB Văn hóa thông tin, 2001), Nguyễn Phan Cảnh viết: “Các văn bản thơ hiện đại… có thể gây ấn tượng bề bộn, không trau chuốt từ, nhưng thay vì sự không trau chuốt đó là những cấu trúc cú pháp được nhận thức một cách mỹ học”. Mai Thìn không dụng công vào lựa chọn ngôn ngữ nhưng lại đã dụng công rất nhiều trong các hình thức trình bày thơ và cấu trúc thơ, những cấu trúc thơ hình bậc thang hay những kiểu loại câu ngắn dài khác nhau tạo nên sự mới lạ cho thơ trong những trường liên tưởng khác lạ. Hãy đọc một đoạn trong bài "Trăng ở ngã ba Ba Đồng Lộc":

bông bồ kết chuyển mình

 lao xào dài

                        ai đang chải

hương của làng

                              hương năm xưa…

Ở những khoảng trống về hình thức kết cấu thơ đó, tác giả bỏ ngõ để cảm xúc và ngôn ngữ tương hỗ lẫn nhau tạo nên sự chơi vơi, sự giao thoa giữa hữu hình và siêu thực để rồi lưu giữ, rồi như lệ chảy vào trong với hình ảnh thơ ngân đọng về một vẻ đẹp bất tử: Trăng trắng lắm/ Ngã Ba Đồng Lộc/ bao nhiêu mùa vẫn đôi mươi. (Trăng ở Ngã Ba Đồng Lộc). Mai Thìn sáng tạo nên những hình ảnh đối chiếu trong thơ bằng cái nhìn của sự đồng diện, bằng sự liệt kê sự việc tiếp diễn trong không gian thơ.

anh đọc thơ tôi bằng một con mắt

 con mắt kia

               vô định phương trời” (Con mắt long lanh).

Cấu trúc thơ như một đứt gãy khiến người đọc mơ hồ nhận ra sự ngập ngừng, sự lưỡng lự trong tâm hồn nhà thơ, nó như một dự cảm, một dự báo trước, làm cho người đọc thảng thốt trước sự mất mát: “con mắt kia long lanh/ anh để lại chiến trường/ cùng đồng đội thắp lên giữ đảo” (Con mắt long lanh). Những nỗi đau, những mất mát của người trở về sau cuộc chiến và cốt cách của họ mới đáng khâm phục và trân trọng làm sao. Cốt cách ấy hòa vào dòng chảy của mạch sống hôm nay để hóa thành những suy ngẫm, những xúc cảm ngân lên trong từng con chữ bình dị của nhà thơ.

3. Ngự Thuyết trong bài viết “Thu về trò chuyện với thơ” đã viết: “Thơ tân hình thức (New Formalism) chủ trương đưa vào thơ sự đơn giản, trung thực của đời thường, giảm thiểu tu từ bóng bảy, loại bỏ những ẩn ý, những thông điệp cao siêu, sử dụng lối vắt dòng và lặp lại để thay vần điệu cũ…”. “Thiên đường thơm rèm cửa nhà mình” của Mai Thìn không phải thơ tân hình thức, nhưng là những câu chuyện được kể bằng thơ từ những chi tiết đời thường, những hình ảnh rất đỗi quen thuộc và gần gũi. Một Hà Nội thanh lịch với những cô gái thướt tha tà áo dài, tạo được dấu ấn trong người đọc qua liên tưởng lạ mà thật bình dị:

những trái bắp tròn như một nụ hôn

  đậu trên môi người con gái

  tóc dài

             váy

                      áo

                                dài

                                          bay…” (Hà Nội ngày không mưa).

Hình ảnh đọng mãi trong lòng người đọc không phải là một Hà Nội ngày không mưa mà là tà áo dài thướt tha trong gió, là những trái bắp tròn như một nụ hôn. Câu thơ được trình bày như vạt của tà áo dài phất phơ cuốn lấy hồn thi sĩ.

Trong một tâm thế khác, tác giả sử dụng hình thức thơ bậc thang với sự đứt gãy của nhịp thơ theo dòng cảm xúc tạo nên một Huế dịu dàng, tha thướt. Những chiêm nghiệm trong hành trình lãng du ấy như được nhà thơ gói ghém lại để “ưu tiên” cho một nét trầm của xứ thần kinh. Bước chân của người thơ ấy như chạm hờ vào trong hư thực của Hương Giang.

cầu Tràng Tiền

                            sáu vài

                                            mười hai nhịp

lỡ một nhịp rồi

                         không kịp chuyến tàu trưa

                                                              (Huế và em)

Trước bộn bề của cuộc sống, Mai Thìn chọn cho mình những bước đi đầy chiêm nghiệm trong cấu trúc thơ “nhảy bước” để định vị mình trong mạch kí ức hành động, để giao cảm với đời và tiếp nối những hành trình cuộc sống.

giữa bao nhiêu bờ bến

 Huế và em

                    và một nhịp

                                          Tràng Tiền… (Huế và em).

Sự ngắt dòng trong một gấp khúc như hữu tình, như vô ý bên cạnh đó với những khoảng trống trong thơ tạo nên một kí ức động, ngập ngừng chờ mong, một dùng dằng như chẳng đặng đừng.

Theo nhà nghiên cứu Đỗ Lai Thúy “ở thơ, ngôn ngữ, đúng hơn sự tổ chức ngôn ngữ, chính là nghệ thuật của bài thơ. Vậy, để có thể nhớ được ngôn ngữ thơ phải độc đáo, thậm chí “quái đản”. Thơ là sự dồn ép ngôn ngữ. Làm thơ là một ứng xử ngôn ngữ”. Với tập thơ này, tác giả Mai Thìn đã để những con chữ của mình dồn ép tạo nên nhịp thơ nhanh, ngôn ngữ cứ ngồn ngộn hình ảnh để tự mình hình thành dòng chảy trong những câu thơ dài, làm nên những bài thơ văn xuôi hóa (Bông cải ơi, Buổi tối bên bờ sông Châu Đốc, Giữa thủ đô nghe tiếng khèn Tây Bắc, Giấc mơ hoa ban trắngv.v). Sự kết hợp nhuần nhuyễn của thể thơ văn xuôi, kết cấu liệt kê, hình thức, cách trình bày xen với khoảng trống và sự ngắt nhịp đầy bất ngờ trong những câu thơ tạo nên một “Thiên đường thơm rèm cửa nhà mình” khoáng đạt, với những kết nối đa diện, đa chiều hơn trong cuộc sống.

Nhờ vận dụng nhuần nhuyễn các cấu trúc, hình thức và thể loại thơ, Mai Thìn đã dựng nên một câu chuyện về đất nước đầy hình ảnh hiện thực, có lúc bi tráng, nhưng không kém phần hào hùng và lãng mạn. Ngôn ngữ bình dị, hình ảnh gần gụi thân thương đã góp phần không nhỏ cho sự thành công của tập thơ.

H.C.T

 

(Nguồn: Tạp chí Văn nghệ Bình Định, số 52, tháng 8.2017)