QUẢ THỊ QUÊ NHÀ

By Gã Phu Xe bất tử (Mai Thìn)

QUẢ THỊ QUÊ NHÀ

Tản văn của Mai Thìn

 

Chiều nay lên cơ quan, mới mở cửa phòng thì một mùi thơm òa ra, nghe thân thương và dịu mát. Mùi của quê hương tuổi nhỏ có sức quyến lạ thường, làm dịu mát cả không gian đang nắng nóng, dịu cả những căng thẳng, bon chen của một cuộc họp vừa kết thúc.

 

Vứt bỏ mọi thứ, tôi thần người ngắm nghía. Cái màu vàng quen thuộc, mọng tươi đến nõn nà. Cái hương thơm đến lạ, hít hà mãi vẫn không no. Quả thị ai để đó, vừa chất phác, hiền lành, vừa đài cát xinh tươi trong một lớp vỏ tinh tươm mà cũ kỹ của người quê có truyền thống giáo dục và tự trọng. Hương thơm ấy không nói nhiều, mảnh nhẹ và loang loang, nhưng đã gợi cho tôi bao nhiêu là chuyện của quê hương, chuyện của làng của xóm, chuyện của ngày xưa và hôm nay…

 

Là một vùng bán sơn địa, nhiều sỏi đá, nên quê tôi có nhiều thị, mà là những cây thị to, tán rợp một góc làng. Đây thường là nơi tụ tập của đám trẻ con những trưa hè. Tôi còn nhớ cái gốc thị ven đường ở xóm dưới là quán cắt tóc của ông Năm Tân. Nói là quán cho oai, chứ chỉ là một chiếc ghế đẩu nhỏ đặt dưới cây thị sum sê và một hòm đồ nghề đã lên nước đen bóng. Chừng năm ba bữa, quán mới mở một lần, nhưng lần nào cũng đông khách, không đến hớt tóc thì cũng đến để tán chuyện. Rồi gánh đậu hũ, gánh xu xoa của bà Năm Dổng, bà Bảy Đậu chuyên bán, đổi lúa cũng ghé vào. Người hớt tóc cứ hớt, người ăn đậu hũ cứ ăn, nhưng những câu chuyện thì không bao giờ dứt…

 

Nhớ nhất là chuyện “bể dĩa” của đoàn hát bội Phù Cát trong đêm diễn ở quê. Hôm ấy, không biết chuẩn bị thế nào mà đến đoạn Đổng Kim Lân biệt mẹ, diễn viên đóng vai Đổng Kim Lân lại trượt chân ngã lăn trên sân khấu, mặt đập vào thành ghế, máu mũi, máu miệng chảy ròng ròng khiến khán giả một phen hoảng hồn. Cú trượt chân ấy, tìm rõ nguyên nhân là bởi tại cái hột thị đứa nào ăn rồi ném lên sân khấu, để cho Đổng Kim Lân mang hia dẫm phải mà ngã lộn nhào. Nhưng đó cũng chưa là nguyên nhân chính. Nghe bảo hôm sau, ông bầu của đoàn hát còn phát hiện trên trang tổ của đoàn một quả thị mọng vàng, hương thơm ngát. Đây là việc tối kỵ mà các gánh hát bội rất kiêng sợ, bởi tương truyền, tổ hát bội vốn rất mê thị, nhất là mùi hương của nó. Hễ gặp phải hương thị thì cụ mê đến nỗi bỏ bê cả việc hát xướng, làm cho đêm diễn không gãy giáo, đụng gươm thì cũng bươu đầu mẻ trán như trường hợp Đổng Kim Lân trong đêm diễn nói trên. Chính vì thế mà mùi thơm của thị đã thẩm vào văn chương, ca dao, hò vè của vùng đất này:

 

                          Ngó vô vườn thị thơm thanh

                Thị thơm mược thị bụng em thành thời thôi.

          Tuổi nhỏ chúng tôi ắp đầy bao kỷ niệm nơi thôn dã, trong đó có những quả thị vàng tươi. Màu vàng ấy còn là màu của lá chuối già, màu của rơm rạ, quê hương. Những quả thị ủ trong máng rơm chín vàng, dù hương thơm mát lạnh, nhưng vẫn không thoát hết được cái mùi hương rơm rạ cũ. Quả thị trên bàn làm việc của tôi chiều nay quyện lẫn cả hai mùi hương ấy. Vì thế mà ùa về một cảm xúc nhớ quê, nhớ rạ nhớ đồng, nhớ những mùa thị chín…

Mùa thị chín thường cũng là mùa thu hoạch của vụ hè thu. Sắc vàng của thị chín góp thêm cho cái màu vàng gần như chủ đạo của bức tranh quê mùa gặt. Trong góc vườn, lấp loáng những quả thị vàng tươi xen với sắc xanh của lá. Bên dưới là rơm rạ vàng khô, ngoài đồng nhiều thửa ruộng chín tới đang chờ người gặt hái. Trên sân, vàng óng từng đụn lúa vừa tuốt, nằm phơi mình trong nắng. Những chú gà con lon ton nhặt thóc bên mẹ gà vàng mơ… Mùa này, bịch lúa nhà tôi thường ngát hương thị chín. Những quả thị hườm hườm được hái sớm phòng dơi ăn trộm, chỉ một đêm trong bịch lúa là chuyển vàng ươm, toả hương thơm nức mũi. Sáng nào đi học, tôi cũng moi ra vài quả cất trong cặp để mang đến lớp làm quà cho tụi bạn ở thị trấn. Thế là giờ học văn của cô Ái, quả thị đã trở thành đề tài sôi nổi cho cả lớp tham gia…

 

Quả thị chín, cơm vừa thơm vừa ngọt, nhưng lúc còn non thì vỏ xanh, cơm chát, chỉ có hạt thì trắng mềm. Chúng tôi thường đem rửa muối cho bớt chát rồi chia nhau nhai nghe dai dai sừng sực như cùi dừa già vừa khô vừa cứng. Cha tôi vẫn thường nhặt hạt thị rửa sạch, phơi khô, rang cháy, để dành hãm với nước trà mà uống, vì nó có chất bổ dưỡng, kích thích sinh trưởng, chống lão hoá. Hồi ấy trên vách đất đầu hồi, cạnh tấm phản gõ, nơi tôi dùng làm bàn học, thường dán đầy những ngôi sao vàng sậm được xé từ vỏ của quả thị. Vỏ thị dai mềm. Chỉ cần dùng dao khía vào vỏ quả thị chín thành năm cánh, rồi lột ra là có một ngôi sao, dán trên vách đất cho khô, để dành làm vị thuốc trị bệnh giời bò, một bệnh ngoài da rất phổ biến trong đám trẻ con nông thôn thời đó. Chỉ cần gỡ cái “ngôi sao” vỏ thị đã khô đem đốt thành than, hoà với dầu phộng mà bôi lên chỗ giời bò vài lần thì sẽ liền da thắm thịt.

 

Thuở nhỏ ở quê, rất hiếm khi được ăn kem, ăn kẹo như trẻ nhỏ bây giờ. Thường là mùa hè, dăm bữa nửa tháng, nghe tiếng leng keng của ông bán cà – rem, hoặc kẹo kéo từ  đầu thôn là cả đoàn, cả lũ chạy ra nhìn. May hôm nào mẹ cho được đồng bạc cắc thì mua một que mà mút. Trông bọn trẻ nhà giàu mút kem, chúng tôi cũng lấy thị ra mà mút. Chỉ cần bóp cho mềm đều quả thị chín tới rồi cắn một lỗ nhỏ, rồi vừa mút vừa nặn thì cơm thị tuồn vào mồm cũng ngon cũng ngọt, nhưng chắc chắn… không bằng kem!

Lá thị xanh, theo kinh nghiệm dân gian cũng là một vị thuốc, được dùng rất phổ biến. Riêng gỗ thị, được cho là dai nhất trong ba loại cây ở nông thôn miền Trung: “Xoài giòn, mít dẻo, thị dai”. Vì vậy cùng với mít, gỗ thị thường được dùng để chạm trổ các bộ phận tinh xảo trong nhà lá mái, hoặc làm cột, kèo – những bộ phận rường cột trong ngôi nhà. Đặc biệt, lõi của cây thị thường có hình nhân, nên gần đây các tay chơi gỗ lũa còn sưu tầm được nhiều mảnh ván thị có lõi vân vi như những bức tranh nghệ thuật độc đáo của thiên nhiên.

Bọn trẻ chúng tôi thì thường chọn những cành thị vừa tầm để đẽo những cái vụ. Nhờ gỗ thị mềm, dẻo, lại có màu trắng, nên vụ đẽo từ cây thị thường được chuốc cho láng và chạy rất êm.

Suốt bao đời, cây thị gắn bó với người dân quê tôi, nó che chở, bao bọc, điểm tô cho cuộc sống người nông dân đỡ phần vất vả thiếu thốn. Vì thế cây và người, người và cây đã trở thành mối quan hệ láng giềng không thể thiếu trong cuộc mưu sinh.

 

          Hồi kháng chiến chống Pháp, nhiều cây đa và cây thị trong các làng không chỉ là nơi hội họp của tổ chức Việt Minh, mà còn là những trạm canh phòng rất hiệu quả. Ông Trần Đình Trắc [1], quê ở làng Tri Thiện, xã Phước Quang, Tuy Phước kể, làng Tri Thiện của ông có cây thị cao gần 30 mét, và cây đa cầu Tống Võ ở làng An Hòa kế bên từng là những điểm canh phòng của dân quân du kích địa phương thời kháng chiến chống Pháp. Trên mỗi ngọn cây cao nhất làng, người ta treo những cái bồ đan bằng tre, bên ngoài cột những dải vải có màu sắc sặc sỡ dài hàng chục mét để người từ xa có thể nhìn thấy. Hàng ngày cắt đặt một người trèo lên cây cao quan sát, nếu thấy địch đổ quân, đi càn thì liên tục kéo bồ lên, giật cái bồ trên ngọn cây cho mọi người cùng biết. Đó là cách truyền tín hiệu cho các trạm canh phòng khác liên tục báo động về căn cứ của quân ta.

 

          Cây thị làng Tri Thiện giờ vẫn còn, như một chứng nhân của lịch sử, nhưng cây đa cầu Tống Võ ở làng An Hòa thì đã bị bán cho một lò gạch cưa làm củi đun gạch từ lâu.

          Cũng theo ông Trần Đình Trắc và nhiều cụ cao niên khác thì ngày xưa không phải làng nào cũng được trồng thị, mà chỉ những làng tiêu biểu (gần giống như làng văn hóa cấp tỉnh thời nay), nơi có các bậc tiền hiền, hoặc những nhà khoa bảng đỗ đạt cao mới được trồng thị. Không biết điều đó có đúng không mà cây thị trong vườn nhà ông Trùm Sáu ở làng tôi, cách Văn Miếu Bình Định chừng hai trăm mét, từ lâu được xem là cây thị “cao niên” nhất làng. Cây thị ở thành Cha, xã Nhơn Lộc, huyện An Nhơn cũng đã trên 300 năm tuổi; rồi cây thị ở đình Cẩm Thượng, Tp. Quy Nhơn, một di tích đang được đề nghị xếp hạng di tích văn hóa cấp tỉnh cũng được mọi người tôn vinh. Và cây thị làng Tri Thiện của cụ Trần Đình Trắc, thuở xưa chắc chắn đã chứng kiến bao thăng trầm của thị tứ Nước Mặn, một thị tứ tụ hội khá đông thương nhân người Hoa, và là nơi “đô hội” của Bình Định thuở ấy.

          Ngày nay, trên cả tỉnh Bình Định những cây thị như trên chỉ còn đếm trên đầu ngón tay, nhưng chuyện kể về nó, ký ức quanh nó thì vẫn luôn được dân gian nhắc tới như những bậc “Tiền hiền” của làng của xã.   

          Cây thị đã hoá thân thành những tên đất, tên làng, những địa danh đi vào sử sách: Xóm Cây Thị, chợ Cây Thị, cầu Cây Thị… Riêng nhà thờ Gò Thị (còn có tên gọi Xuân Phương) ở Phước Sơn, Tuy Phước từ lâu đã là một nhà thờ lớn. Cùng với nhà thờ Nước Mặn, nhà thờ Gò Thị là một trong những nhà thờ lớn của cả khu vực miền Trung. Hồi ấy hẳn phải có một hay nhiều cây thị to toả bóng mát cho nhà thờ, cho những giáo dân đi lễ lấy chỗ mà trú nắng, trú mưa. Những cây thị ấy hẳn phải gắn bó, gần gũi như một biểu trưng cho cả vùng mới được lấy tên mà đặt cho nhà thờ.

          Giờ đây, mỗi lần đi qua nhà thờ Gò Thị, lòng tôi chợt ngậm ngùi khi chẳng thấy bóng thị đâu. Tâm trạng ấy cũng giống như khi đứng trước hiên nhà dõi về góc vườn nơi chái tây. Cây thị ngày xưa vẫn đứng đó, reo vui cùng gió, rộn tiếng chim kêu… giờ đã không còn nữa.

Hiện nay ở Bình Định, số cây thị “lên lão” chỉ đếm trên đầu ngón tay, như cây thị trên 500 tuổi ở gần thành Cha, Nhơn Lộc, An Nhơn, hay cây thị ở đình Cẩm Thượng (số 354 Trần Hưng Đạo, Tp. Quy Nhơn), và một số cây còn rải rác ở các huyện xa… Phần lớn thị đã bị chặt, bị cưa và đốn ngã không thương tiếc.

Cũng giống như những người già của quê, lần lượt ra đi theo quy luật của lẽ tử sinh, nhưng thị lại khác con người. Nó cứ bị mất dần, mất dần mà không hề được tái sinh theo qui luật ấy. Tưởng đã không còn nữa trong tâm trí xô bồ và quyết liệt của cuộc mưu sinh thời hiện đại, nhưng, may sao chiều nay… Cảm ơn em, quả thị quê nhà!                                              

M.T                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                         

c trò và là con rể của cụ Hà Trì Trần Đình Tân (1893 – 1979), người làng Cảnh Vân, Tuy Phước, đỗ cử nhân năm Ất Mão (1915)  đời Duy Tân, làm Thương tá Tỉnh vụ tỉnh Ninh Thuận, hàm Tùng Tam phẩm (3-2)

More...

MẤY GHI NHẬN TỪ HỘI NGHỊ NHỮNG NGƯỜI VIẾT VĂN TRẺ TOÀN QUỐC LẦN THỨ 5- 1998

By Gã Phu Xe bất tử (Mai Thìn)

Cuối năm dọn dẹp tư liệu thấy bài này. Đưa vô đây để "ôn cố tri tân":
 

MẤY GHI NHẬN TỪ HỘI NGHỊ NHỮNG NGƯỜI VIẾT VĂN TRẺ TOÀN QUỐC LẦN THỨ 5- 1998

                                                                  

                                                                 Mai Thìn

Trong những ngày cuối tháng 8 thủ đô Hà Nội như càng nóng bỏng sôi động hơn bởi Tiger cúp 98 và cuộc gặp mặt của hơn 150 đại biểu trong cả nước về dự Hội nghị những người viết văn trẻ (NNVVT) toàn quốc lần thứ 5.


         
Đã nhiều lần ra Hà Nội nhưng chuyến đi này đối với chúng tôi thật vui và đầy ấn tượng. Can rượu Bàu Đá 5 lít đã "bốc hơi" sạch ngay trong đêm đầu tiên ở khách sạn La Thành mà "đối tác" là bịch tôm rang của Trần Hồng Long- tác giả vừa đoạt giải cây bút vàng 98 ở Sóc Trăng sau đó là chai "Thăng Long" của Nguyễn Quyến (Hà Nội) chai nếp mới của Phan Bùi Bảo Thi (Quảng Trị)...cũng hết veo.

More...

MONG LẮM NHỮNG CÁNH DIỀU

By Gã Phu Xe bất tử (Mai Thìn)

  

Vì thế bây giờ về quê không còn nghe tiếng trẻ em vui cười chạy nhảy trên đồng như xưa mà chỉ lầm lũi những bóng mẹ bóng chị những cụ ông cụ bà với đàn bò với thửa ruộng. Hầu như không còn những buổi tắm sông những đêm u quạ giựt cờ dưới trăng... Và trò chơi thả diều ở quê giờ như đã đi vào quên lãng. Đồng bãi vẫn vậy gió vẫn vậy nhưng tiếng sáo diều tiếng cười của trẻ thơ và bóng dáng trai làng thì thưa vắng.

More...

NHẠC SĨ DÂN HUYỀN VỚI "MÙA XUÂN QUI NHƠN - MÙA XUÂN BÌNH ĐỊNH"

By Gã Phu Xe bất tử (Mai Thìn)


 

NHẠC SĨ DÂN HUYỀN VỚI 
"MÙA XUÂN QUI NHƠN - MÙA XUÂN BÌNH ĐỊNH"


Nhạc sĩ Dân Huyền tên thật là Phạm Ngọc Dần sinh năm 1938 quê ở huyện Hưng Nguyên tỉnh Nghệ An. Nhắc tới ông nhiều người nhớ ngay đến những ca khúc nổi tiếng: "Bên lăng Bác Hồ" "Lắng tiếng quê hương" "Duyên quan họ"... NS Dân Huyền còn là người có nhiều "duyên nợ" với Quy Nhơn Bình Định qua ca khúc Mùa xuân Quy Nhơn- mùa xuân Bình Định được ông viết ngay trong ngày Quy Nhơn giải phóng. Năm 2004  maithin đã có cuộc trò chuyện với  nhạc sĩ Dân Huyền về bài hát này. Post lên để chào mừng 35 năm giải phóng Quy Nhơn!

More...

TANG THƯƠNG CÙNG LŨ DỮ

By Gã Phu Xe bất tử (Mai Thìn)

Preview Preview Preview Preview
Và đau lòng nhất là trẻ em sau mấy ngày bão lũ rồi cũng đến trường nhưng không có sách vở. Em nào cũng buồn so áo quần xộc xệch. Liệu các em có nghe và có hiểu những điều cô giáo giảng hay tâm trí còn chưa hết bàng hoàng về những gì đã chứng kiến trong mấy ngày qua.

Nhìn ánh mắt của các em tôi chợt nhớ đến tuổi thơ của mình thời chiến tranh loạn lạc. Cũng nhà tan cửa nát tang thương xóm làng... Nhưng nay kẻ thù đã bị đánh đuổi đất nước hết ngoại xâm mà ánh mắt của các em thơ không hết bàng hoàng bỡi bão tràn lũ dữ một thứ giặc kinh hoàng không có tiếng súng bom.

More...

Quả thị quê nhà

By Gã Phu Xe bất tử (Mai Thìn)

  QUẢ THỊ QUÊ NHÀ

                                                          Tản văn của Mai Thìn

Chiều nay lên cơ quan mới mở cửa phòng thì một mùi thơm oà ra nghe thân thương và dịu mát. Mùi của quê hương tuổi nhỏ có sức quyến lạ thường làm dịu mát cả không gian đang nắng nóng dịu cả những căng thẳng bon chen của một cuộc họp vừa kết thúc. Vứt bỏ mọi thứ tôi thần người ngắm nghía. Cái màu vàng quen thuộc mọng tươi đến nõn nà. Cái hương thơm đến lạ hít hà mãi vẫn không no. Quả thị ai để đó vừa chất phát hiền lành vừa đài cát xinh tươi trong một lớp vỏ tinh tươm mà cũ kỹ của người quê có truyền thống giáo dục và tự trọng. Hương thơm ấy không nói nhiều mảnh nhẹ và loang loang nhưng đã gợi cho tôi bao nhiêu là chuyện của quê hương chuyện của làng của xóm chuyện của ngày xưa và hôm nay...

More...

NGHĨA TÌNH TRÊN CÙ LAO XANH - Ký Mai Thìn

By Gã Phu Xe bất tử (Mai Thìn)


  Preview Preview Preview Preview

Giữa tháng bảy tháng của nhiều hoạt động tri ân những người cống hiến máu xương cho Tổ quốc chúng tôi đã có dịp tháp tùng với Ban Tuyên huấn BCH Quân sự tỉnh Bình Định và đoàn Văn nghệ sĩ (VNS) Chi hội Văn học thuộc Hội VHNT tỉnh đi thực tế sáng tác ở xã đảo Nhơn Châu TP.Quy Nhơn. Hòn đảo mang tên Cù Lao Xanh đang gánh trên mình bao nghĩa tình sâu nặng.

More...

BÃI SOI NGÀY CŨ - Tản văn của Mai Thìn

By Gã Phu Xe bất tử (Mai Thìn)

 Preview Preview Preview

Bãi soi ngày cũ là thế nhưng giờ cuộc "bể dâu" đổi khác. Hàng tre mát rượi trưa hè đầy tiếng chim kêu cu gáy giờ đã  hoàn toàn biến mất. Thay vào đó là một bờ kè chắn sóng bằng bê tông cốt sắt nằm im lìm trong nắng; đến cỏ cũng không muốn mọc lên chỉ vài cây lá gai lúp xúp chen giữa những mạch bê tông bị vỡ nứt. Toàn bộ đám ruộng dưới đám trên và cả đám sâu có đến ba cái sòng tát nước từng thấm đầy mồ hôi qua từng vết chân của mẹ tôi anh tôi giờ đã phủ băng đầy cát là cát. Những đụn cát phũ phàng xoá sạch mọi dấu vết của tuổi thơ xoá sạch hình ảnh cha tôi vất vả sau đôi bò đực tơ kéo cát xoá cả tiếng gọi tình của những con chim dồng dộc nghe khản lòng những lúc mùa sang.

More...

TẢN MẠN TÂY BẮC

By Gã Phu Xe bất tử (Mai Thìn)

  Preview
(Mai Thìn - Áo trắng trên QL 6 cách Tuần Giáo 14 km)

                                        LANG THANG ĐẠI CÔNG TRƯỜNG TÂY BẮC
 

Ghi chép. Mai Thìn


Trước lễ kỷ niệm 55 năm chiến thắng Điện Biên Phủ chừng hai tháng Hội Nhà Báo Bình Định đã có chuyến đi thực tế một số tỉnh miền Tây Bắc của Tổ quốc. Tham gia hành trình này điều quan tâm lớn của tôi là hoa ban Tây Bắc là Điện Biên Phủ là Nhà ngục Sơn La... cùng những cung đường những địa danh lịch sử văn hóa gắn liền với bao sự kiện lớn lao kỳ vĩ của dân tộc trong tiến trình phát triển của đất nước.


Từ ba loài hoa đặc trưng

More...

NHỮNG BÀ MẸ XỨ DỪA

By Gã Phu Xe bất tử (Mai Thìn)

  Preview
(maithin - đầu tiên bên phải - đi xe  ngựa với thà thơ Yến Lan - bìa trái)

NHỮNG BÀ MẸ XỨ DỪA
  

          

Trong cuộc đời làm báo tôi đã nhiều lần hành hương về vùng đất của rừng dừa xanh mát nơi từng là chiến trường chính của quân và dân Bình Định trong đợt tiến công giải phóng các huyện đồng bằng. Hoài Nhơn!  Tên đất ấy là tiếng gọi của bao hoài vọng  về chân thiện mỹ; là nỗi khát khao của sự hoàn thiện  không ngừng.            

Hoài Nhơn bây giờ là dải đất xanh vườn tốt ruộng. Những làng xóm thanh bình dưới bóng dừa xanh những đồng lúa vườn bòng như ngày càng xanh thêm  trong làn nắng mới. Sự trù phú  ngọt ngào ấy  đã tạo cảm giác mời gọi níu kéo và làm cho ta  khó hình dung được  nơi đây trước kia lại là vùng đất  bị  chiến tranh huỷ diệt. Biết bao anh  hùng liệt sĩ đã ngã xuống mảnh đất này. Giờ chiến tranh  đã đi qua 33 năm thế nhưng nỗi đau  của những bà mẹ mất con những người vợ mất chồng từng đêm vẫn còn nhức nhối  và không gì có thể xoa dịu  nổi!

More...