MAI TRƯỜNG SƠN 15.5.2011

By Gã Phu Xe bất tử (Mai Thìn)

MAI TRƯỜNG SƠN                                

Truyện ngắn Trần Quang Lộc

           Hoa mai nở sớm hoặc muộn tuỳ thuộc vào thời tiết của những ngày cuối đông và còn phụ thuộc vào thời gian lặt lá nữa.Có năm mới hai chín ba mươi tết hoa mai đã bắt đầu tàn. Cũng có năm đến mùng một mùng hai Tết hoa mai vẫn chưa kịp nở. Riêng cây mai vàng trước cửa nhà tôi năm nào cũng  vậy: lác đác ra hoa đúng vào những ngày giáp Tết nở rộ trong đêm giao thừa mùi hương thanh khiết ngọt ngào lan tỏa cả một vùng. Thêm một đặc điểm nữa cây mai nhà tôi ra hoa suốt cả mùa xuân. Thường vào khoảng cuối tháng giêng âm lịch mai các vùng khác đã lụi tàn dồn sức cho cây đâm chồi nẩy lộc riêng cây mai nhà tôi vẫn tiếp tục nở hoa cánh vẫn to khỏe vàng rực và hương thơm ngan ngát. Dân chơi mai sành điệu cho là giống mai quý hiếm và nhiều người xin hạt về nhân giống nhưng họ bị thất bại vì những cây mai thế hệ sau không có những đặc điểm của cây mai nhà tôi. Rốt cuộc họ bảo cây mai được trồng chỗ đất tốt nên có những tính cách độc đáo mai các vùng khác không theo kịp.

          Tôi quý cây mai không chỉ riêng hoa mà cả cái thế cây nữa. Dáng mai thanh thoát uyển chuyển như dáng vẻ của một cô gái dịu dàng quý phái. Rảnh rỗi tôi dành nhiều thời gian cho việc chăm bón tưới tiêu do vậy mà cây mai nhà tôi phát triển xanh tươi hơn hẳn mai của các nhà vườn chung quanh. Cây mai vàng đã trở thành người bạn thân thiết của tôi không biết từ lúc nào.

          Mùa hè năm ấy do công tác đột xuất nên tôi phải tạm xa nhà hơn 3 tháng. Trước khi ra đi tôi căn dặn Ngọc Yến em gái tôi phải thay tôi chăm sóc cây mai chu đáo. Tôi rất tin Ngọc Yến vì nó cũng quý hoa mai như tôi vậy.

          Xong công việc tôi trở lại nhà. Về đến cổng ngõ tôi bàng hoàng thảng thốt khi trông thấy cây mai vàng đã trụi lá thân và cành cây xám xịt như một bộ xương khô. Quên cả chuyển đồ vào nhà tôi đứng thẩn thờ bên gốc mai trong tâm trạng bùi ngùi luyến tiếc. Em tôi cố giải thích để tôi tin rằng nó đã chăm sóc hết mực nhưng cây mai vẫn cứ tiếp tục lụi tàn và cuối cùng... hết phương cứu chữa!

          Cuối thu nhìn thân mai khẳn khiu giữa tiết trời giá rét mà thấy nhói lòng. Tôi chợt nảy ra ý định đào lấy gốc mai đẽo gọt thành món đồ mỹ nghệ để làm vật kỷ niệm. Tôi rất có khả năng về lĩnh vực này. Nghĩ vậy nên anh em tôi mang cuốc xẻng ra bắt đầu đào bới. Nhờ lớp đất tơi xốp nên công việc của chúng tôi không mấy khó khăn mặc dù rễ mai cứ ăn sâu vào lòng đất ẩm. Sau một lúc làm việc khẩn trương gốc mai vàng bỗng bật rễ lôi theo một khúc xương xám xịt! chúng tôi định thần nhìn kỹ đó là một khúc xương người loại xương cánh tay nhỏ nhắn. Việc xảy ra bất ngờ nên chúng tôi nhìn nhau kinh ngạc! Ngọc Yến vội bỏ xẻng đứng lên tuyên bố sẽ không tiếp tục giúp tôi được nữa. Riêng tôi vốn có óc tò mò và làm bất cứ việc gì cũng đến nơi đến chốn. Tôi không thể bỏ cuộc giữa chừng. Sau  khi nhổ bật gốc mai để dạt qua một bên tôi tiếp tục thận trọng đưa từng nhát xẻng vào lớp đất tơi xốp và tự nghĩ mình đang làm một việc thiêng liêng đối với người đã khuất mặc dù chưa biết người ấy là ai. Sau nửa tiếng đồng hồ khai quật một bộ xương người còn nguyên vẹn hiện ra trước mắt chúng tôi. Là một giáo viên sinh học Ngọc Yến khẳng định đây là hài cốt của một phụ nữ có thể một cô gái còn đang rất trẻ. Đang phân vân trước lời phỏng đoán bỗng Ngọc Yến cho biết có một vật gì đó lấp lánh trên khúc xương cổ của hài cốt. Tôi vội cuối xuống quan sát và phát hiện ra một sợi dây chuyền vàng tây mặt hình vuông. Tôi thận trọng tháo sợi dây chuyền vàng ra khỏi bộ xương lau sạch xem kỹ. Trên mặt vuông của sợi dây có chạm nổi hai chữ "Xuân Mai". Lúc này tôi có cơ sở để tin rằng đây là hài cốt của một cô gái mang tên Xuân Mai và hình như có một sợi dây thiện cảm nào đó đang nối liền giữa tôi với người con gái đã khuất.

          Để tránh mọi phiền phức có thê xảy ra tôi cho người đi mời đại diện chính quyền địa phương đến chứng kiến việc làm của chúng tôi. Sau khi quan sát hiện trường ông ta giải thích trước giải phóng đây là vùng đất hoang rải rác mồ vô chủ. Sau giải phóng dân các nơi tụ tập đến san bằng để xây nhà cửa vườn tược. Vì vậy mồ mả bị mất sạch. Nếu cái nào còn sót lại thuộc khuôn viên của ai thì hộ đó phải có nghĩa vụ bảo quản hoặc tự cải táng.

          Để làm tròn bổn phận tôi lo mua sắm đầy đủ các dụng cụ cần thiết cho việc cải táng rồi thuê người chuyển hài cốt đến góc vườn nhà tôi một vị trí yên tĩnh sạch sẽ thoáng mát. Việc cải táng tuy đơn giản nhưng trang nghiêm đủ các nghi lễ cần thiết. Ba hôm sau tôi thuê thợ vôi đến xây ngôi mộ giản đơn mà xinh xắn và cho khắc dòng chữ: "Phần mộ: Xuân Mai cải táng ngày ... tháng ... năm ...". Riêng sợi dây chuyền vàng tôi lau rửa sạch sẽ cất kỹ làm vật lưu niệm. Một cây mai vàng khoẻ khoắn cũng được thế vào vị trí của cây mai trước đó.

          Tôi nghĩ bụng mọi việc rồi sẽ đi vào lãng quên. Sau chiến tranh kẻ còn người mất ai quan tâm đến một nấm mồ vô chủ?! Nơi cõi vĩnh hằng người con gái vắn số chắc không còn buồn tủi vì đã có mồ yên mả đẹp hương khói quanh năm. Nghĩ vậy nên lòng tôi rất thanh thản!

          Cũng vào năm ấy để hưởng ứng phong trào làm kinh tế VAC của Chính phủ tôi thuê người trồng mai trên khu vườn nhà rộng trên một sào. Sau ba năm khu vườn nhà đã có trên ngàn gốc mai đủ cỡ đủ loại; trong chậu có ngoài đất cũng có. Hằng năm vào những ngày giáp tết mai nhà và các vườn bên cạnh nở vàng rực hương thơm lan tỏa. Dân từ các nơi đổ xô đến mua hoa sỉ có và lẻ cũng có xe cộ dập dìu   làng tôi vui như ngày hội lâu dần thành lệ. Dân làng tôi quen gọi: Hội mai xuân.

          Vào một buổi sáng đầu xuân đẹp trời tôi đang đọc báo trong phòng khách bỗng  nghe có tiếng người nói thì thào phía trước sân. Qua khung cửa sổ tôi bắt gặp  hai người đàn bà tuổi trên bốn mươi. Một người có dáng vẻ giàu sang quý phái khuôn mặt thanh tú. Người còn lại nước da hơi xanh nhưng khuôn mặt rất có duyên. Hình như họ đang trao đổi một việc gì đó rất hệ trọng. Người đàn bà có nước da xanh nói giọng Bắc. Chị ta vừa quan sát khu vực chung quanh sân nhà vừa nói những câu gì đó nghe không rõ. Người còn lại hình như đang mang một tâm trạng lo lắng buồn rầu. Dạo đó khu vực nơi tôi cư trú tuần nào cũng có nhân viên của Sở đất đai Sở Xây dựng hoặc của Công ty công chính đến ngắm nghía đo đạc vẽ sơ đồ. Vì vậy sự hiện diện của hai người đàn bà không làm cho tôi quan tâm. Lại có tiếng reo mừng từ ngoài sân vọng vào buộc tôi phải hạ tờ báo xuống lắng nghe:

          - Xuân Mai- Người đàn bà xứ Bắc nói giọng run run có lẽ vì quá xúc động - em đã tìm ra cái mốc rồi. Đây nầy là cây duối ngày xưa. Tuy đã bị phạt bằng nhưng còn để lại dấu vết. Nếu không xem xét kỹ khó mà phát hiện ra chị à.

          Người đàn bà giàu sang bỗng trở nên nhanh nhẹn nét mặt tươi vui.

          Người xứ Bắc nói giọng tự tin:

          - Em nhớ rất kỹ chị à. Từ gốc duối này đi về hướng tây khoảng sáu bước sẽ gặp mục tiêu. Miệng nói chân bước rồi đột nhiên dừng lại - Đúng là chỗ này rồi chị ạ!

          Hai người đàn bà đứng lặng người bên gốc mai vàng trước cửa phòng tôi đang thời nổ rộ!

          Linh cảm cho biết có một việc gì đó hệ trọng sắp xảy ra và có ít nhiều liên quan đến tôi. Tôi khẽ khàng mở cửa rời khỏi phòng. Nghe tiếng động nhẹ hai người đàn bà quay lại bối rối chào tôi trên nét mặt còn đọng lại một niềm vui lẫn nét buồn. Nhờ mấy câu giới thiệu tôi được biết: Người đàn bà có nước da tai tái tên Quỳnh Mai quê xứ Bắc. Người còn lại tên Xuân Mai người miền Nam.

         -Chị em tôi vào sân nhà anh nhưng chưa xin phép mong anh thứ lỗi.

          Như để thanh thủ thời gian Quỳnh Mai vội đi thẳng vào vấn đề:

          - Chị em tôi đang đi tìm hài cốt của một người bạn đã hy sinh cách đây gần hai lăm năm. Với từng ấy năm cảnh vật quá nhiều thay đổi. Chị em tôi cứ quanh quẫn nơi đây đã non tuần lễ. Hôm nay mới tìm được nơi yên nghỉ của Tiểu Mai đồng đội của tôi ngày xưa.

          Mặc dù đã đoán biết được phần nào sự việc nhưng tôi vẫn rất nhạc nhiên vì hai người đàn bà lại trùng tên với người đã khuất. Hơn nữa cái tên Tiểu Mai nào đó càng làm cho tôi thắc mắc khó hiểu.

          Để tránh sự nhầm lẫn đáng tiếc có thể xảy ra tôi thuật lại nguyên nhân cải táng một hài cốt về việc phát hiện sợi dây chuyền vàng rồi khẳng định người con gái vắn số có tên Xuân Mai chứ không phải Tiểu Mai  như Quỳnh Mai đã nói. Xuân Mai nhìn tôi bằng  đội mắt mọng nước:

          - Hài cốt anh đã cải táng đúng là của em tôi là đồng đội của Quỳnh Mai trong chiến tranh. Chúng tôi vô cùng cảm động về tấm lòng nhân hậu của anh đã giúp em tôi có chỗ nằm yên ổn.

          Tôi đưa hai người đàn bà ra sau vườn viếng mộ trong tâm trạng băn khoăn khó hiểu. Ngay trưa hôm đó hai người đàn bà cho tôi biết vài nét về Tiểu Mai.

          - Chúng tôi là hai chị em song sinh giống nhau như hai giọt nước. Tôi tên Xuân Mai em tôi tên Tiểu Mai. Năm mười bảy tuổi chị em tôi thi đỗ Tú Tài phần hai. Ba tôi thưởng cho mỗi đứa một sợi dây chuyền bằng vàng tây mặt dây chuyền có khắc tên mỗi đứa. Cũng trong năm đó Tiểu Mai lên Sài Gòn theo học Văn Khoa tôi tình nguyện ở lại giúp mẹ trông nom một cửa hàng lớn trong thành phố. Trước ngày Tiểu Mai lên Sài Gòn chúng tôi  trao đổi dây chuyền cho nhau. Điều đó không có gì là lạ hồi còn bé chúng tôi thường trao đổi đồ chơi cho nhau. Cuối năm thứ ba Văn Khoa Tiểu Mai tham gia tích cực vào các cuộc biểu tình của sinh viên chống chế độ Sài Gòn. Sau đó bị cảnh sát truy nã Tiểu Mai chạy ra vùng giải phóng tham gia hoạt động cách mạng. Từ đó Tiểu Mai không trở về nữa.

          Quỳnh Mai tiếp lời Xuân Mai bằng giọng sôi nổi đôi lúc cũng đượm buồn:

          - Năm ấy đơn vị thanh niên xung phong chúng tôi được bổ sung mười sáu đoàn viên thay chỗ cho những đồng đội vừa mới hy sinh. Họ đến từ khắp mọi miền đất nước. Trong số mười sáu lính mới có Tiểu Mai. Tiểu Mai rất thông minh vui tính có học thức và rất dễ làm quen. Chỉ trong tuần lễ đầu Tiểu Mai đã chiếm được cảm tình của chị em chúng tôi đến nổi lãnh đạo đoàn phải nhìn Tiểu Mai bằng đôi mắt tị hiềm. Do cùng tên chủ yếu là cùng chung tính cách nên tôi và Tiểu Mai rất thân nhau. Tình bạn đã giúp chúng tôi vơi bớt nổi nhớ nhà tăng thêm sức mạnh để vượt qua những khó khăn gian khổ của thời chiến tranh. Có những đêm trên đường đi chiến dịch chúng tôi ngồi cạnh nhau vừa trông ánh sao trời vừa kể cho nhau  nghe về quãng đời tuổi thơ về những kỷ niệm buồn vui của thời con gái nhiều mơ mộng. Đôi lúc chúng tôi rất tự hào vì đã  cống hiến tuổi thanh xuân cho lý tưởng. Nhưng cũng có khi lại cảm thấy ngậm ngùi cho số phận vì đã trót sinh ra trong thời ly loạn. Bọn con gái Trường Sơn chúng tôi hồi ấy rất dễ buồn mà cũng dễ vui anh ạ!

          Quỳnh Mai yên lặng một lúc rồi kể tiếp bằng giọng đượm buồn:

          - Một đêm giáp tết tôi và Tiểu Mai được lệnh đưa cánh quân của ta về một huyện đồng bằng chuẩn bị cho cuộc tổng tiến công mùa xuân. Sau khi đưa cánh quân đến vị trí tập kết an toàn chúng tôi lập tức quay về đơn vị để nhận nhiệm vụ mới. Phần vì đêm cuối năm trời tối như mực phần vì kiệt sức do nhiều đêm thức trắng chúng tôi sơ ý lọt vào ổ phục kích của một tiểu đội địa phương quân. Ngay từ loạt đạn đầu của địch Tiểu Mai đã bị thương ở đùi và ở ngực. Lòng căm phẫn dâng cao tột độ khiến tôi chống trả quyết liệt để trả thù đồng đội. Mặc dù đang bị thương nặng Tiểu Mai vẫn nắm chắc tay súng lia từng loạt đạn căm thù về phía giặc. Tiểu Mai bỗng nói với tôi giọng đứt quãng: "Mày phải khẩn trương trở về đơn vị tao đủ sức chống trả bọn chúng". Tôi nhất quyết ở lại thề sống chết bên nhau. Tiểu Mai phản đối kịch liệt: "Mày không nghe tao tự vận bây giờ". Sống với nhau lâu ngày nên rất hiểu tính cách của Tiểu Mai nó rất quyết đoán và đã nói là làm. Vì vậy tôi cố nén thương đau để lại tất cả những băng đạn tôi mang theo rồi vội quay vào bóng đêm vừa tìm phương án tối ưu giải thoát đồng đội.

          Thoát khỏi tầm súng carbine của địch tôi dừng lại cũng vừa đúng lúc tiếng súng im bặt. Chắc anh thưa biết bọn lính địa phương nhát như thỏ đế nghe tiếng súng AK đã hoảng hồn. Tôi quyết định quay lại để tìm đồng đội. Đến chỗ cũ tôi bắt gặp Tiểu Mai đang ngồi dựa lưng vào một mô đất đầu ngoẹo sang một bên nhưng vẫn nắm chắc súng trong tư thế sẵn sàng chiến đấu. Không chậm trễ một giây tôi vội xốc Tiểu Mai lên vai băng qua cánh đồng. Đến một miền đất trống và tương đối an toàn tôi đặt Tiểu Mai dựa vào gốc duối. Quỳnh Mai nhìn ra góc sân - Kia gốc duối tuy đã bị phạt bằng nhưng vẫn còn vết tích. Lúc đó Tiểu Mai tỉnh lại hỏi bằng giọng mệt nhọc: "Quỳnh Mai đấy phải không?". Rồi nó cầm lấy tay tôi giọng như một cơn gió thoảng: ‘Mình thấy khó thở lắm. Hình như đạn trúng phổi. Chắc không qua khỏi. Mày hãy để tao nằm lại đây. Cầu mong cho mày bình yên. Cho tao gửi lời chia tay các bạn". Tôi ôm chầm lấy Tiểu Mai khóc nức nở. Một lúc sau nó đi luôn. Lúc này trời sắp rạng đông không khéo sẽ bị lộ. Tôi vội tìm một chỗ đất tơi xốp cách gốc duối không xa lấy mũi súng làm xà beng lấy bàn tay làm xuổng khẩn trương đào một cái hố vừa đủ chỗ cho Tiểu Mai. Chôn cất bạn xong trời cũng vừa rạng sáng. Tôi bùi ngùi đứng lên từ biệt người bạn đã từng chia ngọt xẻ bùi trong những năm tháng ở Trường Sơn đầy gian khổ. Sau ngày thống nhất đất nước tôi được chuyển về làm hộ lý tại một Trạm quân y rồi được phục viên với tấm giấy chứng nhận thương binh loại hai trên bốn. Trở về cuộc sống đời thường với vô vàn khó khăn nối tiếp nhau chồng chất hoàn cảnh neo đơn vết thương cũ cứ trở trời lại nhức nhối. Vì vậy nhiều lúc nhớ Tiểu Mai da diết nhưng cũng đành chịu. Tôi lấy làm hối tiếc. Lẽ ra tôi phải đi tìm đồng đội của mình trong những ngày mới vừa giải phóng. Tôi có lỗi! -Quỳnh Mai rút khăn tay lau mấy giọt nước mắt tiếp:

          - Một hôm tôi tình  cờ nhận ra hình ảnh của Tiểu Mai trên màn ảnh truyền hình Việt Nam trong mục "Nhắn tìm đồng đội". Hôm sau tôi thu xếp việc nhà rồi vội vã vào Nam lần thao địa chỉ tìm đến nhà Xuân Mai hóa ra chị Xuân Mai cũng có cuộc sống đơn chiếc như tôi. Chị em khẩn trương về đây tìm em tìm đồng đội.

          Tôi an ủi Quỳnh Mai:

          - Tuy có muộn màng nhưng Quỳnh Mai đi tìm đồng đội của mình bằng trái tim bằng tất cả tấm lòng thủy chung nhân hậu. Thời bây giờ không ít người nhờ sự hy sinh của đồng đội mới được lành lặn trở về với cuộc sống giàu sang sung sướng nhưng họ quay lưng lại với tất cả!

          Tôi xoay câu chuyện sang hướng khác:

          - Xuân Mai quyết định chuyển hài cốt của em về nghĩa trang liệt sĩ?.

          Xuân Mai lắc đầu.

          - Không em tôi chưa được công nhận liệt sĩ!.

          Tôi không giấu được sự ngạc nhiên sau câu nói của Xuân Mai Quỳnh Mai giải thích:

          - Sau khi Tiểu Mai hy sinh không lâu đơn vị thanh niên xung phong của chúng tôi cũng bị xóa sổ trong một trận máy bay B52 ném bom rải thảm lúc đang làm nhiệm vụ bảo vệ tuyến đường Trường Sơn. Vì vậy ...

          Xuân Mai vội cắt lời :

          - Thật lòng tôi không bận tâm lắm về việc này. Nay tìm được hài cốt của em là tôi mãn nguyện .

          Sau câu nói của Xuân Mai tôi suy nghĩ đắn đo trong giây lát rồi đưa ra ý kiến:

          - Đã từ lâu tôi xem Tiểu Mai như em gái nên thường xuyên hương khói tu tảo phần mộ hàng năm. Nếu như Xuân Mai chuyển em về nghĩa trang liệt sĩ tôi không dám cản. Nhưng đưa về để gần quê quán thì Xuân Mai và Quỳnh Mai nên để Tiểu Mai nằm lại ở đây. Hằng năm cứ vào hai bảy tết Xuân Mai và Quỳnh Mai hãy trở lại đây để cùng tôi tổ chức ngày giỗ Tiểu Mai. Như vậy cũng trọng tình trọn nghĩa. Tiểu Mai chắc cũng vui lòng. Mong Xuân Mai và Quỳnh Mau hãy suy nghĩ kỹ. Sự nhiệt tình của tôi xuất phát từ lòng quý trọng....

          Ý kiến bất ngờ của tôi hình như đã làm cho hai người đàn bà rất xúc động họ nhìn nhau rươm rướm nước mắt và không nói được lời nào. Tôi lấy sợi dây chuyền đã cất giữ gần 3 năm đưa cho Xuân Mai:

          - Đây là di vật cuối cùng của Tiểu Mai. Xuân Mai hãy giữ lấy.

          Nhìn kỷ vật ngày xưa Xuân Mai không cầm được nước mắt. Một lúc sau Xuân mai tháo sợi dây chuyền đang đeo đem so với sợi dây tôi mới đưa hai sợi dây hoàn toàn giống nhau chỉ khác một chữ trên mặt hình vuông.. Không hiểu sao Xuân Mai trao lại sợi dây chuyền cho tôi và nói:

          - Mặc dù nó mang tên tôi nhưng nó là di vật cuối cùng của Tiểu Mai. Anh đã cất giữ nó gần ba năm giờ đây anh vui lòng tiếp tục giữ lại để làm vật kỷ niệm. Anh rất nhân hậu. Tình cảm của anh dành cho chị em tôi vô cùng lớn. Không biết ngày nào chúng tôi mới đền đáp được.

          Từ đó hàng năm cứ vào hai mươi bảy tết Xuân Mai và Quỳnh Mai trở lại nhà tôi dự ngày giỗ của Tiểu Mai. Sau đó tham gia hội mai xuân diễn ra trên làng tôi. Đặc  biệt Ngọc Yến rất quý Xuân Mai và Quỳnh Mai. Có năm nó giữ họ lại cho đến mùng tám tết mới chịu chia tay

                                                                                                                                  TQL.

LỜI BÌNH CỦA NGUYỄN ĐỨC THIỆN về truyện “ Mai Trường sơn” 14.5.11

 

Mai Trường sơn” của Trần Quang Lộc là một truyện ngắn thật giản dị. Giản dị đến mức làm cho người ta tưởng đó là chuyện được tác giả sắp xếp cho nó diễn ra đúng trình tự phải có. Chuyện xảy ra trong một gia đình thích chơi hoa kiểng. Trong vườn nhà anh có một cây mai  của rừng Trường Sơn thật đẹp và sung mãn. Hoa nở đầy đặn đúng ngày và nở lâu trong những ngày xuân đến. Một ngày kia cây mai bỗng chết khô. Cũng vì tiếc cây mai quý người chủ cây mai đào lên tính làm thành một cây kiểng khô. Không ngờ bên dưới gốc mai có một bộ xương người. Chỉ khác bộ xương ấy có danh tính nhờ vào mặt chiếc dây truyền vàng được chôn theo người. Thời gian sau có người tìm đến. Cuộc gặp gỡ giữa người chủ vườn mai với những vị khách lạ đã diễn ra. Nhờ đó mà chúng ta biết người nằm dưới gốc mai kia là một nữ thanh niên xung phong đã hy sinh trong cuộc chiến đấu bảo vệ một cung đường Trường Sơn.

 

Chuyện giản dị như vậy nhưng nó đã làm người đọc xúc động bởi hiện thực cuộc sống. Ngày xưa khi đất nước còn chiến tranh có biết bao nhiêu con người đã tham gia chiến đấu một cách tự nguyện. Đánh giặc giống như một lẽ tự nhiên của con người Việt Nam. Trong cuộc chiến đấu ấy sự hy sinh của bất cứ ai cũng rất tự nhiên theo đúng quy luật khắc nghiệt của chiến tranh. Cô gái hy sinh được chôn dưới gốc mai kia cũng chịu sự khắc nghiệt ấy. Sự hy sinh ấy còn cao hơn khi chiến tranh chấm dứt bao nhiêu liệt sĩ đã được ghi công trạng còn cô vẫn chưa vì phải chịu đựng một sự thật hiển nhiên khác đó là đơn vị bị xóa sổ không ai làm những thủ tục cần thiết ghi công trạng cho cô. Bản thân cô chịu đựng tới mấy lần hy sinh hy sinh thân xác hy sinh công trạng và rất có thể còn bị bỏ quên trong rừng nếu không có một người yêu cây kiểng những đồng đội và người nhà của cô tìm đến.

 

Cuộc chiến đấu giữ nước của Việt Nam chúng ta là như vậy. Chúng ta đã làm rất nhiều việc vì những người hôm qua ngã xuống. Nhưng dù có làm bao nhiêu thì vẫn chưa đủ. Những người đã được đón về nghĩa trang liệt sĩ những người đã được ghi nhận công trạng những người đã đựợc vinh danh thành tích. Nhưng vẫn còn những người hôm nay còn nằm đâu đó trong Trường Sơn bạt ngàn cây xanh và nắng gió. Cám ơn người yêu cây kiểng cảm ơn người như Quỳnh Mai Tiểu Mai- những nhân vật trong truyện ngắn “ Mai Trường Sơn” của Trần Quang Lộc- đã làm những công việc thật ý nghĩa cho những người hy sinh trong chiến tranh. Mai trong rừng Trường Sơn dẫu không ai vặt lá lúc cuối năm nhưng nhất định vẫn sẽ trổ bông khi mùa xuân về. Nhưng Người hy sinh vì đất nước sẽ mãi mãi sống trong lòng Tổ Quốc Việt Nam. Chúng ta vinh danh họ bằng niềm tiếc thương vô hạn và nhớ đến họ mỗi khi đất nước vào xuân. Những ngừơi hy sinh như Tiểu Mai hẳn sẽ ấm lòng khi có bạn chiến đấu Quỳnh Mai có chị em Xuân Mai có người yêu cây kiểng chăm sóc phần mộ cho mình. Dẫu sao đó cũng là hành động làm ấm lòng những liệt sĩ của chúng ta../.

 

NĐT

 

 

Lời bình truyện ngắn Mai Trường Sơn của Trần Quang Lộc/15.5.2011

Nguyễn Thu Hiền

 

Đọc Mai Trường Sơn của Trần Quang Lộc ở trang đầu tiên cứ tưởng tác giả đang viết tản văn về hoa mai với những con chữ mượt mà đầy cảm xúc. Câu chuyện bắt đầu có ngã rẽ khi nhân vật tôi đi vắng và cây mai bị héo rũ. Vì gắn bó với cây mai quý nhân vật tôi quyết định đào gốc để đẽo gọt thành món đồ mỹ nghệ làm kỷ niệm. Thế rồi không ngờ lại thấy một bộ hài cốt dưới gốc mai. Nhờ chiếc dây chuyền tên cô gái được phỏng đoán. Và thật bất ngờ tên cô gái lại là Mai.

Bằng nghĩa cử của một con người nhân vật tôi đã chu tất lo liệu và hương khói cho ngôi mộ của người con gái ấy. Có những chi tiết không có trong truyện đã làm xúc động độc giả ấy là khi đối diện với bộ hài cốt không thấy nhân vật tôi lo sợ chối bỏ hãi hùng… như thường thấy trong thực tế. Thậm chí “Hình như có một sợi dây thiện cảm nào đó đang nối liền giữa tôi với người con gái đã khuất”. Rồi đến khi chu tất việc cải táng cũng không thấy nhân vật tôi so đo tính toán mình được gì mất gì. Đó gần như là việc phải làm mà lương tâm thôi thúc chứ không có tính toán vụ lợi. Đây là suy nghĩ đầy nhân ái cao cả “Sau chiến tranh kẻ còn người mất ai quan tâm đến một nấm mồ vô chủ?! Nơi cõi vĩnh hằng người con gái vắn số chắc không còn buồn tủi vì đã có mồ yên mả đẹp hương khói quanh năm. Nghĩ vậy nên lòng tôi rất thanh thản! ».

Cuối cùng như một cái kết có hậu dù chưa thật tròn trịa viên mãn vì người hy sinh nằm dưới mộ chưa được phong liệt sĩ nhưng cô gái đã tìm được người thân và đồng đội của mình sau bao nhiêu năm. Có lẽ đoạn cuối của tác phẩm sẽ khiến người đọc nhớ lâu bởi sự trớ trêu của nhân tình thế thái và tấm lòng của những con người với nhau. Hai người đàn bà - một là chị gái một là đồng đội của người đã mất trở về sau chiến tranh thì sống cảnh đơn chiếc không có một tổ ấm gia đình bình dị như tất cả những người đàn bà khác. Còn người đã mất – tìm lại được tên - Tiểu Mai cũng chưa được ghi nhận là liệt sĩ. Xuân Mai nói : « Thật lòng tôi không bận tâm lắm về việc này. Nay tìm được hài cốt của em là tôi mãn nguyện”. Vậy đấy mọi danh lợi giờ đây không phải là thứ quý giá với họ - với những người còn sống nữa. Chắc rằng sau khi quyết định để lại Tiểu Mai nơi này và cứ 27 tết mọi người lại về đây để giỗ Tiểu Mai và dự hội mai xuân thì chẳng ai có ý định chứng thực cho người đã mất là liệt sĩ mọi thứ dường như vẫn chẳng có gì thay đổi. Chỉ còn lại tấm gương dũng cảm hi sinh của người đã mất là còn mãi và sự thanh thản sẽ là nguồn an ủi sẽ nhắc nhở với chúng ta: được sống đã là hạnh phúc hãy biết nâng niu và trân trọng nó. Mọi bon chen xô bồ mọi đau khổ rồi cũng kết thúc…Như thứ hoa mai của mùa xuân cứ qua 3 mùa với vẻ thô mộc giản dị chả ai để ý tới cho đến xuân lại âm thầm kết nụ nở hoa làm mọi người nhận ra sự luân chuyển của thời gian và ngỡ ngàng trong sắc vàng rực rỡ. Chợt câu thơ: Những bông hoa vẫn cứ nở đúng mùa của Nguyễn Trọng Tạo vang lên nhà thơ viết vậy không chỉ để nói về hoa mà nói về tất cả những gì đã và đang tồn tại như sự bất di bất dịch của mọi giá trị.

Truyện ngắn Mai Trường Sơn dù không có nhiều kịch tính nhưng Trần Quang Lộc đã để lại dư âm về tấm lòng nhân hậu tốt đẹp của mỗi con người đây là điều ít thấy trong văn học hiện nay.

 

Nguyễn Thu Hiền

Báo điện tử Tổ Quốc

Số 20 ngõ 2 Hoa Lư Hai Bà Trưng Hà Nội

 

 

More...

BẾN NƯỚC KINH CÙNG/ 3925/ 7/5/2011

By Gã Phu Xe bất tử (Mai Thìn)

BẾN NƯỚC KINH CÙNG/ 3925/ 7/5/2011

Truyện ngắn của Nguyễn Lập Em                        

 Ấy là nơi con sông Cái chia nhánh chảy vào. Con kinh chảy hoài mải miết vào đồng sâu. Con kinh chảy đến doi đất ngang nhà cô Hai Cà tưởng cùng nhưng không. Dòng nước hiền lành lại mở lối tiếp tục băng đồng len lách quanh co mãi cho đến khi nối được cùng sông Cái ở một nhánh khác. Vậy mà người ta cứ gọi xứ ấy là xứ Kinh Cùng. Cô Hai Cà vẫn nhớ lời của cha cô ông Ba Thời giảng giải:

                - Có lúc nó cùng như vậy nên người ta mới lấy đó mà đặt tên. Tạo hóa sắp bày khéo lắm! Cùng sao được mà cùng!

               Cô Hai Cà nghĩ là cha cô nói đúng; Nếu không con kinh này đâu có tạo thành khúc quanh để chảy xuống cuối vàm ngang qua nhà anh Út Chót. Cô tin vào bàn tay của tạo hóa như cha của cô đã tin. Tạo hóa kỳ diệu đã cho cô và con Kinh Cùng của cô mỗi năm có một mùa bằng lăng loài cây mọc hai bên bờ kinh nở bông tím ngát. Lòng cô mãi thương cảm khi vào lúc tiết trời ấy mỗi sáng cô nhìn thấy cánh bằng lăng đã nở chiều qua rơi rụng xuống dòng kinh bồng bềnh theo con nước lớn đổ vào cuối vàm; Rồi vào buổi xế trưa cô lại nhìn thấy cũng chính những cánh hoa tàn phai ấy theo con nước ròng trôi ngược ra sông Cái Lớn. Quê xứ của cô vốn đã hiu quạnh và buồn; Thêm cảnh tượng ấy càng thêm buồn man mác. Vì sao quê của cô Hai Cà buồn? Ở đây xóm làng thưa thớt xa xa mới có một hai căn nhà cất cặp bờ kinh. Vài vườn cây trái được cư dân trồng ở sân trước hè sau; Còn lại quanh nơi ấy bao la đồng ruộng. Ở đây lúc này chưa có đường bộ; Vả chăng đường bộ ở đây không thuận tiện bằng đường sông. Phương tiện đi lại duy nhất ở xứ này lúc bấy giờ là xuồng ghe di chuyển trên kinh rạch. Mỗi nhà tự lập ra bến nước dành cho sinh hoạt gia đình và giao tiếp với thôn lân. Trong hoàn cảnh như vậy có lẽ người ta sẽ thấy quạnh hiu hơn khi nhà ít người vắng khách.

                  - Xứ mình buồn tênh! Đàn địch ca hát mà khuây lãng!

                  Ông Ba Thời giải thích về ngón đàn điệu nghệ của ông khi ông đưa vợ con theo đất ruộng về nơi này định cư lập nghiệp. Trong hành trang của gia đình mang theo trong cuộc di cư người ta thấy ông mãi nâng niu cây đàn phím lõm loại nhạc cụ mà ông quen chơi qua các điệu hò bản vắn sáu câu vọng cổ với bè bạn giang hồ. Cây đàn phím lõm với sáu câu vọng cổ mới chơi nghe vui nhưng khi người ta chơi lâu hoặc quen nghe thì thấy nó buồn da diết. Cha con của cô Hai Cà càng cảm thấy như vậy nhất là từ khi mẹ cô Hai Cà từ trần vì bạo bệnh; Bà đã bỏ lại trần gian mái ấm gia đình cùng với nỗi buồn sâu lắng của ba cha con ông Ba Thời con gái Hai Cà và con trai Uùt Thế.

                 Thời gian dần qua. Bấy giờ Uùt Thế đã mười sau tuổi. Cô Hai Cà đã ở tuổi hai mươi. Nỗi buồn mất người thân của cha con ông Ba Thời cũng dần nguôi ngoai theo năm tháng. Oâng Ba Thời không đi bước nữa. Oâng lấy việc gieo trồng ruộng rẫy và nuôi dạy các con lớn khôn làm trọng mà nương tựa sống qua ngày. Những lúc nông nhàn rảnh việc hoặc giỗ đám của gia đình hay của láng giềng ông ba Thời thường đem cây đàn phím lõm của ông đến chơi đánh đàn ca hát cùng anh em hàng xóm. Kẻ đàn người hát dễ kết tri âm. Ông Ba Thời kết  thầy trò với Uùt Chót là duyên cầm ca như vậy. Những lúc trà dư tửu hậu thầy đàn trò hát rất xứng cặp xứng đôi; Hoặc là những lúc rảnh việc hay chợt buồn ông Ba Thời  bảo Uùt Thế bơi xuồng xuống vàm đón Uùt Chót lên nhà ông  để cùng ông đờn ca xướng hát. Khi ấy không gian của nhà ông thật ấm áp vui vầy. Đó là cảnh nhà yên ấm; Ở nhà trên có ông Ba Thời Uùt Chót Uùt Thế và có thể có vài người láng giềng nữa đàn ca; Dưới chái bếp cô Hai Cà đôi  khi có thêm một vài cô gái hàng xóm nữa lục đục nấu cháo gà cháo vịt cháo lòng heo… để lát nữa bưng lên cho cả hội đàn ca ở nhà trên ăn uống nhấm nháp cùng rượu đế. Niềm vui của cô Hai Cà là được làm việc ấy. Cô cảm thấy như vậy nhà của cha con cô đỡ quạnh vắng hơn. Trong khi đó bài ca vọng cổ qua giọng ca của anh Uùt Chót mùi thật là mùi. Giọng ca của anh Uùt Chót càng mùi  thì cô Hai Cà càng thấy thích và thấy vui. Những lúc cha cô bận việc đồng áng   hơi lâu ông không tổ chức đàn ca tại nhà nên anh Uùt Chót không có dịp đến chơi thì  cô Hai Cà lại thấy buồn buồn nỗi buồn không tên không tuổi.

                 Cứ như vậy cô Hai Cà thấy đời đáng yêu và đáng sống. Đôi khi cô nghĩ vu vơ rồi tự thấy thẹn thùa. Cứ như vậy mỗi lần ra bếùn nước trước nhà nhìn những cánh bằng lăng trôi giạt trên dòng kinh cô Hai Cà thấy bâng khuâng buồn thấy lòng như mong đợi. Cô Hai Cà biết mình mong đợi một chiếc xuồng quen.

                                                                     * 

               “Tính …tính…tang…tang…tình…” Cô Hai Cà nghe tiếng đàn dạo của cha mình. Giọng ca của anh Uùt Chót cất lên:

               “Ngọc Hà ơi! Mắt của nàng đã gây nên sóng gió… để khổ đau tràn ngập mấy tâm tư…Ngọc Hà ơi! Thôi từ đây gió đưa vầng mây đến phương trời xa gót chân quan hà nghìn thu vĩnh cách. Anh nói không thành câu nuốt lệ thầm câu tiễn biệt người yêu… cất bước theo chồng!”

                 Cô Hai Cà nghe Uùt Chót ngân dài bốn chữ “ Cất bước theo chồng” thật là mùi rệu. Không gian như lắng xuống. Khoảng lặng và ngân rung của câu ca ở khúc này như dài rộng ra. Cô Hai Cà bùi ngùi nhìn ánh lửa trong bếp bập bùng. Trời à! Nếu cô là Ngọc Hà trong bài ca ấy cô sẽ khóc sẽ buồn không biết đến bao lâu. Cô Hai chờ đợi tiếng anh Uùt Chót tiếp theo bằng câu vọng cổ quen thuộc mà anh đã tập với  cha của cô suốt mấy tối rồi. Bỗng cô Hai Cà nghe tiếng trầm đục của cha mình:

                 - Giỏi! Uùt Chót! Mầy ca mùi không thua gì kép Bảy Cao hồi đó đâu!

                  - Thiệt hông chú Ba?

                  - Thiệt!

                  Im lặng. Cô Hai Cà nghe tiếng củi nổ tí tách trong  bếp lò. Giọng anh Uùt Chót bỗng hạ xuống thấp như thì thầm tâm sự:

                  - Chú Ba thấy con… coi có được hông?

                  Cô Hai Cà nghe hồi hộp lạ thường. Mặt của cô bỗng dưng đỏ rựng. Tiếng ông Ba Thời nạt nhẹ.

                  - Thằng này! Mày hỏi chú   được với không được là sao?

                  Uùt Chót nói giọng có vẻ ngượng ngập:

                - Thì chú nhìn coi … con có xấu trai lắm hông?

                - Chi vậy mày nhỏ?

                Cô Hai Cà chợt thấy tức cười nhưng nụ cười của cô chỉ hiện lên trong ánh mắt. Nếu như người ta thương mình thì là người ta thương tánh nết với giọng ca mùi mẩn của mình chớ ai mà so đo chuyện đẹp trai hay xấu trai bao giờ! Cô Hai vừa nghĩ vừa nhón tay giở nắp vung nồi nước luộc gà đang sôi ùng ục. Cô nghe giọng nói của anh Uùt Chót hơi khang khác.

                - Thì… chú liệu dùm con coi…!

                -  Liệu coi cái gì mày nhỏ! Tiếng của ông Ba Thời gắt nhẹ.

                - Thì chú coi… con như vầy mà có theo gánh hát được hông?

                Tiếng ông Ba Thời sửng sốt:

                -  Trời đất! Mày… tính đi làm kép hát hả?

                - Dạ!

                Cô Hai Cà nghe như có gì đó vừa đổ vỡ. Cái nắp vung trên tay của cô vuột xuống trên miệng nồi đánh xoảng. Tiếng khua ấy có thể ở nhà trên cha của cô nghe thấy nhưng anh Uùt Chót thì không.  Cô biết anh Uùt vẫn cứ vô tình! Cô Hai Cà ngồi phịch xuống vạt tre gần bếp bần thần. Lâu lắm cô Hai Cà mới nghe tiếng của cha mình nói rất chậm rãi ở nhà trên:

               - Đừng! Uùt Chót! Cái nghiệp cầm ca bạc lắm! Tao sợ…

                Uùt Chót hơi nôn nóng:

               - Sợ gì chú Ba?

               Lại im lặng. Cô Hai Cà nghe thời gian dằng dặc trôi qua.

               - Tao sợ… đường đời nhiều nỗi… Chỉ e… mày nhỏ chẳng giữ được mình!

               Cô Hai Cà nghe tiếng anh Uùt Chót cười lớn:

               - Chú Ba nói kỳ chưa? Con sẽ là thằng Uùt Chót của cái xứ Kinh Cùng này cho đến bạc đầu mà!

               Tiếng ông Ba Thời ậm ừ:

               - Tại tao lo xa… quá xa…! Tao già rồi! Người già nào cũng vậy! Mày đừng lấy đó mà mích lòng nghen! Thôi! Mày lấy giọng lại đi! Tao rao trước! Mày tập ca lại bài hồi nãy nghen!

               “ Tình… tang… tính… tình… tình…tang…” Cô Hai Cà nghe tiếng đàn của cha mình sao mà rời rạc và buồn bã. Tại tiếng nhạc buồn hay buồn là tiếng của lòng cô. Cô Hai Cà lại nghe giọng của Uùt Chót cất lên:

              - “ Ngọc Hà ơi! …”

          

                                                                          *

 

              Ba mươi năm. Tất cả vẫn như in trong ký ức cô Hai Cà buổi tối mà anh Uùt Chót mơ làm kép hát. Trong cuộc đời mỗi người cũng có lúc tâm hồn của người ta có những phút giây bay bổng như vậy nhưng qua giây phút ấy rồi thôi. Anh Uùt Chót khác hơn. Anh đã lao theo và sống trọn vẹn với những gì mà anh mơ ước. Đúng như vậy! Sau đó ít lâu gánh hát của ông bầu Tèo về hát cúng đình rồi đi cùng  với sự ra đi của anh Uùt Chót. Út Thế bảo với cha mình và chị Hai Cà là  anh Uùt Chót có rủ cậu cùng đi nhưng cậu đã từ chối; Bởi vì cậu biết rằng việc ruộng rẫy của gia đình vẫn cần có cậu hơn. Vả lại tuy là mê coi hát cải lương nhưng trong thâm tâm mình cậu thấy ngán cái cảnh lang bạt kỳ hồ mà cậu vẫn thường nghe mấy đào kép trong gánh hát của ông bầu Tèo than thở và ca cẩm. Ừ! Đi giang hồ ai muốn như vậy cũng phải có máu  mới đi được. Cô Hai Cà nghe em trai nói thở dài. Cô mừng vì cậu Út Thế đã không nghe theo lời của anh Ú Chót rủ rê. Nhưng… cô buồn vì anh Uùt Chót đã bỏ xứ mà đi lại không nói với cô dù nửa lời từ giã. Anh không biết đến cái tình của cô đã dành cho anh. Anh không biết khi vắng anh cô sẽ nhớ sẽ buồn…

              Đằng đẵng bao năm anh Uùt Chót ra đi mà không thấy trở về. Gánh hát của ông bầu Tèo mấy mùa cúng đình ở làng này đều trở lại Kinh Cùng; Chỉ bóng dáng của anh Uùt Chót là bặt tăm nhàn cá. Cô Hai Cà ngày này qua ngày khác ngóng ra bến nước trước cửa nhà mình mong đợi hình bóng của anh Uùt Chót. Cô mường tượng là anh Uùt Chót sẽ bước lên bờ với gương mặt tươi cười rạng rỡ như xưa. Anh sẽ nói với cô Hai Cà với kiểu nói hơi pha chút màu sắc của tuồng hát cải lương vì anh đã có thời làm kép hát mà! “ Thôi! Từ đây tôi đã giũ áo phong sương dừng bước giang hồ về đây tìm kiếm người mà tôi đã nhớ thương”. Aáy vẫn chỉ là nỗi niềm ước mơ thầm lặng của cô Hai Cà. Cuộc đời  đã diễn ra khác hẳn. Oâng bầu Tèo mấy lần đưa gánh hát về hát cúng đình ở làng Kinh Cùng đã kể lại với Ba Thế đủ điều. Ba Thế nghe xong giấu biệt không dám kểâ lại cho chị Hai Cà nghe gì cả. Câu chuyện kể rằng: Anh Uùt Chót sau này đã thay đổi nhiều lắm! Anh đã đổi tên Uùt Chót thành tên Trường Giang. Anh tập ca hát tập diễn tuồng trong gánh hát của ông bầu Tèo chưa được trọn năm. Vai diễn của anh vừa quen nước quen cái thì anh đã bỏ gánh hát của ông bầu Tèo theo cô đào nổi danh Mộng Ngọc qua hát cho gánh khác. Họ kép hát Trường Giang và cô đào Mộng Ngọc sống chung với nhau như vợ như chồng dù tuổi đời của kép Trường Giang kém hơn cô đào Mộng Ngọc nhiều lắm. Uùt Thế nghe nói cô đào Mộng Ngọc rất mê kép Trường Giang. Cô buộc bầu gánh phải cho Trường Giang đóng cặp đôi với cô. Có lẽ trước tiên cô muốn nâng đỡ kép trẻ Trường Giang; Sau nữa cô muốn thỏa tình với anh cả trên sân khấu.

                Thành danh nghệ sĩ Trường Giang là chuyện không quá khó khăn đối với chàng trai của xứ Kinh Cùng. Các bầu gánh hát đua nhau mời mọc chiều chuộng anh. Các hãng dĩa nhựa thu thanh sẵn sàng trả thù lao rất cao để giọng ca của anh có trong danh sách ca cổ nhạc của họ để họ chào mời thính giả. Anh Uùt Chót kép Trường Giang một thời là giọng ca ăn khách ở các đoàn hát lớn ở Sài Gòn đi lưu diễn khắp cả miền Tây. Cô đào Mộng Ngọc sau đó lần hồi xuống sắc qua thời. Kép trẻ Trường Giang bỏ người bạn tình già của mình chạy theo cô đào khác trẻ đẹp và duyên dáng hơn đào Kim Ba. Anh và đào Kim Ba lại đóng cặp đôi cùng đứng hát chung. Họ lại sống với nhau như chồng như vợ. Út Thế nghe ông bầu Tèo kể và nhận xét: “ Rồi tụi nó lại cũng bỏ nhau cho mà xem!”. Út Thế nghe ông bầu Tèo kể mà thấy ngán ngẫm và thấy buồn. Cậu xét lại mình. Cũng may là cậu giờ đây đã có vợ con rồi. Vợ chồng cậu và các con cùng sống với cha cậu và chị Hai Cà trong một mái gia đình yên ấm. Cậu hài lòng với niềm hạnh phúc đời thường của mình chẳng ao ước được những gì gọi là vẻ vang danh tiếng như là anh Uùt Chót. Cậu chỉ thương xót cho chị Hai Cà. Chị đã sang tuổi “ băm” rồi mà bao nhiêu đám đến dạm hỏi chị làm vợ chị vẫn  lắc đầu chẳng ưng lấy ai cả. Uùt Thế không ngờ mối tình thưở xuân xanh mà Uùt Chót gieo cho chị Hai Cà tưởng nhẹ nhàng mà lại sâu nặng đến vậy. Như vậy mới biết cái lưới tình thật không chừng đỗi mỏng manh với người này mà quá bền chặt với người kia! Có phải vì tình cảm của chị Hai Cà là mối tình chân chất  của người thôn nữ quê mùa? Còn tình cảm của anh Uùt Chót trải qua là tình trên sân khấu mà người ta quen như biểu diễn? Uùt Thế càng nghĩ càng thấy thương chị của mình. Vậy mà chị Hai Cà vẫn cứ mong ngóng đợi chờ vẫn cứ thương tưởng hình bóng của anh lực điền Uùt Chót ngày xưa.

                                                                          * 

                Ba mươi năm. Người xưa của cô Hai Cà đã lầm lũi trở về. Cô Hai Cà vẫn còn ở vậy. Con Kinh Cùng vẫn ngày đêm với con nước lớn ròng với bao mùa bông bằng lăng tím nở để rụng rơi theo dòng những cánh hoa màu tím tàn phai trôi giạt. Bến nước của nhà cô Hai Cà vẫn vậy. Anh Uùt Chót giờ đây chợt thấy thân thương và quen thuộc như  thưở nào thưở một thời trai trẻ của anh. Ba mươi năm anh đã rời xa nơi này để sống  đời làm kép hát có lúc cuộc sống không phải là của mình có lúc không giữ được lòng mình. Cho đến bây giờ anh mới nhận ra điều đó! Giờ đây Uùt Chót hay nghệ sĩ Trường Giang đang hết thời còn nghiện ngập. Giờ đây anh liêu xiêu tìm về bến nước quê nhà tìm về để gặp lại người khán giả đầøu tiên trong cuộc đời mình cô Hai Cà người của thưở anh còn ca hát tập tành với  lão nông lại là thầy đàn Ba Thời   ở cái xứ Kinh Cùng heo hút này.

             Giờ đây có lần anh Uùt Chót đến tụ điểm ca hát của trung tâm văn hóa huyện xin được ca vài bản để góp vui và kiếm tiền. Anh xưng tên nghệ sĩ Trường Giang tên tuổi của một thời vàng son của anh. Người phụ trách chương trình bảo rằng  họ đã từng mến mộ giọng ca và tên tuổi của anh nhưng họ không có chỗ để xếp anh vào chương trình biểu diễn. Anh tự thấy hổ thẹn vì biết người ấy từ chối  anh do bộ dạng quá ư tiều tụy vì nghiện ngập á phiện của anh. Anh thấy oán giận mình hơn là oán giận thái độ phủ phàng của người phụ trách đội văn nghệ huyện. Anh ta còn bảo nếu như anh Uùt Chót cần tiền thì  độâi văn nghệ của anh ta sẽ giúp cho chút ít; Chứ họ không thể để cho giọng ca rè của anh Uùt Chót  phá hỏng chương trình ca hát của họ đêm này. Sỉ nhục! Anh Uùt Chót  đã nguyền rủa chính mình. Đáng đời mày chưa tên nghệ sĩ hết thời nghiện ngập! Vậy mà ngày xưa ngày mà mày còn ở trên đỉnh vinh quang mày đã từng là thằng bội bạc! Mày đã phụ rẫy ai? Con Kinh Cùng xứ này đã làm chứng chuyện này!

               Đó là dịp cúng đình của làng này vẫn với gánh hát nghèo của ông bầu Tèo gần mấy mươi năm về trước. Oâng bầu Tèo nghe tin có nghệ sĩ Trường Giang về quê giỗ quảy liền cho người bơi xuồng đi rước anh. Anh Uùt Chót đã cười lớn nói với người đi rước mình.

            - Ông bầu Tèo tưởng tao còn là thằng Uùt Chót hồi nẳm đi hát kiếm cơm không dám hỏi tiền cữ sao? Về đi! Nói lại với ổng là tao mắc nhậu!

             Ông thầy đàn Ba Thời đã già cũng có mặt trong bữa giỗ ấy vỗ vai người học trò cũ của mình:

             - Uùt Chót! Mày không thích ông bầu Tèo thì mày hãy vì tao đi! Mày ra hát giúp cho gánh của ổng để bầu đoàn của ổng kiếm chút ít cơm gạo mà sống qua ngày. Một đêm này thôi chớ mấy đêm mà mày lo! Chẳng qua là ổng muốn mượn tên tuổi của mày để quảng cáo đặng bán vé cho sung. Với lại dịp này cũng là dịp cúng đình xứ mình có mày về hát giúp hội cũng làm cho bà con xứ mình nở mày nở mặt!

          Uùt Chót đã giãy nảy:

          - Trời! Chú biểu ngặt   không? Con bây giờ mà đi hát cho gánh của ông bầu Tèo hát đám cúng đám cưới… sợ thiên hạ đồn rùm beng   con bị  bể tiếng chết! Thôi! Nhậu đi chú Ba ơi! Đời còn thiếu gì chuyện để lo!

           Oâng thầy đàn Ba Thời chợt buồn. Oâng ăn uống qua loa rồi ra về. Cây đàn phím lõm mà ông cầm theo định đờn ca cho vui lại được cầm về không được khảy một tiếng nào. Lão nông Ba Thời lặng lẽ buồn. Oâng đã quá già ; Người già vốn kiệm lời. Oâng đã không nói những điều muốn nói cùng Uùt Chót. Hôm ấy Uùt Chót không xem việc của ông thầy đàn của mình ngày xưa buồn bỏ về làm trọng. Anh nhậu nhẹt xong lại  ra đi rời khỏi xứ Kinh Cùng cũng chẳng ghé qua để gửi người thầy đàn cũ của mình lấy một lời chào. Trong cách cư xử ấy của anh Uùt Chót đối với ông Ba Thời có chút gì  đó vô tình và bạc bẽo. Từ ấy đến nay đã hơn cả chục năm rồi. Khi anh Uùt Chót nghĩ lại biết rằng mình cư xử như vậy là có lỗi với thầy thì người thầy đàn năm xưa đã không còn sống trên cõi đời này nữa. Giờ đây anh ân hận cũng đã quá muộn màng! Anh muốn đến nhà thầy Ba Thời để thắp một nén nhang tạ tội cùng thầy…

              Cây đàn phím lõm của thầy Ba Thời còn treo trên vách kia. Di ảnh của thầy Ba Thời với ánh mắt khoan dung như dành riêng cho Uùt Chót. Cô Hai Cà vẫn ở vậy. Cô đã tròm trèm ở tuổi năm mươi. Cô đang bước vào tuổi già như anh; Chỉ ánh mắt của cô nhìn anh vẫn như ánh mắt của cô hồi thời còn son trẻ. Đó là ánh mắt ngợi khen anh thay cho những tràng vỗ tay tán thưởng như năm xưa khi anh hạ giọng xuống xề. Anh Uùt Chót nhớ…Năm xưa cô Hai Cà đã ngồi đó ở góc bộ ván ngựa này nghe cha cô đàn và anh hát sau khi nấu xong nồi cháo vịt bưng lên. Bây giờ cô Hai Cà vẫn ngồi đó nhìn anh lặng lẽ. Anh ngồi xuống ở đầu này của bộ ván ngựa. Anh muốn nói gì đó với cô nhưng không biết bắt đầøu từ chỗ nào:

              - Tới bây giờ sao cô Hai còn ở vậy?

              Im lặng. Anh Uùt Chót  đọc trong ánh mắt của cô Hai Cà một lời trách nhẹ nhàng. Anh biết mình đã có lỗi với cô Hai Cà suốt một đời người suốt mấy mươi năm. Vậy mà cô Hai cà vẫn ngồi đó nhìn anh với cái nhìn khích lệ như năm xưa cô đã dành cho anh lúc anh còn tập hát tập đàn. Không! Anh không còn xứng đáng với tình cảm bao dung và trong sáng của cô Hai Cà. Anh Uùt Chót đứng lên. Giọng nói của cô Hai Cà vẫn cứ nhẹ nhàng:

            - Gấp gì mà về anh Uùt?

            - Bến nước Kinh Cùng này bây giờ còn có chỗ cho tôi sao?

 NLE

LỜI BÌNH CỦA NGUYỄN ĐỨC THIỆN

Nơi những câu chuyện  Nguyễn Lập Em cho xảy ra là một mảnh đất heo hút nghèo và tưởng như tận cùng của một vùng quê. Người ta gọi nó là đất Kinh Cùng ý muốn bảo đó là tận cùng của một con kinh. Nhưng nước đã chảy đến đó đâu có chịu ngừng lại. Nó mở đường chảy tiếp và cũng đổ ra sông Cái như bao dòng nước khác thôi. Vì vậy mà cùng với con kinh là sự tồn tại cái xóm nghèo với những người nghèo. Không chỉ thế cùng với ăn mặc họ còn có cả cuộc sống văn hóa vốn có của người nghèo. Đó là chiếc ghi ta phím lõm của một ông già và những câu ca cải lương hằng sống vơi những quê nghèo và người nghèo. Nên những người nghèo vẫn tồn tại sống và để ước mơ. Sự tồn tại một ông già vui thú với ca cổ và nhưng người hát ca cổ là lẽ đương nhiên ở Kinh Cùng. Cùng với những câu ca cổ là cuộc sống nhất thiết phải sinh sôi. Mới có cô gái xinh đẹp có cái tên nhà quê: Hai Cà. Và có cả anh chàng nhà quê có cái tên mộc mạc: Út Chót. Cũng như bao xưa khác nhưng con người ở mảnh đất nghèo khó này cũng có những ước  mơ. Ước mơ của cô Hai Cà thật giản dị: có một người yêu có một người chồng cùng mình lam lũ trên mảnh đất này. Nhưng cũng có người có mơ ước viển vông xa với hơn như anh chàng Út Chót. Có tí khả năng ca hát anh muốn bay đi xa hơn muốn nổi tiếng thành danh. Và anh ta đã bỏ Kinh Cùng mà đi. Anh ta thành danh thực. Cái tên Út Chót không hợp với danh tiếng của anh ta nên mới dổi thành Cái tên nghe hoa mỹ hơn: Trường Giang. Anh ta không ngờ cuộc đời anh bị người ta lợi dụng dạy cho anh ta biết lợi dụng người khác rồi chính những lợi dụng trong cuộc sốngg ấy biết anh ta thành kẻ vị kỷ chỉ biết có mình thôi. Cho đến một ngày kia anh ta nhận ra rằng: tất cả chỉ là phù phiếm với một con người nhất là con người không có đất làm điểm tựa cho sự tồn tại đời mình. Đến lúc đó anh mới hiểu vì sao một ông già lại thích cây gha ta phím lõm và chỉ hát cho những ngưới quen thân nơi mình ở nghe câu ca cổ nhiều khi ai cũng thuộc lòng. Đến lúc đó anh ta mới hiểu vì sao cô gái mộc mạc có cai tên giản dị Hai Cà kia lại có lòng chung thủy một lòng với tình yêu của mình.

Truyện ngắn Bến Nước Kinh Cùng của Nguyễn Lập Em là một câu chuyện đầy xúc động về phép đối nhân sử thế của con người với mảnh đất mình đã sinh ra và lớn lên. Mảnh đất ấy dù nghèo vẫn có những con người sống nhân hậu bao dung. Nếu mỗi người sống thủy chung son sắt với đất quê mình thì cũng nhận được từ nơi này một tình yêu chung thủy sắt son. Thật xúc động khi đọc những dòng cuối của câu chuyện:

“  Vậy mà cô Hai cà vẫn ngồi đó nhìn anh với cái nhìn khích lệ như năm xưa cô đã dành cho anh lúc anh còn tập hát tập đàn. Không! Anh không còn xứng đáng với tình cảm bao dung và trong sáng của cô Hai Cà. Anh Út Chót đứng lên. Giọng nói của cô Hai Cà vẫn cứ nhẹ nhàng:

            - Gấp gì mà về anh Út?

- Bến nước Kinh Cùng này bây giờ còn có chỗ cho tôi sao?”

NGUYỄN ĐỨC THIỆN

 

 

 LỜI BÌNH TRUYỆN NGẮN BẾN NƯỚC KINH CÙNG CỦA NGUYỄN LẬP EM/ 7/5/11

Lê Hoài Lương

 

“Có lúc nó cùng như vậy nên người ta mới lấy đó mà đặt tên. Tạo hóa sắp bày khéo lắm! Cùng sao được mà cùng!”- đó là lời giải thích của ông Ba Thời với con gái cô Hai Cà về con kinh trước nhà tưởng như là cùng mà vẫn còn mấy nhánh nhỏ len lách quanh co chảy mãi rồi vào lại sông Cái. Và đây cũng là cái lõi cái tứ chính của truyện: cuộc sống dẫu biến thiên dâu bễ hay tận cùng bế tắc hiểm ngặt vẫn có lối ra đâu đó nếu con người còn hy vọng.

Đó là chàng trai theo đàn hát cùng ông Ba Thời mấy lúc nông nhàn chàng đã bỏ xứ theo các gánh hát. Từ gánh nhỏ ông Bầu Tèo đến các gánh to ở Sài Gòn và thành kép Trường Giang nổi tiếng sống cặp đôi với nhiều cô đào thay đào già chọn đào trẻ sống như vợ chồng. Được chiều chuộng được nhiều tiền bạc một ngày về lại quê nhà giỗ quảy ông bầu Tèo cho người tới rước hát cho bà con ở quê kép Trường Giang đã không thèm cộng tác anh giờ là người của những đêm diễn sang trọng tầm cỡ. Và người con gái quê cô Hai Cà dù biết cô vẫn suốt bao năm có tình ý và lặng lẽ chờ anh Út Chót Trường Giang nào có bận lòng. Đúng là Trường Giang tên anh giờ là con sông dài rộng chứ đâu còn là con kinh bé nhỏ quê nhà.

Rồi cái gì đến cũng đến ba mươi năm sau cuộc hư hỏng của Út Chót có đoạn kết: anh về quê cũ nghiện ngập mất giọng xin hát ở Trung tâm văn hóa huyện lớp trẻ không cho vì ngại hình ảnh xấu của anh tác động không tốt đến thanh niên. Anh đến đốt hương tạ tội với thầy Ba Thời gặp ánh mắt cũng vẫn dịu dàng bao dung của cô Hai Cà. Truyện kết cũng ở bến nước Kinh Cùng với câu hỏi đầy hối lỗi sau bao sai trái của Út Chót: “Bến nước Kinh Cùng này bây giờ còn có chỗ cho tôi sao?”

Cái tứ truyện đâu đó gần gũi như cuộc sống quanh ta những thay lòng đổi dạ khi có may mắn đổi đời những “ham phú phụ bần” “có đó bỏ đăng có trăng quên đèn”… Nhưng chính dụng ý thật nhân văn ở chỗ không hề là kiểu “gieo gió gặt bão” mà là vẫn còn một bến quê bao dung thuần hậu chở che. Những nhánh nhỏ luôn còn dù len lách dù quanh co chảy miết để nối được với dòng chính. Cuộc sống vừa sòng phẳng vừa bao dung như không có kinh cùng không bao giờ là hết lối.

Đó cũng là chất nhân hậu nhiều nữ tính của nhà văn Nguyễn Lập Em. Trên nền cảnh sông nước và rượu đế kinh rạch và đờn ca chị đã dựng nên câu chuyện khá gần gũi dung dị với ngôn ngữ phong hóa rất Nam Bộ. Và trên hết là ý nghĩa kín đáo nhiều dụng công quanh chi tiết kinh cùng trường giang. “Bến nước Kinh Cùng” là cái bến đẹp kín đáo minh triết và đầy tính nhân văn của một truyện ngắn.

LHL

 

 

 

 

 

More...

MÙA BIỂN VẮNG / 3705/phát 9/4/2011

By Gã Phu Xe bất tử (Mai Thìn)

MÙA BIỂN VẮNG / 3705/phát  9/4/2011

 

Truyện ngắn . NGUYỄN THÁI SƠN

 

Tôi hết sức bất ngờ trước lời đề nghị của Thứ anh rể tôi. Bất ngờ vì lần đầu tiên ở làng Ngòi một làng đồng bằng Bắc bộ thuần nông làm lụng quanh năm chỉ đủ ăn lại có người dám làm cái việc mà hầu hết những người nông dân coi là xa xỉ dửng mỡ.


- Cậu sắp xếp công việc cơ quan đi. Thứ bảy này mời cậu vào Sầm Sơn nghỉ mát với anh chị một chuyến.


Tôi không tin vào tai mình hỏi lại:


- Anh bảo em đi Sầm Sơn?
- Thế cậu tưởng tôi đùa à?
Tôi làm phép tính nhanh. Đi ngắn nhất ba ngày hai đêm mỗi người cũng phải tiêu hết tiền triệu. Quy ra thóc phải bằng công cầy cấy cả vụ một sào ruộng “nhất đẳng điền”. Không muốn anh chị mình tốn kém thêm tôi viện lý do:


- Hôm ấy cơ quan em có cuộc hội thảo em không đi được đâu.
- Nếu bận hội thảo thì vợ chồng tôi hoãn lại chờ cậu.
Anh Thứ nói chắc như đinh đóng cột dồn tôi vào thế chân tường. Tôi đành phải nhận lời.


Bốn giờ sáng thứ tư ngày kỷ mão tôi anh Thứ chị Lệ có mặt ở bến xe đi Thanh Hóa. Thấy chỉ có ba người tôi hỏi:


- Sao anh chị không đưa đứa cháu nào con thằng Thực đi? (Thực là con trai duy nhất của vợ chồng anh Thứ nó đã có vợ và hai con. Hiện hai vợ chồng công tác ở Sở nội vụ tỉnh).


- Ối dào đưa nó đi ai mà dỗ được khi nó quấy khóc dai như đỉa đói - Chị Lệ than phiền.


Xe chạy hết ba tiếng đồng hồ thì đến thị xã Sầm Sơn. Chuyển hành trang vào phòng nghỉ chị Lệ phải đi nằm ngay vì say xe. Anh Thứ xem đồng hồ thấy vẫn còn sớm rủ tôi ra bãi biển. Biển vắng. Bãi tắm hun hút thấp thoáng những bóng người. Ở phía xa nơi hàng dương xanh có những con thuyền xếp hàng cằn cỗi như chúng được sinh ra từ cát và ở đó đã rất lâu rồi. Vài cặp trai gái đùa giỡn với lớp lớp sóng xô sạt xòa bọt trắng xóa theo cung bậc xì xào đã được mặc định. Gió ào ào vẽ lên mặt cát hàng trăm hàng ngàn đường kẻ vòng vèo song song tăm tắp. Hàng quán trơ ra những dãy ghế không người những ánh mắt ông chủ bà chủ hờ hững nhìn mặt biển đang vồng lên thăm thẳm. Hai chúng tôi đến cái mỏm núi nhô ra biển có những phiến đá lô xô và một bãi cát nhỏ tịnh không một bóng người. Anh Thứ đưa chân xuống làn nước biển:


- Mát lắm cậu ạ. Hai anh em “truổng cời” tắm một cái đi tắm thế cho thoải mái.
Anh nhìn tôi ánh mắt như cầu khẩn như sai khiến. Tôi gật đầu. Sóng biển dập dềnh anh Thứ ngụp lặn như trong ao nhà mình rồi tô hô đi lại. Anh leo lên một phiến đá vuốt mái tóc lưa thưa về phía sau:


- Này cậu vào đây tôi bảo.


Nghe anh gọi tôi bơi vào vẫn ngồi dưới cát nhìn lên.


- Cậu thấy tôi thế nào? Anh hỏi.


Tôi nhìn thoáng qua. Anh vẫn thế. Thấp đậm bụng hơi xệ gương mặt góc cạnh không có một sợi râu nên nhìn như trẻ hơn tuổi năm mươi chín. Lần đầu tiên tôi thấy anh ở trạng thái trần như nhộng mới biết anh có làn da trắng quá. Tôi đáp:


- Anh vẫn thế. Nhưng cái bụng hình như to ra thì phải.


- Có thế thôi à?


Tôi không hiểu anh định nói gì gật đầu:


- Vâng.


Anh quay người đối diện cố ý để lộ cái bộ phận của đàn ông ngay trước mắt tôi.
- Cậu thấy gì chưa?


Tôi xấu hổ quay mặt đi nhưng không cưỡng lại được sự tò mò liếc nhìn. Trời ơi! Bộ phận sinh dục của anh gần như không có. Nó bé tý tẹo như con ốc vặn như cái núm vú cao su bình sữa của trẻ sơ sinh.


- Tôi chưa bao giờ thực sự là đàn ông. Tôi không thể có con cậu ạ.


Anh nói thế rồi vội vàng mặc quần áo. Gương mặt đỏ như trái gấc chín phăm phăm anh bước lên bờ. Tai tôi ù đi.


*
*     *


Cả buổi trưa tôi đứng ở ban công nhìn ra biển lòng dạ nôn nao hàng trăm câu hỏi vẫn chưa tìm được lời giải. Sự thật mà anh Thứ cho tôi biết không phải chỉ biết một sự thật. Bởi có thế thôi thì cần gì phải đi hàng trăm cây số đến tận nơi này để nói. Tôi đoán già đoán non. Đây mới là khởi đầu câu chuyện khởi đầu của những điều bí mật đã được vợ chồng anh Thứ giấu giếm mấy chục năm qua. Nhìn đồng hồ đã ba giờ chiều tôi nôn nóng gõ cửa phòng vợ chồng anh. Anh Thứ vẫn ngủ chị Lệ đã dậy đang ngồi vuốt phẳng những đồng tiền có mệnh giá năm trăm một ngàn nhăn nheo mốc mác.
- Chị ơi đi dạo biển với em - Tôi mời chị Lệ.


- Ừ. Chị cũng đang định sang bảo cậu.


Chị đứng lên búi tóc. Tóc chị muối nhiều hơn tiêu lưa thưa nhìn rõ cả da đầu. Năm tháng khắc nghiệt chị tôi già đi nhanh quá đuôi mắt đã phủ đầy những nếp nhăn.
Tôi dẫn chị đến cái mỏm núi nhô ra biển lô xô những phiến đá nơi sáng nay tôi và anh Thứ tắm. Chị tháo dép ngồi xuống một thân cây phủ đầy rêu khô mốc nhìn những con thuyền dật dờ ngoài xa buồn rười rượi. Thấy thế tôi không dám hỏi thẳng mà lân la:
- Sáng nay em và anh Thứ tắm ở đây. Anh Thứ bảo: anh ấy không phải là đàn ông.
Chị Lệ bỗng òa khóc tức tưởi hai tay bíu lấy vai tôi:


- Đúng anh ấy không phải là đàn ông. Đã ngót ba chục năm rồi anh chị cố tình giấu kín chuyện này nhưng không hiểu sao thời gian gần đây anh Thứ cứ hối thúc chị phải nói ra sự thật. Thứ bảo: nói ra sự thật để có cớ đi tìm cha đẻ cho thằng Thực để thằng Thực có cội có nguồn. Chị nhất định không nghe chị ngại xới tung sự yên ấm mà mình đang có. Nhưng bây giờ chính anh Thứ đã nói ra chuyện ấy thì chị chẳng còn gì mà phải giấu cậu nữa.


Chị Lệ xoay người ngồi hướng về nơi những con thuyền nằm trên bãi cát. Gió lấn lướt. Mặt nước có đàn cá nhỏ lấp lánh như sợi thủy tinh nhao lên ngụp xuống rồi mất hút trong lòng đại dương mênh mông.


- Vậy thì thằng Thực là con của ai? - Tôi hỏi trong sự nôn nóng không kìm hãm được.
Giọng chị Lệ như vọng về từ nơi rất xa xôi:


- Đầu năm 1970 quê mình có trại điều dưỡng thương binh gọi là đoàn N96 cậu còn nhớ không?


Chị hỏi nhưng không đợi câu trả lời của tôi nói luôn:


- Thương binh ở trại toàn người miền Nam phần lớn đều mang những vết thương trầm trọng. Trong số ấy có một người bị thương ở vùng sọ não anh tên là Huấn cán bộ an ninh Sài Gòn - Gia Định. Nghe nói trong đầu anh vẫn còn một viên đạn lấy ra thì chín mươi chín phần trăm là chết. Vì vậy phải để nguyên viên đạn trong đầu. Huấn bị bệnh tâm thần phân liệt mất trí nhớ hoang tưởng. Hộ lý chỉ sơ sểnh là anh bỏ đi lang thang chưa khi nào biết đường về trại. Anh có thể đi thâu đêm suốt sáng nhặt được cái gì dọc đường sẽ đến nhà ai đó gần nhất để cho. Huấn hiền gặp ai cũng cười hạn hữu lắm mới nói một vài từ không rõ nghĩa.


Chị Lệ dừng lại bứt một sợi dây leo cười mơ hồ:


- Năm ấy chị hai mươi nhăm tuổi nhân viên cửa hàng mua bán xã. Hai mươi nhăm tuổi ở quê thuộc diện gái ế gái đã về già. Một đêm tháng chạp rét cắt da sương muối rơi nhí nhách hàng Tết về nhiều phải gói buộc chia ra thành từng túi khuya chị mới đi ngủ. Đúng lúc đó có tiếng gõ cạch cạch ngập ngừng nhìn qua khe cửa chỉ thấy một mầu đen đặc. Chị hỏi: “Ai đấy”? Không có tiếng trả lời. Sợ tháng “củ mật” bọn trộm cắp lưu manh rình rập chị lấy chiếc ghế băng chẹn thêm vào cửa. Ngày ấy cửa hàng chỉ là nhà tạm dưới những bức vách đất có khe hở chị thấy một cánh tay đẩy những chiếc lờ chiếc đó bẹp rúm vào. “Cá cá đấy”. Người đó nói. Chị nghĩ chắc đây không phải người lạ liều ra mở cửa. Nhờ ánh đèn sáng hắt ra chị thấy một người đang ngồi co ro quần áo ướt nhếnh loáng chắc anh ta vừa từ dưới đầm thả cá lên. Anh rét run bần bật chị nghe thấy cả tiếng hàm răng va vào nhau. “Vào nhà đi ngồi đấy để chết rét à”? Chị kéo áo anh ta. Anh ta đứng lên ngoan ngoãn vào nhà. Lúc ấy chị mới nhận ra người đó chính là Huấn. Đêm khuya cửa hàng xa nhà dân vả lại Huấn là thương binh không còn cách nào khác chị phải cởi bộ quần áo ướt của Huấn ra bắt anh ta lên giường đắp chăn cho khỏi bị cảm lạnh. Chị nhủ thầm để cho anh ta ngủ còn mình sẽ ngồi gói hàng chờ trời sáng.


Nói đến đây mặt chị Lệ bỗng đỏ bừng giọng ngắc ngứ:


- Cậu ạ. Từ lúc đó chẳng hiểu sao chị cứ như người say rượu. Gói hàng đến đâu hỏng đến đó. Vồng ngực… cái mùi đàn ông của Huấn làm chị váng vất người cứ bừng bừng như lên cơn sốt. Nơi bàn tay Huấn đặt lên vai lên cổ chị lúc cởi bỏ bộ quần áo ướt nóng rãy… Có một đám cháy rừng rực trong mắt Huấn…

 
Sáng. Lúc ấy sương đã tan. Có tiếng gọi của anh Thứ cửa hàng trưởng chị mới giật mình bừng tỉnh hoảng hốt mặc quần áo và nhìn xem Huấn đang ở đâu? Không thấy Huấn không thấy cả bộ quần áo nữa. Anh ta đã dậy đi từ lúc nào. Chị thở phào nhẹ nhõm.


Sau tiếng thở phào ấy không lâu chị phát hiện ra mình có thai. Chị làm đủ mọi cách trong dân gian để tống bằng được nó ra nhưng hình như càng làm càng thấy cái thai trong bụng mỗi ngày một to lên. Đến tháng thứ ba thì chị thất vọng suy sụp hoàn toàn. Không có cách nào chứng minh đứa con trong bụng mình là con của người thương binh tâm thần. Nói ra có khi người ta lại nghĩ: mình lăng loàn rồi lợi dụng anh Huấn tâm thần để đổ vấy mong thoát tội. Như thế thì càng khốn nạn hơn. Chị chưa thấy ai bị cắt tóc bôi vôi thả bè trôi sông nhưng chị đã chứng kiến cô Thóc làng ta chửa hoang bị họ hàng ruồng bỏ dân làng ghẻ lạnh. Chị nhủ thầm nếu mình như thế thà chết còn hơn.


Cái thai bước sang tháng thứ tư. Những vòng dây quấn quanh bụng trở nên bức bối khó chịu khiến chị lúc nào cũng vã mồ hôi. Một đêm đi xem đoàn chèo Trung ương biểu diễn vở Quan âm thị Kính hình ảnh của Thị Mầu làm chị run lên. Chị cảm giác hình như đang có rất nhiều cắp mắt nhìn vào cái bụng của mình. Chị thấy lại hình ảnh cô Thóc đẻ con trong cái lều vó hoang năm nào hình ảnh bố mẹ cô cúi đầu bước đi trước những lời nói bóng gió của dân làng mà thấy lạnh cả người. Mình không thể để như cô Thóc được. Không còn lòng dạ nào để xem hết vở chèo chị về cửa hàng viết một lá thư để lại rồi chạy như người điên ra sông Đáy. Dạo ấy mưa xuân lay phay hoa xoan rụng trắng hai ven đường. Mưa đã làm cho chị tỉnh táo can đảm hơn lên. Chị đến cái cống điều tiết nước thủy nông ngồi trên bức tường bê tông sát mép nước khóc như mưa như gió. Có một con thuyền đi về hướng biển chị nhìn thấy cánh buồm trắng mờ mờ. Chị quyết định khi đợi con thuyền ấy đi qua sẽ lao mình xuống. Đúng lúc đó có một bàn tay đặt lên vai chị. Giật thót cả người chị quay lại. Bàn tay ấy là của anh Thứ cửa hàng trưởng. Thứ bảo: “Em hãy nghe anh về đi. Chuyện của em anh không tường tận nhưng anh cũng đoán ra được phần nào qua cái buổi sáng có anh thương binh tâm thần từ cửa hàng đi ra. Vì chính anh đã đưa người thương binh ấy về trại điều dưỡng”. Anh Thứ nâng bổng chị lên đặt xuống đất. Chị òa khóc nói với anh Thứ: “Anh ơi anh hãy cứu em”. Thứ bảo: “Cứ về nhà đã rồi anh sẽ tính”. Thế là ngay ngày hôm sau cứ chiều tối Thứ lại đạp xe kèm chị đi hết ông lang này đến bà lang khác tìm cách cho cái thai ra. Hai bà lang đều bảo: “Thai to quá rồi phá thất đức lắm”. Họ không làm. Chị như kẻ cùng đường quỳ xuống van xin anh Thứ: “Hay anh nhận làm cha đứa bé”. Anh Thứ bảo để anh suy nghĩ mấy hôm. Ba hôm sau anh nhận lời.


Chị Lệ nhìn tôi cười trên gương mặt vẫn nhạt nhòa nước mắt:


- Hồi ấy cậu còn đóng quân trong Nam có nhận được thư báo tin chị và anh Thứ làm lễ cưới không?


Tôi cố nhớ lại bởi đã mấy chục năm rồi. Đúng là có nhận được một lá thư của chị. Tôi gật đầu.


*
*     *


Buổi tối chúng tôi ngồi trên cát sát nơi những làn nước của sóng biển tràn lên. Cả một vùng trời nước mênh mông mở ra trước mắt. Ở nơi rất xa có những ánh đèn nhấp nhánh. Ánh đèn không chỉ mang đến cho tôi cảm giác xa xăm huyền bí mà còn len lỏi nỗi niềm cô đơn nỗi buồn vời vợi. Gió lồng lộng thổi dọc hàng dương. Chị Lệ bảo:


- Rét lắm tôi phải về trước hai anh em về sau nhé.


Còn tôi và anh Thứ. Anh rót thêm rượu vào chén:


- Chiều qua chị Lệ đã nói gì với cậu?


- Chị Lệ kể với em về đám cưới của anh chị.


Anh Thứ cười tiếng cười khô rời rạc và buồn bã:


- Tính đến nay tôi và Lệ cưới nhau đã được hai mươi chín năm bảy tháng sáu ngày. Cậu biết rồi đấy: tôi người chẳng ra người. Nên đám cưới chỉ là sự đánh đổi bi kịch này lấy bi kịch khác. Khi tôi đưa chị cậu đi ba bốn nơi tìm cách phá thai mà không được chị cậu đã xin để tôi nhận làm cha đứa bé. Thực sự lúc ấy trong thâm tâm tôi vô cùng sung sướng. Vì làm cha đứa bé nghĩa là tôi cưới chị cậu. Tôi sẽ là người chồng người đàn ông thực sự. Giả đò để mấy ngày suy nghĩ nhưng tôi chẳng phải nghĩ ngợi gì cả.


Ngay đêm đầu tiên đêm tân hôn tuy chị cậu đã biết kìm nén cảm xúc bàng hoàng thất vọng vì tôi không chỉ là chồng mà còn là ân nhân nhưng nước mắt vẫn tuôn ra ướt đầm chiếc khăn phủ gối. Những đêm sau đó không phải chỉ là tiếng khóc âm thầm mà còn là sự vật vã kìm nén. Tôi đã nhiều lần thấy Lệ trước khi đi ngủ  ăn cả nẹn rau răm. Khi Lệ sinh thằng Thực da dẻ thay đổi hẳn. Chị cậu còn xinh đẹp hơn cả tuổi dậy thì rực rỡ hừng hực. Tôi bất lực không thể làm gì được trước sắc đẹp ấy nên trở thành kẻ độc ác từ lúc nào không biết. Tôi ngấm ngầm theo chân vợ như thằng việt gian. Ghen và nghi kỵ với tất cả những thằng đàn ông giận dữ thì lao vào cắn xé. Tôi luôn luôn nghĩ rằng mình được quyền làm điều đó vì mình đã cứu một người khỏi điều tiếng xấu xa.Vợ chồng hạnh phúc là gì hở cậu? Theo tôi chỉ cần tình yêu là đủ. Nhưng tình yêu phải là tình yêu trai gái tình yêu giữa giống đực và giống cái giữa âm và dương giữa đất và trời. Tôi và chị của cậu không được như thế. Nó chỉ là sự kết hợp của hai số phận mang những bi kịch trái ngược nhau và giống nhau là cùng muốn che đậy.


Anh Thứ dừng lại uống liền hai chén rượu. Tôi ngỡ ngàng trước những lời nói đầy tính triết lý của anh. Triết lý của người trong cuộc.


- Này cậu giá mà ngày ấy cưới Lệ được một hai năm chúng tôi ly dị thì hay biết bao – Anh Thứ dúi chén rượu vào tay tôi.


- Sao anh lại nói thế? Gia đình anh chẳng đang rất yên ấm đấy sao?


Anh Thứ lắc đầu:


- Không phải gia đình yên ấm chẳng qua vì chị cậu cam chịu. Chị cậu trả ơn tôi. Còn tôi thì cứ lợi dụng sự cam chịu ấy để cố tình che đậy giữ cái hãnh diện là thằng đàn ông của mình. Gần ba mươi năm ấy là gần ba mươi năm chịu đựng lẫn nhau.
- Vậy bây giờ anh tính sao?


Câu hỏi của tôi có lẽ là câu hỏi mà anh Thứ chờ đợi. Anh ngồi hẳn dậy:
- Bây giờ mình phải là mình. Anh đã tính kỹ rồi tất cả phải nhờ đến cậu. Việc thứ nhất: Cậu là nhà báo nhà văn quan hệ rộng vào Nam ra Bắc liên tục bằng cách nào đấy hãy tìm anh thương binh ở đoàn N96 cho thằng Thực có cha có cội có nguồn. Việc thứ hai: Việc này tôi chưa bao giờ nói với Lệ và xin cậu cũng đừng nói. Việc ấy là: Sau khi tôi đi rồi cậu hãy chọn một dịp thuận lợi. Tốt nhất là khi tìm được tung tích người cha của Thực để đưa lá đơn ly hôn này cho chị Lệ. Ly hôn là giải pháp tốt nhất để giải phóng cho chị cậu và cả cho tôi. Bây giờ tuy muộn nhưng còn hơn cứ sống mà phải che đậy mãi thế này.


Tôi như người giẫm phải lửa vội đẩy cánh tay anh Thứ đang cầm tờ giấy ra:
- Không. Không thể như thế được. Tìm cha cho thằng Thực em sẽ làm còn cầm lá đơn ly dị này thì không bao giờ. Anh không được làm thế.


Thấy tôi kiên quyết quá anh Thứ dịu giọng:


- Ừ thì cậu chỉ giúp anh một việc tìm cha cho thằng Thực cũng được.


*
*      *


Đêm. Tôi thức nằm lắng nghe tiếng sóng biển xì xào. Câu chuyện nỗi lòng của anh Thứ làm tôi lo lắng không yên. Tôi không muốn mất anh mất một người hiền từ mà cả nhà tôi ai cũng quí.


Sáng. Tôi vùng dậy đẩy cửa. Biển vẫn còn mù sương. Thấy có chiếc phong bì ai đó để trên bàn tôi cầm lên. Đơn ly hôn của anh Thứ. Rụng rời hốt hoảng tôi chạy sang phòng anh. Cửa mở chị Lệ đang đứng ngoài ban công. Gương mặt vẫn như muôn thủa rười rượi phảng phất buồn. Tôi hỏi anh Thứ đâu? Chị Lệ bình thản:
- Anh cậu ra bến xe từ lúc bốn giờ. Anh ấy bảo tranh thủ vào Lâm Đồng thăm bố mẹ các em cuối tháng sẽ về.


Người tôi bỗng nhiên rã rời bải hoải. Trong tâm tưởng tôi hiện lên hình dáng anh Thứ mặc bộ đồng phục nhân viên bảo vệ khoác chiếc ba lô cóc bạc mầu đang lầm lũi cô độc đi trên con đường mòn vào những triền đồi cao của khu kinh tế mới Bảo Lộc Lâm Đồng. Tôi chị Lệ cả nhà đã mất anh. Nước mắt tôi ứa ra. Không thể để chị Lệ biết tôi quay ngoắt về phòng. Có tiếng chị với theo:


- Anh đi rồi ở  đây có hai chị em mùa biển vắng buồn lắm. Chiều ta về đi.


- Vâng – Tôi trả lời. Chị đâu có biết tôi buồn hơn cả chị.


Thế là chuyến đi biển chỉ có hai ngày chúng tôi đã về nơi xuất phát. Về đến làng Ngòi nhìn lên dấu tích của trạm điều dưỡng N96 ở quê tôi những năm bảy mươi đến nay chỉ còn là rừng cây xanh mướt. Chỉ còn những câu chuyện kể về các anh các chị thương binh dần như huyền thoại.


Tôi viết những dòng này trong một đêm ở biển mong ai đó đọc nhắn giùm tới anh Huấn tới những người thân yêu của anh Huấn rằng: Chị Lệ cháu Thực và cả anh Thứ nữa đang đi tìm anh.

 

NTS

 

NguỒn: VN Q Đ

 

NGUYỄN ĐỨC THIỆN BÌNH truyện MÙA BIỂN VẮNG

 

 

MÙA BIỂN VẮNG trong truyện ngắn cùng tên của Nguyễn Thái Sơn thực ra chỉ là cái vắng lặng thường tình tự nhiên như người bình thường nhìn thấy. Nơi ấy có thể vắng bóng người vắng những con thuyền trên biển vắng cả những cánh hải âu bay lượn trên mặt nước bao la.  Một không gian thật yên tĩnh. Nhưng những nhân vật xuất hiện ra ở đó không hề yên tĩnh một một chút nào. Những cơn bão đang trỗi dậy làm tan nát cõi lòng mỗi con người. Đó là một người đàn bà. Vào lúc nhuận sắc nhất một đời người lẽ ra phải được yêu và yêu thật say đắm. Phải được ngã vào lòng người đàn ông mà mình yêu thương và được hiến thân một cách trân trọng và tha thiết nhất. Thế mà một phút yếu mềm cô đã chấp nhận một cuộc tình vụng trộm và nhanh chóng với một người thương binh bị tâm thần. Cuộc tình vụng trộm đầy nữ tính ấy khiến cô mang thai. Bắt đầu từ đó cô phải chấp nhận một cuộc sống không thật với chính mình.

 

Nhân vật thứ hai là một người đàn ông. Đến với biển vắng nhưng trong anh lại nổi cơn bão lòng thật dữ dội. Bao nhiêu năm nay bắt đầu từ sự cảm thông độ lượng của người đàn ông chấp nhận một người đàn bà đã có thai làm vợ dang cánh tay nhân ái ôm vào lòng mẹ con người đàn bà bất hạnh. Nhưng anh không lường được sự bắt đầu nhân hậu đó lại cũng bắt đầu một chuỗi bất hạnh kéo dài. Anh ta không phải là đàn ông cái thứ làm cho đàn ông đàn bà siết lại với nhau kia không làm được cái việc mà Adam và Eva làm thời xa lắc xưa mà nên chuyện di truyền nòi giống con người. Thiếu nó mà anh ta trở nên hèn nhát ghen tuông tỵ hiềm và người đàn bà phải chịu đựng tất cả những cái đó từ anh. Người đàn bà không được hưởng hạnh phúc làm vợ nhưng vẫn cứ chịu đựng mà sống chung. Bên ngòai cuộc sống bình yên của hai người mãi rồi cũng không che đậy được những bức bối bên trong của chính cuộc sống ấy. Dù thật đau khổ người đàn ông bỗng muốn trở lại sự nhân ái ban đầu để có thể giải phóng cho người đàn bà. Biển vắng chứng kiến sự thú nhận của anh ta. Biển vắng cũng là chứng nhân để anh ta gửi gắm sự gồng mình của anh ta khi thực hiện việc chia tay với người phụ nữ là vợ mình. Để chị có thể đi tìm được cha cho đứa con của mình và nếu có thể tìm được người có thể làm chồng!

 

Nhưng thật đáng buồn hành động của anh ta tưởng như là nhân đạo tưởng như là vị tha kia lại là hành động thật cay nghiệt với người đàn bà. Bao nhiêu năm nay bằng sự hàm ơn chị đã thủy chung làm vợ dù không thể làm vợ như bao nhiêu người vợ khác. Có nghĩa là cuộc sống vẫn có thể diễn ra bình thường. Bây giờ đây chị phải chịu đựng thêm một lần nữa sự mất mát của cuộc đời. Thật cay ngiệt. Xin cùng ngừơi đàn bà kia buông một tiếng thở dài.

 

NGUYỄN ĐỨC THIỆN

 

 Lời bình: “ MÙA BIỂN VẮNG”/ 9/4/11

 Nguyễn Mỹ Nữ

Đọc xong truyện ngắn "MÙA BIỂN VẮNG” tôi đã phải chùng lòng đã buồn lắt lay đã phải ngẫm ngợi và không thể không ngậm ngùi.

 

Sao mà trớ trêu đến thế một số kiếp đàn bà như là chị Lệ. Là chị ruột của người kể chuyện nhân vật xưng Tôi trong: “ Mùa biển vắng” của nhà văn Nguyễn Thái Sơn. Sao mà oái ăm đến thế một thân phận người như là anh Thứ chồng của chị Lệ. Họ đã có một cuộc hôn nhân ổn định một mái nhà yên ấm trong mắt mọi người hằng mấy chục năm trời. Dư luận thì thấy thế cộng đồng thì nghĩ thế nhưng chỉ họ mới thấm thía và đắng đót đến dường nào cái sự chung sống này cái gia đình này. Ngay cả nhân vật Tôi cũng chỉ vừa mới biết rõ sự thật mới hay được bi kịch của anh chị mình trong một lần cùng nhau ra biển. Thu xếp một chuyến đi nghĩ mát ở Sầm Sơn cho cả ba là ý muốn của người anh rể. Để có điều kiện được kể lại chuyện xưa để mong một thu xếp và có được sự giải quyết hợp lý cho tất cả.

 

Anh Thứ sao có thể làm chồng khi anh ấy không là đàn ông một cái từ: “đàn ông” theo cái nghĩa thật thà và đúng đắn nhất. Vậy thì anh đâu phải là bố của con trai mình một đứa con được dòng tộc và xã hội thừa nhận hẳn hoi. Không làm nổi chức năng của một người chồng đối với chị Lệ nên nghe ra anh đã rất đau đớn khi thấu cảm đến tận cùng đời sống lứa đôi qua  lời tâm sự với em vợ: “…Vợ chồng hạnh phúc là gì hở cậu? Theo tôi chỉ cần tình yêu là đủ. Nhưng tình yêu phải là tình yêu trai gái tình yêu giữa giống đực và giống cái giữa âm và dương giữa đất và trời. Tôi và chị của cậu không được như thế. Nó chỉ là sự kết hợp của hai số phận mang những bi kịch trái ngược nhau và giống nhau là cùng muốn che đậy…”

 

Sự che đậy ở anh Thứ ngoài những điều đã kể trên còn là một đám cưới với chị Lệ cách đây những hai mươi chín năm bảy tháng sáu ngày. Một đám cưới với những đánh đổi là sự ngầm hiểu giữa hai người. Những dàn xếp tưởng chừng là thông cảm là sẻ chia nhưng thực chất thì cũng chả sòng phẳng gì bởi anh Thứ đâu đủ can đảm thú nhận với chị. Thật Ê chề với người vợ ngay trong đêm tân hồn khi mọi thứ đều được phơi bày. Nhưng chấp nhận ê chề để tránh được cái nhục không chồng mà có chửa để con của mình có cha trong một cuộc hôn nhân hợp pháp.

 

Họ đã bắt đầu cuộc sống chung bằng chính những bi kịch như thế đó! Bi kịch riêng hóa thành bi kịch chung khi thành vợ thành chồng thêm với Thứ vai trò là ân nhân của vợ. Thêm với chị Lệ vai trò người mang ơn cần phải trả. Một người thì phải cam chịu và một người lại lạm dụng sự cam chịu này để thể hiện cái trên trước đàn ông. Kinh khủng thật! Khi họ đã sống bên nhau theo cái cách ấy đằng đẵng gần ba chục năm trời.

 

Thật may rồi anh Thứ cũng đã quyết định như thế. Một quyết định giải thoát cho cả hai khỏi những dằn xé dằng dặc của đời mình. Và giúp cho đứa con của chị Lệ còn có cơ hội để tìm ra người cha ruột thịt. Một quyết định quả thật rất khó khăn và muộn màng. Nhưng dẫu có trễ tràng cách mấy thì cũng phải một lần cho tất cả để họ còn có thể được sống nhẹ nhõm và bình yên. Thật sự tôi thích: “ Mùa biển vắng” có một kết thúc như vậy dẫu buồn. Một nỗi buồn không đặc sệch nặng trĩu mà mênh mang mênh mang.

 

Nguyễn Mỹ Nữ

   

 

More...

TIẾNG LỤC LẠC/3163/ 30/4/2011

By Gã Phu Xe bất tử (Mai Thìn)

altTIẾNG LỤC LẠC/3163/ 30/4/2011

NGUYỄN QUANG LẬP


Quá nửa đời người anh chị mới gặp nhau. Âu đó cũng là chuyện thường tình. Sau hai mươi mốt phát đại bác vang trời báo tin ngày toàn thắng có hàng ngàn cặp vợ chồng cách biệt hàng chục năm đã tìm lại nhau. 

Chồng Bắc vợ Nam chồng vợ trong ngoài song sắt nhà tù Mỹ - Ngụy trên rừng d­ưới biển… ôm nhau mừng mừng tủi tủi. Thế là may mắn lắm rồi còn bao nhiêu cặp vợ chồng cách nhau một thước đất mà gọi hoài có nghe tiếng nhau đâu!

Anh tìm chị ở Nha Trang không có ở Phan Thiết không có. Ra Đà Nẵng mất mười ngày long đong tất tả ngược xuôi thì gặp chị ở khu tập thể Ban quân quản phường Minh Hiếu. Chị đang đứng giữa sân tay ôm một đứa bé lên hai. Hình như­ chị đang nói gì với nó.

Anh đứng sững lại ở cổng ngực nh­ư bị kim châm hỏa đập mạnh. Ngày anh chị xa nhau hai người nào đã có con…

Nhưng anh đã bước lên - từng bước chậm và chắc “Tiến lên đi không có gì đáng sợ cả” đó là khẩu hiệu của riêng anh suốt ba mươi sáu năm mặc áo lính. Chị chưa nhận ra anh- “Lại một ông nào đến ban quân quản đề nghị hợp đồng trách móc kiện cáo chi đây”. Anh thấy chị rõ lắm. Chao ôi chị vẫn trẻ trắng xanh thế kia.

-Lành! - Anh kêu khẽ.

Chị mở to mắt nhìn. Chị lúng túng đặt đứa bé xuống đất vừa sửa lại mái tóc vừa nhìn anh chằm chằm. Anh dừng lại cúi xuống sửa lại quai dép. “Khỉ! Tại sao mình lại làm cái trò này nhỉ?” - Anh ngước lên.

-         Ơ! Trời!

-             Chị nhận ra anh kêu lên và đứng ôm mặt khóc. Anh chạy bổ tới dang rộng tay ôm ghì lấy chị. Chị bỗng giật mình đẩy mạnh anh ra. Anh kinh ngạc ngẩn ngơ… Chị ngẩng lên: “Ơ chồng mình kia mà chồng mình đó chớ ai!”. Thì ra đó là phản ứng tự vệ bản năng của chị - hai mươi mốt năm ròng có ai ôm ấp chị đâu!

-             Chị sà vào ngực anh nấc lên: “Anh ơi!’ Sao lâu…thế?…” Ngày chia tay anh hứa với chị chỉ hai năm là gặp nhau thôi mà…

-             Anh đưa chị về khu gia binh s­ư đoàn. Anh là đại tá tham mưu trưởng sư­ đoàn. Còn chị ròng rã hai mươi mốt năm xa anh chị vẫn là một cấp dưỡng của các binh trạm 17 26 34… Tin anh tìm được chị chỉ một ngày sau tất cả cán bộ chiến sĩ trong sư­ đoàn đều biết đến chúc mừng.

 Sư­ trưởng Hùng người đã cùng anh chiến đấu mười năm nay đến chơi liên tục chín mười tối liền ông không giấu diếm tình cảm đặc biệt của mình đối với vợ chồng người cán bộ cấp dưới này. Một lần ngần ngừ mãi ông hỏi anh: “Hỏi thực chị vẫn còn có thể… có con chứ?”. Anh mỉm cười: “Còn anh ạ. Cũng lạnhà tôi đã bốn sáu tuổi rồi!”. Sư trưởng nắm hai bả vai anh lắc lắc: “Tốt quá? Tốt quá!”

-             Chị vẫn còn sinh nở được nhưng yếu sức lắm rồi.

Mư­ời sáu năm ở rừng chị nhiễm bệnh sốt rét kinh niên. Da chị xanh nhọt tóc rụng nhiều vàng ợt. Đêm đêm anh ôm chị vào lòng. Chị lắng tai nghe nhịp tim anh còn khỏe không. Anh cũng đã già rồi năm nay đã năm bảy tuổi chứ ít đâu.

Rất nhiều lần chị ngước lên thấy kề sát mình khuôn mặt già nua của anh những nốt sần của tuổi già cùng với mồ hôi cộm lên…Chị ôm anh sờ thấy da lưng anh trơn khô - những lớp tế bào chết ngày mỗi dày thêm. Chị thở dài chỉ một năm nữa nếu anh chị không có con coi như­ hết. Tuổi sinh nở của phụ nữ mấy ai tới được tuổi năm mươi!

Sáu tháng trôi qua vẫn chẳng có dấu hiệu gì báo cho anh chị rằng sẽ có một đứa con. Anh mỏi mệt nhìn chị mỏng như­ tờ giấy ngủ khó nhọc. Một đôi lần: chị kêu chóng mặt buồn nôn. Và nôn thật. Nôn thốc tháo. Anh cuống lên nhưng cũng khấp khởi mừng thầm…

-Không phải đâu anh ạ. - Chị buồn rầu nói: - Em đã sáu lần ngộ độc chất độc hóa học của Mỹ thả dạo em còn ở “xanh” từ đó em vẫn hay bị thế này!

Cổ họng anh nghẹn tắc.

Sư trư­ởng Hùng vẫn đến thăm anh chị thư­ờng xuyên. Ông hay nói về những bài thuốc bắc “kéo dài tuổi trẻ hạn chế tuổi già”. Ông tự tay đánh xe ra viện 17 mời trung tá bác sĩ Lê Giàu bạn chiến đấu của ông thời kháng Pháp một chuyên gia có tiếng về khoa sản vào khám bệnh cho chị.

Bác sĩ Giàu là một người hiền lành đa cảm. Nghe sư trưởng kể lại hoàn cảnh của anh chị ông vui vẻ nhận làm một “bác sĩ riêng” cho chị. Ông tỉ mỉ kê đơn tất cả các loại thuốc có thể có trong thành phố này để chị uống gia tăng thêm sức khỏe. Anh cầm thư­ giới thiệu và đơn thuốc của bác sĩ đi lùng khắp nơi và kiếm được không thiếu một thứ thuốc gì trong đơn kê kể cả những thứ thuốc quý hiếm nhất.

Đêm đêm anh vẫn ôm chị vào lòng. Mỗi đêm trôi qua chị càng thấy sự bất lực của hai người trước hy vọng của mình. Có đêm chị đã để tay lên mũi anh cố tình đánh thức anh dậy rồi chị lại nằm ôm anh khóc. Chị đâu nỡ đày đọa anh như­ thế nếu trước khi chia tay anh kịp để lại cho chị một dứa con.

Một đứa con! Thiếu nó mà nỗi nhớ thương xa xót của chị về anh suốt bao nhiêu năm đã tăng lên gấp bội. Những ngày ở rừng cứ nghe tin có một đoàn cán binh nào sắp đi qua là chị lại thấp thỏm mong chờ. Mong chờ và ngồi khóc với bếp lửa rừng.

Có một lần dạo chị còn cấp dưỡng ở binh trạm 26 nghe tin anh đang nghỉ chân ở binh trạm 34 chị gói cơm một mình cắt rừng đi suốt hai ngày đêm. Đến nơi chị kiệt sức và xỉu đi vì người đàn ông tên Chi đó không phải chồng chị. Anh ấy đã cầm tay chị nói một câu mà chị không thể quên được: “Thôi chị về đi. Vui vẻ mà về chị ạ. Chị cứ coi như­ chị đã gặp anh ấy rồi. Và tôi tôi cũng coi như­ đã gặp vợ tôi rồi. Chị ơi! Trong chiến tranh đôi khi cũng phải có những giả sử huyễn hoặc như­ thế để mà sống để mà trụ vững được…”.

Chị về cố gắng níu kéo cái niềm vui “giả sử” ấy để vượt qua 39 cây số rừng. Khu rừng chị đi qua vừa bị chất dốc hóa học dội xuống lá rừng bắt đầu rụng. Chị chạy sấp ngửa và ngã sấp bên một con suối. Tỉnh dậy chị gặp ngay ánh mắt người binh trạm trưởng: “Có… gặp không?”. Chị ứa nước mắt khẽ gật đầu: “Gặp rồi”. Mới đó đã mười một năm… Có lẽ vì chất độc ma quỷ ấy mà chị không có con chăng? Câu hỏi đột ngột ập đến cuối ký ức của chị làm chị bất ngờ ngồi dậy mồ hôi ướt đẫm.

Nhưng cuối cùng chị đã mơ hồ nhận thấy hạnh phúc đã về với anh chị. Khi đó chị ngước lên vẫn khuôn mặt già nua của anh lấm tấm mồ hôi. Chị rơm rớm nước mắt. Tự nhiên chị khẽ rùng mình. Một cảm giác mát rượi chạy từ gót chân lên môi chị. Chị níu anh xuống hôn đến nghẹt thở và chị òa khóc. Một chút ngơ ngác của anh. Mặc kệ. Chị rúc đầu vào nách anh mỉm cười.

Hạnh phúc đã thực sự đến với chị. Nhưng chị chưa thông báo cho anh hay. Chị phấp phỏng chờ đợi cho đến khi nó hoàn toàn chắc chắn. Một tháng sau chị vén áo lên thấy hai núm vú của mình đã chuyển màu tím sẫm. Chị ngắm say sưa bầu vú của chị đang căng dần… lúc đó chị mới nở một nụ cười mãn nguyện.

 Chị đ­ổ bệnh nôn và nhiệt độ tăng cao. Anh phải nghỉ việc một ngày. Trong sự mệt mỏi nhức nhối của cơn bệnh chị nhận ra đứa con thân yêu của chị đang thành hình. Đến ngày thứ ba chị tỉnh dậy ngồi tựa vào lưng anh thì thầm:

- Em… đã… có… mang…


Anh rú lên ôm chặt chị hỏi:


- Có đúng không? Xem nào!


- Xem gì kia? Vô duyên. - Chị đỏ mặt đẩy anh ra. Anh ngượng nghịu ngồi bên ôm vai chị lắc lắc:

- Đúng thế hả em?


Chị không trả lời lặng lẽ hôn lên đôi gò má cao gầy của anh. Đêm đó anh ngồi hút thuốc cho đến sáng chị giục anh mấy chục lần anh cũng chẳng chịu chợp mắt.


…Cuối buổi giao ban hàng ngày anh quay sang nói với sư­ trưởng:


- Anh Hùng này vợ tôi… có thai rồi?


Sư­ trưởng Hùng ngửa người ra sau:


- Thế hả? Có chắc không? Anh đã kiểm tra chưa?


Anh cười gãi đầu:


- Tối biết thế nào mà kiểm tra. Vợ tôi nói thế… chắc đúng. Một tháng năm ngày rồi…

 

Ông Hùng đưa tay giật giật cổ áo mỗi lần xúc động ông thường làm thế


-Tốt quá! Tốt quá rồi!

Ông quay sang thông báo “tin mới nhận được trong ngày” cho các sĩ quan dự giao ban

-         Tin mới toanh: Đại tá Chi sắp có con!

Mọi người ồ lên. Bắt tay. Bắt tay. Bắt tay. Cười. Cười râm ran. Anh cười… ứa nước mắt.

          Ngày sau đó khu gia binh râm ran chuyện vợ chồng đại tá Chi sắp có con. Vợ các sĩ quan kéo đến chia vui với chị. Chị ngồi lặng lẽ nghe các chị đã có con bày vẽ cho cách giữ gìn thai: ăn thứ gì kiêng thứ gì đi đứng ngủ ngáy ra sao. Chị nghe rồi mường tựa thấy đứa con của mình: khôi ngô bụ bẫm nó chập chững lần thành gi­ường đi về phía ba nó. Chợt nó kêu: “Pa! Pa!” và vẫy vẫy tay nhờ ba nó dắt qua một quãng khó điTiếng người nói quanh chị nhỏ dần quyện lại bồng bềnh trôi mơ màng như­ một bản nhạc nhẹ nhàng êm dịu…

          Đêm khuya khi chị đã chợp mắt được một lúc tỉnh dậy thấy anh đang lục lọi va li riêng của mình. “Tìm gì vào lúc này nhỉ?”. Chị nghiêng người nhìn anh. Anh ngẩng lên hớn hở:

-         Đây rồi!

Anh chìa cho chị xem tấm ảnh của anh thời còn bé:

-         Thằng con của chúng ta sẽ giống nh­ư tôi… như thế này.

Chị lườm anh:

- Biết là “thằng” hay “con” mà đã…

Anh ngẩn người “ờ nhỉ! ” rồi cười xòa.


- Nhưng thế nào nó cũng giống tôi.

Tháng sau tháng sau nữa… Chị bắt đầu đi lại khó khăn. Da chị đã xanh càng tái xanh hơn. Anh tích cực bồi dư­ỡng cho chị. Sư­ trư­ởng Hùng tặng chị một lít mật ong trộn rư­ợu trắng với lòng đỏ trứng gà. Bác sĩ Giàu vẫn thường xuyên đạp xe đến thăm thai cho chị. Chị đang sống trong thời kỳ sung mãn nhất của hạnh phúc thì đột nhiên đổ bệnh. Lần này nặng hơn đến nỗi sư trưởng Hùng có đêm phải thức trắng với anh ngoài hành lang phòng hồi sức. Bác sĩ Giàu trực tiếp chạy chữa cho chị ông nhận thấy khát vọng của chị đã trở thành nhiệm vụ khắc nghiệt đối với ông.


Bệnh của chị khá trầm trọng. Không chỉ suy dinh dưỡng thiếu máu vì tuổi già như­ một số ca bệnh thường gặp chị còn có một căn bệnh đáng sợ hơn đấy là chất điôxin của chất độc màu da cam đã ngấm toàn thân chị. Tất cả các bảng phân tích hóa nghiệm về chị đã cho ông khẳng định như vậy. Cố nhiên điều này thì ông giấu mọi người ông bình tĩnh chống trả quyết liệt với căn bệnh nguy hiểm của chị. Tin tưởng vào tay nghề của mình không bao giờ ông mất hy vọng.


Và rồi chị cũng đã khỏi bệnh. Chị ra viện tuy có yếu hơn vàng vọt hơn. Khi sắp đến ngày sinh nở hầu nh­ư chị đi lại không vững nữa. Anh dành tất cả thời gian rảnh ở bên chị. Anh trở thành cái nạng chống thực sự của chị. Chị mỗi ngày mỗi mệt nhọc uể oải hơn nhưng trên nét mặt vẫn không hề giảm đi niềm hân hoan của một phụ nữ đến cuối kỳ sinh nở bỗng nhiên có một đứa con.


Đêm anh vén áo chị lên ghé tai nghe tiếng đập của con mình. Anh nghe một cách nghiêm túc và kiên nhẫn. Rồi anh nằm xuống ngó lên cái lục lạc treo ở trần nhà. Cái lục lạc đã theo anh mười bốn năm nay khắp tất cả các chiến trường. Một người bạn chiến đấu trước lúc hy sinh đã trao lại cho anh: “Cứ mỗi lần thắng trận mày lại rung lên cho tao nghe thấy tao mừng”. Anh dã làm theo lời dặn đó chưa lúc nào quên.


Cái lục lạc làm bằng sừng dê được chuốt chạm trổ bằng bàn tay nghệ nhân mỗi lần rung lên nghe nh­ư tiếng trẻ con cười. Sau ngày toàn thắng nó được treo ở trần nhà. Ngày mai thằng con anh - không hiểu sao anh cứ nghĩ đó là “thằng” - lớn lên chỉ cần một tuổi thôi là anh đã giao lại cái lục lạc cho nó rồi. Nó có nghĩa vụ phải giữ gìn cái lục lạc cho hết đời mình. Để khi bố mẹ nó đã yên nghỉ dưới “suối vàng” mỗi lần thành công được một việc gì nó phải rung lên cho bố mẹ nó mừng…


Anh lại nhổm dậy vén áo chị ghé tai nghe tiếng con mình.


- Thôi mà!- Chị dịu dàng phản đối: - Anh làm phiền con quá.


Anh không chịu:


- Yên nào! Để anh xem con nó có ý kiến gì không?


Chị phì cười. Rồi chị cũng tự nhiên tò mò.


- Nó có “ý kiến” gì không?


Anh ngẩng lên đáp tỉnh khô:


- Không. Nó nhất trì hoàn toàn. Nhưng tại sao anh lại nghe “te- è te- è”… hay nó đang thổi kèn?

 Chị đập khẽ vào vai anh:


- Ông già ơi… ma bắt ông đi cho rồi.


Anh cười khà:


- Ngày mai anh sẽ giao cái lục lạc cho nó nó khỏi cần phải thổi kèn mệt


Và anh ôm hôn chị.


- Lão già này sẽ hỏi vợ cho thằng con lúc nó mười sáu tuổi.


- Lại “thằng”.


Nhất định là “thằng”lão già này đã nằm mơ thấy lão và con lão đến nhà bố vợ nó rồi!
***
Ngày đứa trẻ ra đời đã đến.

Chị run rẩy bước vào phòng hộ sinh. Hai nữ y tá dìu chị từng bước một lên bậc tam cấp. Bác sĩ Giàu đứng chờ ở cửa ông trực tiếp đỡ đẻ cho chị bởi vì ông biết chắc đây là một ca đẻ khó. Sau lưng chị là anh sư­ trư­ởng Hùng và gần sáu mư­ơi sĩ quan cùng s­ư đoàn. Họ hồi hộp ngóng theo bóng chị. Bác sĩ Giàu khép cửa ông giơ tay chào ra hiệu cho mọi người “cứ yên tâm”.

Một giờ… hai giờ… ba giờ .. Anh đã uống liền mấy cốc nước đầy. Sư­ trưởng Hùng thỉnh thoảng lại đưa tay rung rung cổ áo. Một vài sĩ quan ghé tai vào khe hở căn phòng chờ nghe tiếng trẻ khóc. Bốn giờ… năm giờ… một nữ y tá mở cửa bước ra lập tức chị bị giữ lại:

- Ra sao rồi?


- Chị Lành sinh rồi. - Chị y tá mỉm cười nói run run - Con trai


- A! Hoan hô!

Mọi người nhẩy lên. Sư­ trưởng Hùng ôm lấy anh lắc rất mạnh. Anh quay cuồng trong niềm vui sướng tột độ. Chợt anh nghĩ đến cái lục lạc mà anh nhớ mang theo khi đem chị vào vào viện…

Trong phòng hộ sinh. Chị nằm lịm đi sau khi đã hỏi “trai hay gái” và mỉm cười sung sướng được bác sĩ Giàu cho biết: con chị là con trai. Đứa bé đã được đưa sang phòng hồi sức thai nhi. Người hộ sinh già đang “tắm” cho thai nhi trong bể nước hấp nhiệt. Bác sĩ Giàu đứng dựa vào tủ thuốc thở dốc. Điều mà ông cố gạt đi trong tiềm thức có lý của ông đã đến… Đứa bé là một con người dị dạng! Chân trái cháu bị bẻ gập ra sau cứng ngắc. Mặt cháu bị bóp méo đến ghê gớm: mí mắt trái phình ra rất lớn kéo xuống bịt kín toàn bộ gò má. Môi dư­ới cháu cũng phình to trệ xuống quá cằm.

 Không! Tạo hóa không tàn nhẫn như vậy. Chỉ có chất độc màu da cam đã ngấm với nồng độ rất cao trong cơ thể người đàn bà tội nghiệp kia mới gây ra như­ thế.

Người hộ sinh già làm việc với một thái độ điềm tĩnh kỳ lạ. Tự nhiên ông thấy ghét người hộ sinh kia. Ông cảm thấy bức bối khó thở:

-         Nước! Cho tôi ly nước.

-         Ông kêu to. Một trợ tá từ phòng trực vội vàng cầm ly nước bước vào. Đi ngang qua đứa bé chị đứng sững lại giật lùi… Choang! Ly nước vỡ tan tành. Chị ngồi thụp xuống lặng lẽ ngước lên nhìn bác sĩ Giàu.

Ông không nói gì khẽ thở dài đi về phía cửa sổ. Ông mở hé cửa nhìn ra. Ngoài sân mấy chục người lính đang quay tròn bên bố của đứa bé mới sinh. Anh đang giơ cao cái lục lạc rung rung nói như­ reo:

-         Tôi sẽ hỏi vợ cho nó lúc mười sáu tuổi.

Tiếng lục lạc vang lên nghe như tiếng trẻ con cười./.


Huế tháng 10 năm 1984

/N.Q.L
(12/4-85)Nguồn:http://tapchisonghuong.com.vn/index.php?main=newsdetail&pid=5&catid=47&ID=7523&shname=Tieng-luc-lac

 

 

Lời bình truyện  “ Tiếng lục lạc”. 30.4.11

 

Nguyễn Mỹ Nữ

 

Tôi đọc truyện ngắn này lần đầu cách đây trên chục năm. Đọc cũng những ngày cuối tháng tư như thế này và giờ cũng thời điểm đó được đọc lại vẫn rất buốt lòng vẫn thật xót xa. Nhận ra những cảm xúc mình có hồi đó chưa hề bị xóa nhòa mất hút. 

 

Anh chị chỉ mới được gặp lại nhau sau khi chiến tranh kết thúc “…Thế là may mắn lắm rồi còn bao nhiêu cặp vợ chồng cách nhau một thước đất mà gọi hoài có nghe tiếng nhau đâu…”  Chấm hết một đời riêng cũng có nghĩa là mở ra một đời chung với cuộc sống lứa đôi nhiều yêu thương sẻ chia và không hiếm những lo toan hệ lụy những khát khao hy vọng. Ước mơ có một đứa con được anh chị ấp ủ nuôi dưỡng dằng dặc cả một thời gian dài mà bởi chiến tranh nên không thể và giờ bùng cháy mãnh liệt. Những năm tháng đó họ còn trẻ và khả năng làm cha làm mẹ rất dễ dàng thì lại phải cách xa. Còn bây giờ: “…Rất nhiều lần chị ngước lên thấy kề sát mình khuôn mặt già nua của anh những nốt sần của tuổi già cùng với mồ hôi cộm lên…Chị ôm anh sờ thấy da lưng anh trơn khô những lớp tế bào chết ngày mỗi dày thêm…” Sự có thể đã không còn thuộc về con người nữa rồi. Có cảm giác anh chị đang chạy đua với thời gian mà đối thủ này mới đến là khốc liệt chứ! Sự thua cuộc gần như đã rõ và điều này khiến không chỉ riêng anh chị quắt lòng mà cả nữa sư trưởng Hùng cùng hết thảy cán bộ chiến sĩ trong sư đoàn. Những tình cảm mà mọi người dành cho anh chị nào chỉ bởi anh là tham mưu trưởng sư đoàn. Là tình đồng đội là tình người là tất cả…

 

Cuối cùng niềm ước mơ cũng đến với họ như một sự đền bù. Chị có thai và cả khu gia binh như bùng vỡ sự xúc động và niềm vui. Anh chị đã mường tượng về quãng đời trước mặt. Đã thấy đứa con mình khôi ngô bụ bẫm chập chững tập đi tập kêu ba gọi mẹ. Họ chìm ngập trong hạnh phúc trong sự chia sẻ và lo toan của biết bao đồng đội. Đáng kể nhất vẫn là sư trưởng Hùng. Hồi chị chưa đậu thai thì ông mách chỉ họ những bài thuốc bắc rồi nhờ một bác sĩ giỏi trực tiếp giúp đỡ. Còn khi biết chị đã có em bé và sức khỏe rất tệ thì ông đem đến cho chị các thứ để bồi dưỡng và cùng san sớt với anh những âu lo khó nhọc trong việc chăm sóc người bệnh.

 

Ngày còn chiến tranh chị đã bị ngộ độc chất độc hóa học của Mỹ đến sáu lần. Đã có lúc bi quan là có thể bởi đó mà mình không thể làm mẹ. Chị: một cấp dưỡng của các binh trạm chỉ có thế nghĩ được đến thế nhưng bác sĩ riêng của chị bác sĩ Giàu thì sao có thể đơn giản một cách nhận định như vậy. Ông biết chất điôxin đã ngấm toàn thân chị qua các bảng phân tích hóa nghiệm và như thế là khát vọng làm mẹ của chị đã trở thành nhiệm vụ hết sức nặng nề của ông. Điểm nhấn của truyện ngắn này tất nhiên là chiếc lục lạc: “ Cái lục lạc đã theo anh mười bốn năm nay khắp tất cả các chiến trường. Một người bạn chiến đấu trước lúc hy sinh đã trao cho anh: “ Cứ mỗi lần thắng trận mày lại rung lên cho tao nghe thấy tao mừng…” Lâu này kỷ vật này vẫn được anh treo trên trần nhà. Đó sẽ là món đồ đầu tiên anh giao cho con và dặn nó giữ gìn suốt cả cuộc đời mình. Để khi bố mẹ không còn mỗi lần thành công phải nhớ rung lên cho bố mẹ biết để mừng. Chị rồi cũng sinh được con trai như mong đợi của anh. Và hẳn là một đứa bé dị dạng. Đó là điều họ chưa kịp biết nên niềm vui vẫn choáng ngập tâm hồn người mẹ và người bố đứng giữa mấy chục người lính vây quanh mình chúc mừng đã sung sướng đến tột cùng khi cầm cái lục lạc trong tay và rung lên từng hồi.

 

Những tiếng rung không còn nghe như những tiếng cười trẻ con như vốn ra nó phải thế mà nghe như tiếng khóc. Tiếng khóc chất chứa bi lụy rồi đây sẽ ám vào đời họ bám riết lấy họ siết chặt họ cả quãng đời còn lại. Dẫu chiến tranh đã đi qua. Cuộc chiến đã kết thúc nhưng chưa bao giờ là kết thúc những bi kịch trong từng số phận con người. Thế nên niềm ẩn trắc đẫm gắt những đắng cay mà: “ Tiếng lục lạc” đã gợi ra và gieo vào tâm hồn chúng ta sẽ mãi còn nguyên đó.

…………………………………………………………………….

Nguyễn Mỹ Nữ

 

 

LỜI BÌNH TRUYỆN NGẮN TIẾNG LỤC LẠC CỦA NGUYỄN QUANG LẬP

Lê Hoài Lương/ 30-4-2011

 

Câu chuyện như đang hiện ra trước mắt ta sống động và chân thật từng chi tiết. Đến mức cứ ngỡ mọi câu chuyện ra đời của những đứa bé là hoài thai ảnh hưởng chất độc da cam đều phải đâu đó có hoàn cảnh na ná như vậy. Đó là cuộc gặp nhau của đôi vợ chồng khá muộn sau chiến tranh. Ở đây là đại tá tham mưu trưởng sư đoàn Chi và vợ chị Lành. Họ cố tranh thủ chút cơ hội còn ít ỏi của chị để được làm cha làm mẹ những cố gắng rất đời thường giản dị mà xúc động. Cố gắng chạy đua bù lại xa cách đằng đẵng của chiến tranh bổ sung cho hoàn hảo một mô hình gia đình thời hòa bình. Sự cố gắng của vợ chồng anh chị là mối quan tâm của cả sư trưởng Hùng của các sĩ quan bạn bè sư đoàn. Và cuối cùng khi chị có thai thêm một người nữa quan tâm: bác sĩ trung tá Giàu người bạn thân của sư trưởng giỏi nghề trực tiếp chăm sóc sức khỏe cho chị. Riêng bác sĩ Giàu biết chị đang nhiễm trong mình chất độc da cam ông dùng tất cả kinh nghiệm thuốc men có thể để giúp chị. Rồi đến ngày chị chuyển bụng. Lúc bác sĩ Giàu đưa chị vào phòng sinh anh sư trưởng Hùng cùng hơn sáu mươi sĩ quan sư đoàn chờ tin vui bên ngoài. Anh không quên cầm theo cái lục lạc kỷ vật của một người bạn đã ngã xuống anh giữ mười mấy năm qua. Cái lục lạc làm bằng sừng dê rung lên nghe như tiếng trẻ con cười “mỗi lần thắng trận mày lại rung lên cho tao nghe thấy tao mừng!”- lời trăn trối của bạn anh định sẽ trao lại cho con sau này có gì vui cứ rung cho cha mẹ dưới suối vàng nghe vui theo. Cái lục lạc mấy tháng nay anh đã rung cho nó đứa con nghe từ trong bụng.

 

Có hai trường đoạn như trong phim thường thấy: bên trong bác sĩ Giàu và ca đỡ đẻ khó bên ngoài là anh với cái lục lạc sư trưởng và mấy chục sĩ quan. Chị đã sinh. Sau năm giờ căng thẳng. Con trai theo lời chị y tá. Cuộc mừng vui tưng bừng bên ngoài của mấy chục con người với tiếng lục lạc rung lên không ngớt của anh. Bên trong chết lặng vị bác sĩ giỏi nghề bên đứa bé dị dạng sự lo lắng chống chọi lâu nay của ông đã vô ích trước sự nghiệt ngã tàn nhẫn có tên đi-ô-xin!

 

Như không phải nhà văn Nguyễn Quang Lập viết truyện “Tiếng lục lạc” mỗi khi rung lên nghe như tiếng trẻ con cười đã sống động như một nỗi ám ảnh một sầm tối oan uất một tội ác ghê gớm con người có thể tạo ra. Tiếng lục lạc báo tin vui cũng là tiếng lục lạc của ngớp thở của sẫm mặt trước sự tàn nhẫn của số phận.

 

Tiếng lục lạc đã thành biểu tượng sừng sững sống động của sáng tạo của văn tài. Tiếng lục lạc của Nguyễn Quang Lập!

 

LHL

More...

Gửi về tháp cổ/2706/23/4/11

By Gã Phu Xe bất tử (Mai Thìn)

                 Gửi về tháp cổ/2706/23/4/11

                                                  Huỳnh Thạch Thảo * Truyện ngắn.

 

Chú yêu thương.

Khi chú nhận thư này thì cháu đã về lại quê nhà khá lâu. Đang đi làm và mọi việc dần bình thường trở lại sau chuyến đi đầy thú vị lẫn ngỡ ngàng. Xuất phát từ một dòng sông để trở về bên một dòng sông quen thuộc sau khi đi qua bao dòng sông mà hướng về phương Nam. Chặng đường đến Tuy Hòa thật nhiều đèo núi thung sâu nhiều cánh đồng bãi soi dọc theo đường cái quan và kể cả những chất giọng của mỗi vùng nghe cứ ngồ ngộ thoảng qua trong nắng gió của đất miền Trung.

 

Vào Tuy Hòa trong một mùa gió ào ạt lộng thổi của nam mái nam cồ trên những con đường rộng thênh chang nắng; nóng oi bức ngột ngạt thêm cái gió hanh hao khô se người cứ rin rít vì mồ hôi vì những hạt bụi len lỏi vào người. May mà khách sạn sát ngay thềm biển tạo vẻ êm dịu cho mọi người. Nhớ lúc xe đi dọc đèo Cù Mông thì cảnh vật lặng im qua Sông Cầu mát rượi của biển Tuy An thì đường gập gềnh ổ voi ổ gà lỏng chỏng cứ nghĩ vùng đất này sẽ chẳng gì vui nó nằm lọt thỏn giữa hai đèo Cù Mông và đèo Cả thắt chặt lại cô đơn cho một vùng đất. Ôi dào nghe ai cũng bảo cứ nghỉ tạm mai lại vào Nha Trang. Nghe ai cũng bảo cái gió Tuy Hòa là hung dữ là cuộn sôi sùng sục đầy ngang tàng; nó làm con người chao đảo khi gặp gió mệt nhoài vì gió bởi nó phóng túng đi ngang đi dọc.

 

Vậy mà khi gặp chú được đặt hẳn đôi chân trên đất Tuy Hòa có vòng cung biển nghe rõ cả tiếng sóng rì rào vỗ bờ cháu đã choáng ngợp trước một con người chứ không phải choáng ngợp bởi gió. Lạ thiệt. Cũng như bao người khác nhưng có tiếng nói ngồ ngộ xứ Nẫu cái cười nửa miệng và đôi                          mắt nheo nheo luôn chớp cũng kỳ kỳ là mái tóc dần bạc trước tuổi. Hiếm lắm nghe chú. Có người cố xua đi tuổi già bằng cách đi nhuộm có người để bạc thêm cho ra vẻ đạo mạo ta đây là người lớn tụi mi thứ con nít. Còn chú tỉnh rụi thả lòa xòa trước trán để tóc tràn qua tai tung bay theo gió như một việc mặc nhiên như không cần quan tâm đến nó. Vậy mà cháu vẫn chăm chú nhìn bởi hình như cháu đã từng gặp chú đâu như từ một tiềm thức thì phải; nó như cái thời của cháu khi bắt đầu biết yêu một chàng trai nơi bờ sông lộng gió nơi tháng tư vừa đến mang theo dư vị của đầu mùa gió lào khô se tràn ngập vườn cũ phía quê nhà.

 

Chú yêu thương.

          Tháp Nhạn mà chú kể rồi đưa đoàn lên ấy thật đẹp và lãng mạn bởi sự cô liêu trầm mặc của núi của cây của đất mọc lên giữa lòng thành phố. Đêm lung linh ánh điện bên dưới còn trên này độ cao của gió rít như gợi về thời chămpa cổ gợi nhớ các điệu múa Apsara một thời được khắc trên bốn bức tường gạch cao vọi. Tháp cổ trầm mặc rêu phong cho Tuy Hòa hiền dịu. Tháp cổ trong lòng thành phố để phố ôm lấy dáng núi hình mu rùa mà mặc tưởng; cho dù buổi sáng lung linh nắng cho dù buổi chiều hoàng hôn tím nhạt tỏa lên dòng sông bên dưới. Ngạc nhiên hơn khi từ cao nhìn xuống là một vòng cung con đường lên tháp cong cong cây cầu cong cong bờ biển cong cong con sông Ba từ Tây nguyên đổ về làm nên một dòng sông dài cong cong… Chú cười với cả đoàn bảo: Cổ tháp thiêng lắm đôi tình nhân nào từ nơi xa đến hãy úp lòng bàn tay cả hai vào tường gạch gan gà sẽ có hạnh phúc. Và  cháu nhẹ đặt bàn tay mình lên bức tường gạch đặt một mình khi bên kia hai người trong đoàn đang len lén chồng tay lên nhau. Tự nhiên trong sâu thẳm cõi lòng cháu cần bàn tay của chú kề cận.

 

Biển Tuy Hòa không đẹp nó vẫn còn hoang sơ cùng những lều quán tạm bợ dù những khách sạn trên đường Độc Lập mọc lên nhiều đủ hình dáng cao thấp. Cát mìn mịn dưới chân sóng xô tràn bờ và những con dã tràng chạy dọc ngang. Nơi kia là hàng dương và cát cứ trải dài cho rau muống biển tha hồ mọc. Bên này là cái dáng cao cao mái tóc bị gió xáo tung như vừa bị người yêu trêu chọc vần vò cổ áo không cài nút trên cũng bị gió thốc vào lộ ra một màu đỏ với vòm ngực rộng. Chú bảo còn hai năm nữa nơi này sẽ thoáng đãng vì có một quảng trường những công trình đang xây dựng để đất này đón 400 năm hình thành tỉnh lỵ. Bốn trăm năm là bao đời người là bao biến đổi trôi qua. Nhưng trong ý nghĩ riêng khiến cháu cười tủm tỉm một mình là chỉ có hai người và ngôi cổ tháp đậm nét thời gian.

 

Đêm. Chỉ có hai người trước biển lúc mọi người vượt lên đi trước cháu ngước mắt kiễng chân vì nhỏ con quát trong gió lộng vào tai chú: tay chú đâu? Chú nheo mắt cười. Hình như lúc ấy trên con đường có nhiều người qua lại tò mò nhìn cả hai và cũng hình như lúc ấy cháu chợt nhớ ông Khái Hưng viết truyện Trống Mái có hai nhân vật Vọi - Hiền gặp nhau trên biển. Nhưng không thể được Vọi đi biển và mãi mãi không về và cũng không thể được câu chuyện xảy ra ở Sầm Sơn chứ không phải ở Tuy Hòa. Tuy Hòa là cháu đi bên chú đây. Cổ tháp lung linh ánh điện có cháu đi bên chú đây. Và hai người đang ở hai thành phố dù khác nhau và xa vời vợi. Một nơi có gió hiu hắt với những bến sông cùng hàng cây in bóng và một nơi là gió đi ngang đi dọc; nhưng giờ cái gió nơi này sao nhẹ tênh sao ấm áp khác xa sự đồn thổi.

Ra gành Đá Đĩa thật xa và nắng nóng kinh người nhưng thật đẹp. Từng lớp đá hình đĩa  xếp chồng lên nhau cao vút và bên dưới sóng xô bờ ào ạt những cánh chim biển dang rộng bay vụt khi thấy bóng người. Viện lý do đi giày cao gót nên bắt chú đi cạnh và nắm tay cháu vượt qua những bãi đá. Mặt chú tỉnh bơ như đêm trên núi Nhạn cháu phải tìm nắm tay chú để xuống con dốc cong cong. Còn nơi đây cháu vẫn nắm tay chú nắm chặt đến run rẩy bởi khung cảnh đẹp rực rỡ và thảng thốt nhận ra rằng con người này tạo cho ta một cảm giác yên bình đã từng có đã vụt mất đi và giờ trở lại và cũng nghẹn ngào nhận ra rằng có một khoảng cách địa lý quá xa một lứa tuổi quá xa có bao người ở quanh bên chú. Ghen thật tình. Nhưng lúc này trong biển xanh ngăn ngắt kia gió lộng tràn trề kia chú bên cạnh đây hiện hữu ở ngay đây thì cứ xem là chộp được khoảng khắc hạnh phúc đã.

 

Chú yêu thương. Ngồi mà nhớ lại vào đêm Tuy Hòa yên ả. Thành phố về đêm dịu mát đường Hùng Vương rộng thoáng với cây xanh đường Nguyễn Huệ trầm lắng vì thành phố gì mà mới chín giờ tối đã vắng hoe mùa mưa chắc càng thê thảm. Hèn chi chú hút nhiều thuốc hút hoài nghe mưa rơi rả rích phải không? Hèn chi chú hay cười nhẹ bởi gió đã lấn át phải không? Thành phố gì mà đi một đoạn lại có ruộng có hai ngọn núi bốn cây cầu lớn khi mà Tuy Hòa như bàn tay nắm lại đã hết. Thành phố của gió và nắng và mưa sụt sùi bởi hai mùa rõ rệt. May sao còn có cổ Tháp bên dòng sông rộng dài bãi biển Long Thủy để có chỗ mà khoe Đá Bia mà ngắm Chóp Chài mà nhìn. Nhưng nhìn chú nheo mắt nói là đủ thấy đẹp. Đẹp và thương như những ly nước mang ra cháu đánh bạo cho ống hút vào ly chú để thử. Phát hiện ra nó dở òm. Chú cười vuốt tóc cháu sao chú không thể hiện một vòng tay ôm nhỉ? Hẳn nhiên sẽ ngọt ngào cho chú và ấm áp cho người đi xa.

 

Tuy Hòa của chú có hai công viên nhỏ như lỗ mũi của cháu. Một cái ở ở đầu vào thành phố bên chân núi Nhạn một cái ở cuối thành phố sát mé biển lúc nào cũng đông người; hàng ăn thức uống bày la liệt khói bay la liệt bàn ghế la liệt như khu chợ chồm hổm ngoài cháu. Nghe chú nói không phải hai mà có rất nhiều nằm rải rác từng khu vực nội ô. Nhưng cần gì công viên phố có đồng có biển có sông có núi đã hơn nhiều thành phố khác. Nhưng  cháu muốn nói có công viên thì chú sẽ dẫn cháu ra đấy mà tìm chiếc ghế đá vắng người dưới vòm lá thấp cháu sẽ kể câu chuyện người từ phương Bắc đã qua bao dòng sông tìm về như người từ trăm năm người qua sông rộng...Hình như chú đoán biết gỗ đá đâu mà không đoán biết ông nhạc sĩ Trịnh còn có ca từ cực hay là ngày sau sỏi đá cũng cần có nhau kia mà nên chú hẹn vào tối sẽ dẫn cháu dạo biển.

Tối chú vào khách sạn gọi người bạn thân đi trong đoàn và kêu cháu ra biển cho mát và để ngắm sao. Sao gì mà sao làm như chỉ Tuy Hòa có sao một mình chắc. Ngoài quê cháu sao còn rực rỡ hơn trong này nhiều. Mà cắc cớ chi phải đi ba người chỉ một đôi cho đẹp vì biển nơi nào cũng vậy vào tối là dành cho các cặp tình nhân. Thôi dằn dỗi nhưng trong lòng thì ngập tràn yêu thương. Đi thì đi đi để lắng nghe người bạn khen nhà chú có vườn cảnh đẹp mùa này vào thu hoa cúc vàng nở rộ trên lối đi. Chú cười mái tóc vờn bay theo gió trông như gã nghệ sĩ nửa mùa và cháu đã bảo ông bạn chú đi ra phía ngoài để cháu có dịp vô tư nắm tay chú mà dung dăng dung dẻ. Cháu hỏi “Giống gì chú?” - “Cha và con và bạn bên cạnh!”. Ừ thì cha con cũng đặng. Cháu le lưỡi ngước nhìn chú rồi quàng tay chú mà dài chân bước.

 

Người bạn chú bảo hai người cứ đi dạo rồi xin kiếu về phòng. Chú đưa cháu ra biển. Dãy đèn đánh cá phía xa hắt vào ánh sáng mờ ảo nơi khuôn mặt trầm tư của chú. Đêm nhàn nhạt trong mênh mông gió cát trong cô tịch bủa vây. Hình như cháu nhón chân thở nhẹ sát chú hình như chú đã cúi xuống hình như trong gió có nụ hôn thoảng qua thật nhẹ và mềm mại. Và kia rồi cháu đã thấy những vì sao lấp lánh rồi thấp mãi thấp mãi rồi vỡ òa tràn đầy tinh tú. Không phải đó là ánh sáng từ tháp cổ soi rọi đó là hai bàn tay cháu ấp chặt vào lòng đôi tay của người thiếu nữ trẻ trung nhí nhảnh chứ không phải hai bàn tay của hai người áp vào cổ tháp để mơ về khoảng trời xanh. Lâu sau có  tiếng  thở  dài “Thôi mình về” cháu ngoan ngoãn theo về lặng im cách chú một vòng tay không nhí nhảnh không bám víu không ngước mặt mà sao cứ run rẩy co ro như cả người vừa trải qua một cơn mê mộng mị có và không như một đợt mưa nhỏ vừa chao nghiêng qua người và trôi đi vội vã.

 

Chú yêu thương. Rồi cũng phải ra đi. Cả đoàn tíu tít chia tay người Tuy Hòa. Cháu lên xe sau chót để đợi vòng tay ôm giã biệt vòng tay ôm như một cử chỉ thân thiện mà chú dành cho mọi người không phân biệt một ai và quay đi nơi khác chỉ còn thấy mái tóc bồng bềnh chớm bạc trong nắng tháng bảy khô se hừng hực nóng rải trên đất Tuy Hòa. Lại biển lại những con đường thoáng rộng dưới các vòm cây lại Tháp cổ cánh đồng dòng sông. Tuy Hòa dần xa sau lưng khiến cháu muốn bật khóc. “Sao chú không đi cùng cháu?”; một bước chân là chú đã vào xe và bước nữa đã nhẹ nhàng ngồi bên cháu. Dịu dàng ấm êm biết bao. Tháp cổ kia rồi xe vẫn chạy trên vùng đất có những con đường ngắn rộng đi đâu cũng thấy tháp nên đi đâu cũng ước mơ về một miền hạnh phúc.

 

 Cháu đã đi qua các vùng đất miền Trung rồi ngược lên Tây nguyên gió ngàn với hoa dã quỳ trải dài đẹp rực. Nhưng cháu xoay lưng tất cả chỉ dõi về miền đất có ngôi tháp cổ dù nơi ấy nó còn hoang sơ tĩnh lặng nhưng vô cùng đằm thắm. Nơi ấy dung dị như nụ hôn theo gió của chú nơi ấy là những gì thoáng qua nhưng vô cùng sâu đậm từ một bước chân trên biển một bàn tay trên tháp cổ một cái nhìn dõi theo con nước từ một vòng cung dòng sông... Khi trở về nơi mình ra đi cháu luôn nghĩ đến một con người những bước chân trên cát ngày cũ dấu chân ấy sẽ còn mãi để một ngày nào đó cháu tìm về trong nỗi nhớ đong đầy. Khi ấy sẽ gọi chú bằng một vế khác gần hơn trìu mến hơn và cả chú cũng vậy chú nhé sẽ có hai bàn tay đặt nhẹ trên viên gạch tháp cổ trong gió lộng cùng với yêu thương ngập lòng.

 

Buổi sáng nơi công viên bệnh viện thành phố phía Nam. Người đàn ông ngồi trên ghế đá dưới vòm cây lần giở từng trang giấy viết tay đã nhòe mực đã sờn các nếp gấp rồi nheo nheo mắt đọc rồi vu vơ cười mỉm một mình. Ngày mai ông sẽ rời nơi này về lại Tuy Hòa khi mà các bác sĩ đã lắc đầu từ chối…Ông sẽ quay về với biển xanh cát trắng nắng vàng với những cơn gió nam non nam mái nam cồ. Mùa này hoa cúc vàng đã rộ trong vườn như lúc cô gái ấy đặt chân trên tháp cổ vào một mùa thu hoa cúc. Đã quá lâu cô ấy không vào để dạo chơi trên cát có sóng vỗ bờ. Và nó cũng đã khác trước chỉ còn những đợt gió trôi qua từng mùa. Ông sẽ choàng vai cô ấy mà nâng nhẹ cho một gót chân son đặt vào làn nước biếc như ước mong của cô và cả người mềm mại còn lại sẽ ngập tràn vào ông. Ông biết đã lỗi hẹn cho ngày gặp lại dù ngày mai ông có trở về vùng đất có ngôi cổ tháp mọc giữa lòng thành phố miền Trung…

 

                                                                                                       H.T.T

 

Huỳnh Thạch Thảo

Tạp chí Văn nghệ Phú Yên

15 Độc Lập – Tp.Tuy Hòa - tỉnh Phú Yên.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

LỜI BÌNH Truyện ngắn GỬI VỀ THÁP CỔ

NGUYỄN ĐỨC THIỆN

 

 Truyện ngắn GỬI VỀ THÁP CỔ của Hùynh Thạch Thảo như những tiếng gõ thật nhẹ vào cách cửa tâm hồn của con người. mong rằng sau tiếng gõ thì cánh cửa đời cánh cửa người sẽ mở ra và ở đó là một vùng cổ tích hoang sơ hoang hoải và thần bí. Hoang sơ hoang hoải bởi lòng người không phải ai cũng hiểu hết thần bí bởi ở đó cất dấu một tình cảm thật mặn nồng chan chứa mà không phải lúc nào cũng dãi bày ra được. Huỳnh Thạch Thảo đã làm được việc đó trong truyện ngắn của mình. Anh có thể kể cho người nghe những chuyện mà chỉ có vùng đất Tháp cổ mới có. Đó là con đường gập ghềnh đèo dốc là những căn nhà góc phố gắn bó với con người. Là nơi có thể lớn nhất hòanh tráng nhất nhưng   cũng có thể bé nhỏ trong con mắt người đời nhưng dù thế nào nó cũng là nơi dành cho con người tình cảm đằm thắm nhất và con người tự nhiên thôi cũng phải dành cho nơi ấy một tình cảm chân thành chan chứa nhất. Tác giả đã dành sự yêu thương trìu mến cho một mảnh đất mà mình nhớ đến nhức nhối lòng.

 

Điều đáng nói hơn trong truyện ngắn GỬI VỀ THÁP CỔ là ở một góc khác có vẻ như một sự cô đơn. Sự cô đơn ấy bắt đầu từ một kẻ xa Tháp cổ và của một người sắp trở về tháp cổ. Người đi xa nhớ về  tháp cổ với một vẻ đắm đuối lạ thường đắm đuối đến mức phải nói ra phải viết ra mới trải được lòng mình. Muốn lắm một sự thủy chung nhưng cuối cùng vẫn là kẻ rời xa và cách xa vời vợi. Khi bàn tay áp lên bờ thành cổ mong cuộc sống hạnh phúc mà chỉ một bàn tay thôi. Khi chia tay mong chờ một vòng tay ôm giã biệt. Còn người quay về là người đang phải đến với nơi về thực sự một đời người. Nhưng trước khi về nới ấy hãy về Tháp cổ để được thấy quê mình trong cảnh sắc đằm thắm yêu thương mênh mông trời nước và thắm đượm tình người.

 

Đến đây thì phải nói rằng Hùynh Thạch Thảo đã dụng công khá sắc nét để hòa chung hai con người người đi xa và người sắp về thành một để thể hiện thật sâu sắc tình cảm của mình với một vùng quê. Có ai không yêu quê mình khi phải bươn chải nơi đất khách quê người. Cá ai mà không tha thiết yêu quê khi sắp sửa phải đến cõi vĩnh hằng nhất là nơi ấy còn có bóng dáng người yêu không một lần được cùng áp tay vào thành cổ để cùng mong hạnh phúc bên nhau.

 

Bởi thế GỬI VỀ THÁP CỔ của Hùynh Thạch Thảo càng đọc càng thêm xúc động và không thể không rưng rưng khi đọc: "Ông sẽ quay về với biển xanh cát trắng nắng vàng với những cơn gió nam non nam mái nam cồ. Mùa này hoa cúc vàng đã rộ trong vườn như lúc cô gái ấy đặt chân trên tháp cổ vào một mùa thu hoa cúc. Đã quá lâu cô ấy không vào để dạo chơi trên cát có sóng vỗ bờ. Và nó cũng đã khác trước chỉ còn những đợt gió trôi qua từng mùa. Ông sẽ choàng vai cô ấy mà nâng nhẹ cho một gót chân son đặt vào làn nước biếc như ước mong của cô và cả người mềm mại còn lại sẽ ngập tràn vào ông. Ông biết đã lỗi hẹn cho ngày gặp lại dù ngày mai ông có trở về vùng đất có ngôi cổ tháp mọc giữa lòng thành phố miền Trung…"

 

 

NGUYỄN ĐỨC THIỆN

 

 

LỜI BÌNH TRUYỆN NGẮN GỬI VỀ THÁP CỔ CỦA HUỲNH THẠCH THẢO

Lê Hoài Lương/ 23/4/11

 

Gọi “Gửi về tháp cổ” là truyện ngắn cũng được khi gần đây những chấp nhận khá phong phú về hình thức các thể loại. Nói vậy vì dù qua cách kể chuyện bằng thư của một cô gái trong một chuyến đi tình cờ đã gặp đã yêu mến một người đàn ông lớn tuổi mà cô cứ xưng hô là chú cháu đã yêu luôn vùng đất Phú Yên thành phố Tuy Hòa của người đàn ông kia và rồi cô hẹn ngày trở lại sẽ có thể nhiều hơn cái hôn gió tạm biệt sẽ thay đổi cách xưng hô… Đoạn cuối ngoài thư cho thấy cơ hội ấy không còn khi người đàn ông chẳng thể còn đến ngày gặp lại cũng là một cái kết quen thuộc để tạo nên chút nuối tiếc chút ngui ngút dịu êm một giấc mơ chưa trọn một bài thơ chưa trọn một lời yêu dang dở. Nhưng thực ra với hình thức với nội dung trên bảo “Gửi về tháp cổ” là trang tản văn tùy bút ngợi ca quê hương qua hư cấu chuyện cô gái khách xa đến gặp đất gặp người Phú Yên- Tuy Hòa để niềm yêu được tha hồ tung tẩy cũng đúng.

 

Hình thức thể hiện này khá thoải mái để cảm xúc miên man trôi về tình đất tình người một nét văn cơ bản của Huỳnh Thạch Thảo. Văn đẹp đẫm cảm xúc về nắng gió Tuy Hòa về tháp cổ và ước vọng về tình yêu khi hai bàn tay người nam người nữ chồng lên nhau Về sông Ba duyên dáng Về biển đẹp Về phố xá yên bình. Và tất nhiên cái nét lãng mạn chính của hai con người một chú một cháu vượt ngoài mọi khuôn khổ thông thường từ gặp gỡ và xao động rồi chia xa đã tạo một thiên diễm tình nhiều mơ mộng thường gặp trong tiểu thuyết nhiều hơn ngoài đời. Đó như một cuộc ve vuốt trái tim vốn ưa thích chiều nịnh Như chút tự huyễn thơ mộng.

 

Đúng vậy thành công nhất của truyện ngắn này là văn đẹp dù tin hay không cuộc mơ màng ve vuốt trái tim cuộc thơ mộng hóa đời sống trên tổng phổ đầy yêu thương về quê hương về tình người. Cũng là sự kiên trì với nét văn quen thuộc với bạn đọc của nhà văn Huỳnh Thạch Thảo khi nhiều người luôn tìm tòi những cách viết mới. Đọc Huỳnh Thạch Thảo chợt nhớ mấy không gian đẹp vô ngần của An-phông Đô-đê hoặc Mô-pát-xăng những truyện ngắn “Những vì sao” “Dưới ánh trăng”…

 

Vậy là luôn có cái lý cho những lựa chọn con đường của mình trong văn chương khi gặp lại chút thoảng nhẹ nhàng và buồn đẹp từ tháp cổ của Huỳnh Thạch Thảo../.

 

LHL

 

More...

TIẾNG CÚ KÊU/ 2955/ 16/4/11

By Gã Phu Xe bất tử (Mai Thìn)

TIẾNG CÚ KÊU/ 2955/ 16/4/11

Truyện ngắn của TRẦN QUANG KHANH

“Cú kêu cho ma ăn” (thành ngữ)

 1.

Khuya mùa hè. Nóng âm âm. Cái máy quạt đặt dưới chân giường chạy vít số vẫn không làm dịu được bầu không khí ngột ngạt phía trong mùng nơi tôi nằm trằn trọc. Trăn trở mãi và phải sang canh ba tôi mới chợp mắt được. Trong giấc ngủ mê mệt vì khí trời nóng bứt ấy tôi chợt tỉnh giấc vì cảm giác nhói đau bên một bờ vai rồi cả người tôi bị rung lay. Tôi cố định thần nghe tiếng lào thào của vợ: “Anh hình như có tiếng cú.”. Tôi gạt phăng: “Làm gì có. Nhà ở phố đèn điện sáng trưng…”. Song chưa kịp dứt câu một tiếng kêu lạ đã chặn ngang miệng. Tiếng kêu đùng đục loang ngân trong đêm tĩnh mịch. Tiếng kêu như phát ra từ cái cổ họng nén hơi làm người nghe nổi gai ốc. Vợ tôi quay sang ôm chặt lấy tôi. Cái âm thanh kia vẫn vọng đi từng tiếng một ngắt quãng không đều…

 

Từ nhỏ tôi chưa nghe tiếng cú song cái âm vọng của tiếng kêu cho tôi hiểu vợ mình đã nói đúng. Chắc chắn có con cú đậu đâu đó quanh nhà tôi. Bởi đã có biết bao loài chim mà người đời đặt tên bằng từ tượng thanh qua tiếng kêu mà tôi biết được chẳng hạn như: quạ cuốc quách te te bắt cô trói cột …

 

Vợ tôi lại lào thào: “Em sợ quá anh. Cú kêu trước nhà là điềm xui lắm đó”. Tôi dỏng tai lắng nghe và định vị tiếng kêu. Quả đúng tiếng cú vọng đi từ phía đằng đông bên hông trước khu vườn nhà ngay trên đọt cây lộc vừng cổ thụ. Cú kêu một giọng ngắt quãng ba đơn độc và hoang hoải…

 

Tôi và hình như cả vợ tôi nữa yên lặng đuổi theo những ý nghĩ đầy bất an về tiếng cú kêu. Tôi từng nghe đâu đó rằng hễ cú đến đậu nhà ai kêu lên ba tiếng là điềm báo ở đó nếu không có người chết thì cũng có người đau ốm nặng sắp ra đi. Bất giác tôi nghĩ đến mẹ tôi nghĩ đến cha vợ tôi. Hai người thân của gia đình đều đã bước qua tuổi bát thập và có nhiều bệnh tật…

 

Chợt vợ tôi thở dài nói bâng quơ: “Mai em về quê thăm ba…”. Tôi rùng mình không hiểu sao lúc này vợ chồng tôi lại “tâm đầu” đến thế song lại sợ lộ cử chỉ làm vợ càng lo lắng nên vội trấn an: “Em ngủ đi không sao đâu. “Cú sào cú sậu cú đậu nhà quan giàu sang phú quý” biết đâu cú đến nhà mình là điềm báo điều tốt lành”. Nhưng cái câu nói cố làm ra vẻ tỉnh bơ của tôi đã không thuyết phục được vợ. “Thôi đi nghe tiếng cú kêu em sợ muốn chết. Anh xem này tay chân em nổi da gà lên cả rồi”. Vừa nói vợ tôi vừa cầm bàn tay tôi miết trên cánh tay lạnh ngắt đã sần lên các lỗ chân lông của mình. Tôi ngồi dậy tắt chiếc quạt máy. Trời ngả về sáng không khí đã dịu mát hơn...

Trong thâm tâm tôi không tin lắm về điềm lành dữ quanh chuyện cú kêu trong vườn nhà nhưng cả đêm còn lại vợ tôi cứ thủ thỉ kể về những điều xui xẻo do tiếng cú mang lại mà cô ấy đã góp nhặt được từ những hóng hớt đàn bà trong gần nửa đời người khiến tôi cũng đâm hãi…

 

2.

 

Sáng ra tôi mới hay tiếng kêu lạ đêm qua không chỉ gieo nỗi hãi hùng cho riêng nhà mình. Cả xóm tôi nháo nhào lên vì tiếng cú. Họ tụ tập bàn tán suy luận đủ điều.

Sang cậu bộ đội có nhà đối diện lao ngay vào nhà vườn nhà tôi khi tôi vừa mở khóa cổng. “Nghe tiếng cú kêu em cũng không ngủ được. Bực quá em vác súng săn và đèn pin đi tìm. Biết nó đậu trên cây lộc vừng nhà anh nhưng khuya quá sợ phiền không dám gọi anh mở cửa…” giọng Sang hớt hải.  Còn Thanh ở nhà đối diện thổ lộ: “Vợ em té đái trong quần”…

 

Đêm hôm sau rồi hôm sau nữa tiếng cú vẫn âm vọng trong vườn nhà tôi. Sớm hơn và nhặt hơn. Tôi đã cố tình giả lơ nhưng vợ tôi lại luôn bồn chồn. Cô thúc giục tôi mang đèn pin đi đuổi cú. Dò theo tiếng kêu tôi soi đèn khắp các ngóc ngách trên cây lộc vừng cổ thụ. Và tôi đã phát hiện con cú mèo nép mình nơi một chạc cây.

 

Lần đầu tiên trực diện với cú tôi khiếp hãi như có một luồng khí lạnh chạy dọc sống lưng mình. Khác với bao loài chim đôi mắt cú tròn xoe lại nằm ngay phía trước mặt giống như con người. Quanh đôi mắt là hai vòng tròn rộng trông như gương mặt các cụ già đeo kính. Đôi mắt ấy phản chiếu ánh sáng của đèn pin đỏ rực nhìn chòng chọc vào tôi. Tôi cố định thần rồi cúi nhặt viên đá ném mạnh nơi cú đứng. Viên đá bay sát sạt nơi chạc cây nhưng con cú thì vẫn lì lợm chỉ chịu nhích chân đi chút đỉnh. Bây giờ trông nó dữ dằn hơn. Bộ lông cú xù lên đầu cúi xuống và mắt nhìn trừng trừng vào tôi như thách thức. Tôi phải ném viên đá thứ hai thứ ba con cú mới chịu nhận ra điều bất ổn mãnh liệt và nhấc mình bay một cách nhẹ nhàng qua khu vườn nhà phía sau.

Đêm đó tiếng cú vọng vào giấc ngủ của vợ chồng tôi nghe xa xăm hơn…

 

3.

 

Và rồi sự ồn ã của tiếng cú lại lây lan sang những ngôi nhà ở phía sau nhà tôi.

Sáng sớm khi vừa thức giấc tôi đã nghe từ khu vườn cú đậu đêm qua tiếng rựa nã vào cây xoài nghe chan chát. Thì ra anh hàng xóm phía sau nhà tôi không chịu nổi sự chứa chấp điều bất ổn đã trút giận dữ xuống cây xoài từng gắn bó với ngôi nhà hằng mấy chục năm.

 

Dưới bóng cây xoài này là chiếc bàn đá nơi thường tụ tập nhậu nhẹt của cánh đàn ông cả xóm. Nhìn những cành xoài răng rắc đổ dần xuống đất tôi lại nhớ đến những chùm xoài lúc lỉu từng làm mồi uống rượu cho chúng tôi không biết bao nhiêu lần… Tôi tiếc cây xoài đứt ruột rồi lại tự trách mình. Giá mà không có cuộc ném đuổi cú của tôi vào tối hôm qua.

“Để cây xoài làm gì anh rồi cú lại về đậu lại kêu… nghe mà phát ớn” anh hàng xóm phía sau nhà tôi chỉ giải thích thế khi thấy tôi đứng đực mặt nhìn cây xoài bị tàn phá. Nhưng tôi hiểu nỗi lòng anh nỗi lòng của cả vợ anh không phải chỉ vì “tiếng kêu phát ớn” của loài cú…

 

Đêm ấy tôi lại nghe từ phía nhà anh hàng xóm phía sau tiếng gõ mõ tụng kinh đều đều. Tôi dỏng tai lắng nghe hình như kinh tụng là kinh “Địa tạng Bồ tát bổn nguyện” thỉnh thoảng lại lồng theo lời khấn nguyện: “nay ngay phần đất con ở và vùng xung quanh thường có chim cú mèo bay về kêu thê thiết con phát nguyện trì tụng kinh Địa tạng Bồ tát bổn nguyện công đức này để nhờ chuyển nguy thành an chuyển họa thành phước… nam mô a di đà phật!”.

 

4.

 

Nhưng rồi ngay chập choạng tối hôm đó cú lại bay về vườn nhà tôi. Không phải một mà đến hai con. Đứng ở vườn nhà cả buổi chiều tà tôi đã nhìn thấy rất rõ đôi cú đảo cánh xuống cây lộc vừng không một tiếng đập gió nhẹ như ru. Và trong muôn ngàn cành lá rậm rạp của cây lộc vừng cổ thụ đôi cú vẫn chọn được cho mình chỗ đứng vững vàng và tình tứ. Rồi chúng lại cất giọng…

 

Tôi lắc đầu ngao ngán đi vào nhà lòng lẫn lộn bao tâm trạng.

 

Vợ tôi bảo: “Anh ra đuổi cú đi…”. Tôi lắc  đầu: “Kệ nó em”. Vợ tôi gắt: “Anh sao vậy?”. Tôi dịu giọng: “Giờ có đến hai con cú ngoài cây lộc vừng anh không muốn đuổi nó nữa.”. Vợ tôi lẩy: “Được rồi anh không đuổi thì em đuổi!”.

 

Rồi cô mang cây sào dài đi ra phía cây lộc vừng tìm cú. Quyết liệt và hằn học. Vậy mà khi đối mặt với cú cô lại trở nên hoảng loạn. Cô cứ nhắm mắt đập bừa cây sào lên cành cây mà chẳng cần biết có đúng vào nơi cú đậu hay không. Con cú vẫn lì lợm đứng xù lông trợn tròn đôi mắt đu đưa người một lúc rồi lại co mình híp tịt đôi mắt lại trông thật dữ dằn. Cuối cùng nó lao thẳng xuống đầu vợ tôi như quyết ăn thua đủ. Hoảng hốt vợ tôi vãi cây sào ngồi thụp xuống đất ôm đầu kêu cứu. Tôi bước ra dìu vợ đứng dậy. Bây giờ vợ tôi trông thật thảm hại mặt cắt không ra một giọt máu…

 

5.

 

Buổi tối tôi lên mạng tìm hiểu về chim cú mèo và những chuyện kỳ bí quanh tiếng kêu của cú. Kho tàng của mạng quả có quá nhiều chuyện về chim cú. Có người xem chim cú như biểu tượng của nhà tiên tri hay trí tuệ lại có người coi nó như tội đồ gần gũi với chết chóc và bẩn thỉu. Tôi đặc biệt chú ý đến mẩu hỏi đáp lý số về tiếng kêu của chim cú trong vườn nhà.

 

Người hỏi hỏi: “Đêm qua có con cú đến đậu ở đầu hồi nhà tôi kêu lên ba tiếng rồi bay đi chẳng biết như vậy là điềm gì?”. Nhà lý số trả lời: “Bạn thử kiểm tra xem có phải: 1. Phía đông bắc nhà bạn có đường đi hoặc nhà bạn hướng đông bắc; 2. Nếu bạn đã lập gia đình thì đứa con đầu bướng bỉnh khó dạy; 3. Bên nội của bạn có một ngôi mộ bị xung phá. 4. Hàng xóm bên trái và phía sau hợp với gia đình bạn bên phải và phía trước không hợp… Nếu không phải như vậy thì đừng lo lắng làm gì”.

 

Lòng tôi lại rối bời khi soi mình vào những điều đặt ra của nhà lý số. Trong 4 điều ấy đối với tôi có cái đúng thật rõ ràng cũng có cái không đúng và có cái cũng chẳng biết là đúng hay không đúng…

 

Như một cuộc kiểm điểm về lối sống của mình tôi miên man nghĩ về chuyện xung hợp láng giềng. Và nghiệm rằng điều này có vẻ đúng với nhà tôi. Tôi hay bù khú với anh hàng xóm nhà phía sau; thảo thuận với anh hàng xóm phía bên trái còn nhà phía trước và bên phải hình như tôi chỉ quan hệ chiếu lệ không gần gũi nhưng cũng chẳng để mắc lòng.

 

Nhìn chung quan hệ xóm giềng với tôi chẳng đến nỗi quá tệ. Nhớ có lần tôi đứng cửa giữa chứng kiến sự bất hòa ghê gớm may mà chưa dẫn đến đánh nhau giữa hai vị hàng xóm ở hai bên nhà tôi.

 

Giữa khuya anh hàng xóm nhà bên phải cứ lảng vảng trước nhà anh hàng xóm bên trái. Anh hàng xóm bên trái chợt mở cửa bước ra hoạnh họe: “Mày làm gì ở đây định ăn trộm à?”. Anh hàng xóm bên phải ú ớ: “Tôi đứng chơi…”. Anh hàng xóm bên trái dồn đẩy: “Chơi gì giờ này chỉ có rình mò chực ăn trộm thôi”. Anh hàng xóm bên phải nổi sùng quát: “Nhà tôi bên này tôi đứng đây chơi không được sao!”. Anh hàng xóm bên trái: “Tao ở đây hơn chục năm sao không biết hàng xóm mày nói láo”. Anh hàng xóm bên phải: “Tôi cũng ở đây hơn chục năm ông cứ hỏi mọi người xem có ai mà không biết tôi”. Thái độ cả quyết của anh hàng xóm bên phải khiến anh hàng xóm nhà bên trái ngờ ngợ rồi bước nhanh vào nhà đóng cửa…

 

Đứng trên lầu nhìn xuống tôi hiểu ra tất cả nhưng lại không thể ra miệng. Anh hàng xóm nhà bên phải làm công nhân tăng ca nên thường về rất khuya. Về nhà anh thường làm gói mì cho ấm bụng trước lúc đi ngủ. Mà trước vỉa hè nhà anh hàng xóm bên trái lại trồng mấy chậu rau mùi. Vậy nên chuyện anh hàng xóm bên phải qua trước nhà anh hàng xóm bên trái ngắt mấy cọng rau mùi làm gia vị cho tô mì tôi vẫn thường nhìn thấy. Anh hàng xóm nhà bên trái là VIP của một sở ở tỉnh quanh năm suốt tháng đi sớm về muộn nên cũng chẳng thể biết người hàng xóm ở cách mình hơn một ngôi nhà…

 

Chuyện láng giềng thời nay là vậy. Mấy hôm nay nhờ con cú kêu mới có cuộc tụ tập sáng sớm hàng xóm mới có dịp xuýt xoa chào hỏi nhau.

 

Nhưng rồi tôi đã gạt ra cái ý nghĩ về chuyện lý số với lý lẽ thân phận của anh hàng xóm có cây xoài ở phía sau nhà tôi hay như anh công nhân đầu tắt mặt tôi kia chẳng thể giống thân phận của tôi… khi cùng phải nghe chung tiếng cú.

 

6.

 

5 ngày rồi nửa tháng trôi qua nhà tôi rồi cũng dần quen với tiếng cú kêu đêm đêm. Thậm chí đêm tôi còn tụ tập bạn bè về nhà tổ chức ăn nhậu dưới cây lộc vừng để vừa xem cú vừa nghe tiếng cú. Vợ tôi cũng chẳng còn kinh hãi khi nghe tiếng cú kêu như thuở ban đầu.

 

Cho đến một buổi sáng chủ nhật nọ tôi nghỉ làm việc và quyết định cắt sửa cây lộc vừng cho ra dáng thế một cây cổ thụ bon sai. Lúc trèo lên cành cao tôi thất kinh khi phát hiện trong một cái hốc to của cây lộc vừng có một tổ chim với 4 cái trứng to bằng đầu ngón chân cái của người trưởng thành. Không còn nghi ngờ gì nữa đó chính là chiếc tổ của đôi chim cú mà nửa tháng nay đã gây kinh động cả xóm tôi.

Sau sự hoảng hốt vì quá bất ngờ tôi chợt thấy thương đôi chim cú…

 

Bữa cơm tôi đem chuyện cú làm tổ trên cây lộc vừng kể cho cả nhà nghe. Các con tôi tỏ ra rất vui. Chúng tưởng tượng những cú con mới nở dễ thương đến chừng nào. Chúng chuẩn bị kế hoạch một cách chu đáo cho một cuộc chăm sóc nuôi nấng những chú cú con. Nhưng vợ tôi lại rất kinh hãi khi nghe chuyện cú làm tổ trong vườn nhà và tỏ ra quyết liệt trong việc phải nghĩ cách làm gì để phá bỏ tổ cú kia đi.

 

7.

 

Tôi đi công tác xa.

 

Và trở về kịp lúc để chứng kiến một cảnh tượng hãi hùng.

 

Buổi tối giọng của đôi chim cú nghe rền rĩ và thê thiết…

 

Sáng sớm tôi bước ra vườn và trông thấy con cú con có màu lông trắng xám lẩy bẩy đi xiêu vẹo bên gốc cây lộc vừng. Hai con cú mẹ bay lượn vòng quanh cất tiếng kêu không ngớt. Tôi bước tới bắt con cú con lên quan sát. Trông nó thật hiền lành. Và dễ thương. Nhưng kìa đôi mắt vốn to và tròn xoe của nó chỉ toàn một màu trắng. Cả người nó dậy lên mùi thuốc sâu.

 

Tôi lờ mờ đoán định điều gì đã xảy ra và tót lên cành cao tìm tổ cú.

 

Cả cái tổ cú cũng dậy lên mùi thuốc sâu và bên trong tổ có ba con cú con đã chết…

 

Tôi đứng bần thần và không biết phải làm gì để cứu giúp con cú con mù… Nó như thế làm sao có thể bay theo mẹ…

 

8.

 

Vợ tôi kể lại rằng trong những ngày tôi đi công tác chính chú hàng xóm phía bên phải đã lân la đến gặp cô hiến kế và nhận lãnh sứ mệnh thực hiện một cách hoàn hảo kế hoạch tiêu diệt tổ cú.

 

Sau sự tan hoang của tổ cú vợ tôi như cũng nhận ra mình đã đồng lõa để làm một điều ác. Cô đã nguyện ăn chay nằm đất ba tháng liền và chịu để cho các con tôi nuôi nấng con cú con mù.

 

Tôi đóng một chiếc lồng thật đẹp cho cú con dù biết nó chẳng còn nhìn thấy gì. Còn mấy đứa nhỏ nhà tôi ngày ngày đi bắt thằn lằn về dứ cho cú ăn.

 

Khi tôi viết câu chuyện này cú con nhà tôi đã bắt đầu sổ giọng trưởng thành.

 

Song tiếng kêu của nó (dẫu giống như cha mẹ) lại trở nên thân thiết với cả nhà tôi cả xóm nhà tôi../.

 

 

Trại viết Vũng Tàu ngày 7.4.2011

T.Q.K

LỜI BÌNH TRUYỆN NGẮN TIẾNG CÚ KÊU CỦA TRẦN QUANG KHANH/16/4/11

Lê Hoài Lương

 

Chuyện khá đơn giản và cũng bất ngờ gợi tò mò ngay từ đầu: chim cú bỗng nhiên xuất hiện ngay trong vườn nhà ở phố. Ai cũng từng nghe đâu đó về điềm xui rủi khi cú kêu gần. Và cả xóm sáng hôm sau xôn xao. Cái xóm phố có người sống cả chục năm chưa biết mặt bỗng nhiên gần gũi hơn chuyện vãn thân thiết hơn. Cũng là tâm lý xưa cũ thôi trong nguy nan con người thường gần lại tựa vào nhau để có thêm sức mạnh mà tồn tại. Ở một khía cạnh khác việc chim cú về vườn và làm tổ có ý nghĩa tích cực là làm ấm áp hơn tình làng nghĩa xóm ở phố.

 

Rồi dần ít xôn xao. Nhưng tiếng cú kêu đêm vẫn còn đó bên cuộc liên minh cái xóm phố đủ thành phần. Và cái tổ cú trong hốc cây những quả trứng bắt đầu gợi những cảm xúc trái chiều: người yêu thích người chờn chợn lo âu. Những lời giải về lý số trên mạng cũng khá mơ hồ nói chung chim cú và giờ là gia đình nó với cái tổ trong hốc cây lộc vừng tồn tại như một sự thật hiển nhiên đầy khơi gợi một thực tế nhỏ bé mà vang động những nhấn nhá và ám ảnh. Cái lõi chính chim cú đã có sức chuyển tải lớn hơn nhiều nó đã là nội dung chứ không còn là chi tiết.

 

Và đương nhiên mọi thứ rồi có hồi kết. Cuộc liên minh hoảng sợ của con người đã thắng cái tổ cú bị tấn công bằng thuốc trừ sâu. Chi tiết con cú con mù mắt “lẩy bẩy đi xiêu vẹo bên gốc cây lộc vừng” còn “cú cha cú mẹ bay lượn vòng quanh cất tiếng kêu thảng thốt” rất ấn tượng. Cái ấn tượng cũng sởn da gà về sự độc ác.

 

Có thể nói truyện ngắn “Tiếng cú kêu” khá lạ trong diễn biến quen thuộc chung quanh một tiếng cú. Cái kết cục đầy khắc khoải về những biến dạng của nhân tính với sự can thiệp của các vùng tối trong nhận thức và mê tín đã là sự chuyển tải bất ngờ. Cái hay của truyện ở chỗ: tiếng cú vọng động nhiều chiều vào tâm hồn người vốn mỏng mảnh dễ vỡ. Và thường trực những nỗi sợ hãi. Truyện ngắn đã khơi gợi đã chạm thấu miền bất an mà các việc làm “sửa sai” của con người: nuôi chăm cú con mù ăn chay sám hối… chỉ là những ve vuốt chính sự yếu đuối vốn có. Cũng ý này tiếng kêu giờ đã trở nên thân thiết của con cú mù nữa. Thật nhiều suy tưởng từ “Tiếng cú kêu” của Trần Quang Khanh../.

 

LHL

 

 LỜI BÌNH CỦA NGUYỄN ĐỨC THIỆN về truyện Tiếng cú kêu/ 16/4/2011

 Nguyễn Đức Thiện

 

Truyện ngắn TIẾNG CÚ KÊU của  Trần Quang Khanh là lối viết truyện không có chuyện hay nói cách khác là cách viết lối luận đề. Tất cả mọi chuyện xẩy ra trong truyện xoay quanh sự xuất hiện của tiếng cú kêu. Tiếng cú trong dân gian đi kèm với sự xui xẻo của con người. Vì thế nó làm cho những người nghe được tiếng cú kêu thì lo lắng sợ rủi ro cú mang tới hay cú báo cho mình sự rủi ro. Sự rủi ro ấy là gì không ai biết được. Nhưng có một điều rất thực đó là từ tiếng cú kêu mà người này quan tâm đến người kia biết đến lối sống của người kia và cùng… đề phòng. Truyện đã đề cập đến một hiện tượng rất khách quan tồn tại xung quanh ta. Đó là lối sống “đèn nhà ai nấy rạng”. Nó còn đề cập đến cả cách sống tò mò soi mói cuộc sống của nhau có khi còn can thiệp thô bạo đến cuộc sống của nhau. Chỉ một câu nói trong chuyện đủ nói lên tất cả: 

“ Tôi đặc biệt chú ý đến mẩu hỏi đáp lý số về tiếng kêu của chim cú trong vườn nhà.

Người hỏi hỏi: “Đêm qua có con cú đến đậu ở đầu hồi nhà tôi kêu lên ba tiếng rồi bay đi chẳng biết như vậy là điềm gì?”. Nhà lý số trả lời: “Bạn thử kiểm tra xem có phải:

1. Phía đông bắc nhà bạn có đường đi hoặc nhà bạn hướng đông bắc;

 2. Nếu bạn đã lập gia đình thì đứa con đầu bướng bỉnh khó dạy;

3. Bên nội của bạn có một ngôi mộ bị xung phá.

4. Hàng xóm bên trái và phía sau hợp với gia đình bạn bên phải và phía trước không hợp… Nếu không phải như vậy thì đừng lo lắng làm gì”.

          Duy tâm đó nhưng không chỉ duy tâm nó còn cho người đọc hiểu thêm một điều: đâu có cần phải quan tâm đến đời sống tâm linh của ai mà hãy quan tâm đến nhau bằng cuộc sống thực mà hiểu nhau và tạo dựng cho nhau một lòng tin dù có chuyện gì sảy ra cũng có thể giúp nhau trải qua được tất cả đâu cần những phỏng đóan mập mờ quanh tiếng cú kêu.

Tất cả cứ mập mờ quanh tiếng cú kêu cho đến khi chấp nhận sự tồn tại của cú trong cuộc sống đời thường cuả chúng ta. Nó đúng với quy luật sinh tồn mà thôi. Cú thì cũng như con người phải tìm cho mình một chỗ mà sinh sống và duy trì nòi giống. Và nó tìm được cây lộc vừng kia. Nó không hề biết con người sống quanh đó lo lắng như thế nào khi nghe tiếng kêu của nó. Nó thản nhiên sống thản nhiên cặp đôi và thản nhiên sinh con trong cái tổ ấm của mình. Nhưng rồi chính con người (dù là ai) đã phá đi cuộc sống mà nó tạo dựng được. Nó không thể chống được cái ác đến từ con người. Tiếng kêu của nó không gieo sự rủi ro cho ai mà chính lại gieo sự rủi ro cho chính nó.

TIẾNG CÚ KÊU là một tiếng kêu đòi một lối sống nhân hậu với con người và với những sinh linh bé bỏng của thiên nhiên.

NGUYỄN ĐỨC THIỆN

 

 

 

 

 

More...

MỘT CHUYỆN TÌNH THỜI CHIẾN TRANH/ 2209/ Phát tối 2/4/2011

By Gã Phu Xe bất tử (Mai Thìn)

MỘT CHUYỆN TÌNH THỜI CHIẾN TRANH/ 2209/ Phát tối 2/4/2011 

Truyện ngắn Trung Trung Đỉnh 

 

Tôi được ông Ba Sang gọi lên lán chỉ huy để nhận nhiệm vụ. Thực lòng tôi chẳng ưa gì ông một ông già khó tính mặt lúc nào cũng lầm lầm lì lì khô như củi. Ngoài bốn mươi tuổi mà ông vẫn chưa có “thời cơ” lập gia đình phần vì hoàn cảnh chiến tranh quanh năm suốt tháng ở phía trước. Phần vì bản tính ông khô khan thế nên rất khó gần phụ nữ.

 

Nghe đâu trước khi được về Nam chiến đấu ông cũng có mối tình khá sâu nặng với một cô giáo rất xinh ở Hà Nội nhưng khổ nỗi chỉ vì ông biết yêu mà lại không biết thổ lộ tình yêu nên cuối cùng người ông yêu sa vào tay một người bạn hôm ông dẫn anh ta tới thăm cô nàng. Kể từ sau cái ngày đáng buồn ấy ông không còn có cảm tình với bất kỳ người con gái nào nữa.

 

Ấy thế mà khi cậu công vụ của ông tới gọi tôi thì trung đội trưởng Chín Thung của tôi lại bảo: “Tao biết tỏng nhiệm vụ chi rồi. Mi phải nhận đó nghe. Cứ nhận đại đi rồi về tao nói cho mà hay sau!”. Quái lạ cái nhà anh Chín Thung này! Tôi thấy cái sự ấm ớ của anh mới rõ là nhảm nhí vì tôi là lính làm sao dám từ chối lệnh của cấp trên mà xui nhận với lại không nhận! Vậy nên tôi mới hỏi anh: “Anh nói gì lạ? Anh biết nhiệm vụ gì không mà cứ nói càn?”- “Thì mày cứ tới đó khắc biết”. Thế đấy! Nói thế thì còn nói làm gì? Tôi là y tá của đơn vị. Vâng một y tá bất đắc dĩ. Chả là sau trận đánh đồn Chè tôi ngồi buồn tí táy mở túi thuốc chiến lợi phẩm của đơn vị ra xem tình cờ thấy có quyển sách “Cẩm nang y tá” liền mò mẫm đọc. Té ra cái sự tiêm chích theo như trong sách này dạy cũng chẳng phải khó khăn gì cho lắm. Mà ngay cả cái việc chẩn đoán các căn bệnh thông thường thực ra cũng đơn giản. Ví như muốn tiêm chích một loại thuốc có dầu thì nhất thiết phải luộc thuốc lên rồi tiêm vào mông. Sau khi phóng mũi kim xuống phải rút ngược lên một tí coi xem có máu không. Nếu có máu hút theo có nghĩa là ta đã chích trúng động mạch cần phải kéo nhanh mũi kim lên hoặc nhấn sâu xuống rồi lại thử coi xem máu có còn hút theo thuốc lên xa- ranh nữa không. Nếu máu hết theo lên tức là không nguy hiểm nữa tiêm được rồi đấy. Còn nếu dùng kháng sinh thì nhất thiết phải thử phản ứng trước khi tiêm. Bệnh nào cũng có nguyên nhân và cách chữa trị. Tìm được nguyên nhân thì chữa trị đơn giản cứ theo ba-rem liều lượng có sẵn thế là ổn. Thằng Đào kêu đau bụng rờ vô hố chậu phải cu cậu giật thót lên. Tôi bảo đau ruột thừa phải đưa nó đi cấp cứu ở trạm xá gấp. Thế mà trúng choóc. Cũng vì có vụ đau ruột thừa của thằng Đào mà tôi có dịp làm quen với trạm xá. Nói tới trạm xá tức là nói tới cái sự tươi đời vì ở đây lúc nào cũng vừa có nếp lại cũng vừa có tẻ!

 

Người tôi được làm quen đầu tiên là y sĩ Thư. Chị Thư tiếp nhận thương bệnh binh ở phòng cấp cứu sau khi hội ý chớp nhoáng với bác sĩ Long họ đi đến kết luận là phải mổ ngay. Tôi được họ mời phụ mổ. Đến nước này tôi phải thú nhận trình độ chuyên môn giê rô của mình. Cả bác sĩ Long lẫn chị Thư đều không tin họ bảo lúc này không cần khiêm tốn. Té ra cái sự phụ mổ cũng chẳng có gì ghê gớm lắm. Tôi đứng cạnh chị Thư tiếp tay cho chị những thứ dao kéo bông gạc khi anh Long cần. Sau ca mổ tôi được chị rủ xuống bếp chị nuôi... tư tỏi. Ấy là món chè đỗ xanh nấu với mật ong. Lần đầu tiên được chén món này tôi thấy ngon và thơm vô cùng. Còn anh Long thì thậm chí không thèm ăn. Anh bảo chỉ cần nhắc đến đỗ xanh là anh đã ớn dựng tóc gáy! Chẳng là năm ngoái trạm xá được trên cấp đậu xanh thay gạo cả tháng trời ăn tuyền đậu xanh nên anh ngán đến tận bây giờ. Hôm rời bệnh xá về chị Thư gởi tôi một lít mật ong và một túm đỗ xanh bảo “biếu anh Ba Sang” tôi mới biết ông Ba đâu phải chú người gỗ. Chị Thư bảo chị với “anh Ba” là đồng hương. Biết vậy tôi chẳng bình phẩm gì. Tôi thấy chị nói tiếng Huế hay Trị Thiên gì đó còn ông Ba nói rặt giọng Quảng đồng hương Miền cũng còn khó nữa là. Tôi nghĩ nếu ông Ba mà “vớ” được bà Thư này thì đời ông coi như  được đền bù xứng đáng. Chị Thư người mảnh dẻ nhưng không phải cái mảnh dẻ yểu điệu yếu đuối. Chính sự mảnh dẻ của chị lại toát lên vẻ cứng cỏi kể cũng có hơi khô nhưng bù lại nghe chị nói ta có cảm giác chị đang thì thầm từ đâu đó một thứ giọng ngân nga như chuông lại vừa trầm ấm gần gũi.

 

- Em nói anh Ba đừng gởi chi cho chị nữa nghen.

Đấy giọng chị đấy chỉ cần nghe là ta không có cách nào khác mà không “dạ”.

- Dạ tôi ngoan ngoãn nói.

Tôi hồi ấy mới mười chín hai mươi lại mới vào chiến trường mới tham gia đánh đấm được dăm trận lẻ tẻ mới đủ mọi thứ nên thấy cái gì cũng lạ cũng hong hóng nghe hong hóng theo dõi và cả hong hóng suy nghĩ nữa. Về tới đơn vị tôi kể lại chuyện đó với anh Chín Thung. Anh Chín là người Quảng cùng quê với ông Ba Sang. Đã nhiều lần anh muốn cho chị Thư tìm hiểu ông Ba nhưng cả anh cũng là người vụng chỉ biết nói với chị rằng anh Ba Sang là người tốt! Nói thế thì ai chả nói được? Chả lẽ anh em chúng tôi là người xấu hết à? Thật khó lọt lỗ tai tôi chứ chưa nói gì tới tai chị Thư. Vả lại nghe đồn chị Thư cũng lắm chuyện lắm. Chị chỉ thích yêu mấy anh bộ đội miền Bắc có học thức cao lại trẻ tuổi. Chính anh Chín có lần bảo với tôi rằng chị Thư mê tay Long bác sĩ nhưng tay Long đã có vợ có con “ở ngoải” nên cứ tránh chị mặc dù hai người làm việc cùng nhau. Tôi nghiệm thấy có lẽ đúng. Anh Long tỏ ra khá lạnh lùng với chị Thư một điều “cô” hai điều “cô” ngay cả khi chê món chè anh cũng có cái vẻ của người né tránh. Còn chị Thư thì cứ nhẹ nhàng như không. Mọi cử chỉ của chị đều giản dị và hơi đượm buồn hơi... cam chịu.

Hôm tôi đem mật ong và đỗ xanh của chị Thư về trao cho ông Ba Sang ông tra hỏi tôi rất nhiều rằng Thư có nói gì với em không? Thư có bảo bao giờ thì đi với đội phẫu ra phía trước không? Thư không viết cho anh chữ nào à? Tôi bắt thóp được tình cảm của thủ trưởng nên cứ ấm ớ kể rằng chị ấy chỉ hỏi thủ trưởng có khỏe không có hay buồn hay cáu với anh em không thôi. Ông Sang ngồi thừ ra một lúc rồi bỗng đưa cho tôi chỗ đỗ xanh và mật ong ấy bảo đem về nấu chè cho anh Chín và anh em trung đội trinh sát cùng ăn. Tôi chả dại gì không nhận. Về đến nơi đem “chiến lợi phẩm” ra khoe anh Chín mắng tôi một trận lên bờ xuống ruộng rồi mới nói: “Mày đừng bép xép ông ấy hâm hâm nhưng tốt bụng cực kỳ đừng để nhiều người hay chuyện ông ấy nhụt chí”. Tôi tất nhiên là “vâng”.

 

 Bẵng đi một thời gian vì bao nhiêu công chuyện hôm nay ông Ba Sang lại nhớ tới tôi mà gọi hẳn có chuyện gì đây? Tôi mong sao mọi điều đến với ông và chị Thư được suôn sẻ. Và tôi tự dưng cảm thấy ngùi ngùi thương ông lại cũng phát hiện ra ông đâu phải người khô như củi mà thỉnh thoảng anh em lính tráng chúng tôi cứ hay đem ra bình luận.

***

Tôi vừa lội qua suối thì đã thấy anh chàng công vụ của ông Ba Sang đón ngay trên bờ. Đó là một thanh niên dân tộc Bahnar có giọng nói cứng rất khó nghe: “Thủ trưởng biểu tui chờ anh.” anh ta nói từng tiếng một. “Có chuyện gì quan trọng không?” tôi hỏi. Anh ta bảo rằng thủ trưởng bố trí cho tôi tới trạm xá học một thời gian để về làm y tá chính thức cho đơn vị. Tôi nghe mà ngán ngẩm. Thực lòng tôi đâu có mê cái nghề ấy. Chẳng qua vì lúc rỗi tôi tò mò tìm hiểu rồi khi bí thì ra tay bây giờ đến nước này rõ là thân làm tội đời rồi! Anh bạn công vụ khoác súng đi trước bảo tôi theo sau. Tôi buồn bã ra mặt trong lòng chỉ nghĩ tới chuyện phải từ chối thế nào để ông ta hiểu đừng bắt tôi đi học. Nhưng tôi đâu có nghĩ được điều gì cho mạch lạc?

 

- Anh Bình. Thủ trưởng biểu tui dẫn anh vô đây.

Tôi sững lại trước cửa một căn nhà hầm nhỏ có biển  đề “Quân y đơn vị”. Chẳng lẽ chuyện đã gọn ghẽ thế này rồi sao? Chẳng lẽ ông ta không cần hỏi xem nguyện vọng của tôi? Nghĩ thế người tôi giận run lên nhưng chân vẫn cứ bước vào. Tôi không ngờ chị Thư đang ngồi đó trước cái bàn ghép bằng phên nứa cùng cái túi quân y. Thấy tôi vào chị ngẩng lên nhìn tôi mặt đầy nước mắt. Rồi bỗng chị lao tới ôm chầm lấy tôi vừa nức nở khóc vừa nói:

- Em ơi! Chị em mình bị người ta đánh tráo cho nhau rồi!

Tôi không hiểu. Không tài nào hiểu được đánh tráo cái gì và ai là người ta?

Té ra ông Ba Sang không phải là chú người gỗ. Chính âm mưu này do anh Chín lập ra sau này tôi mới biết. Anh Chín đã tới trạm xá gặp bác sĩ Long kể về tình yêu của ông Ba Sang với chị Thư rồi anh đề nghị anh Long nếu thương chị thì nên cho chị chuyển về đơn vị chúng tôi để hai người có dịp gần nhau vì vả hai cùng đều lớn tuổi cả rồi mà chiến tranh thì chả biết tới bao giờ chấm dứt. Anh Long nghe cũng xuôi tai có điều anh đề nghị cho cậu y tá Bình - tức là tôi về trạm xá thế chân chị Thư phải có thêm một y tá nam trẻ khỏe như tôi thì anh Long mới chấp nhận.

Cho mãi tới bây giờ tôi vẫn nhớ gương mặt đen sạm của ông Ba Sang khi ông tới chỗ chúng tôi bắt gặp cảnh khóc lóc của chị Thư. Ông nói run run:

- Thôi thôi mà. Không có gì đâu mà. Nếu các đồng chí không ưng thì thôi cũng được kia mà. Ở đây với trạm xá cũng vẫn là một đơn vị tôi đâu có ép...

Đúng thế. Trạm xá chỉ là một đầu mối của đơn vị. Nhưng tôi đã nhận ra nét mặt quá đau khổ của thủ trưởng Ba khi ông khẽ đặt tay lên vai tôi nói nhỏ: “Tuỳ em thôi mà!”.

Không phải tuỳ tôi điều ấy tôi hiểu. Nhưng lúc đó nếu tôi từ chối hẳn từ chối được. Ấy vậy mà tôi đã lại “vâng” một cách nước đôi để rồi sau đó phải khoác ba lô về trạm xá thật. Còn chị Thư với ông Ba đã thành vợ chồng sau đó nửa năm đúng vào dịp tôi được nhận bằng y tá trước Tết ta vài  ngày trước khi toàn đơn vị được lệnh vào chiến dịch lớn. Đám cưới của họ nói như anh Chín Thung là lấy vui làm gốc món ăn chỉ có độc một nồi quân dụng lớn chè mật ong nấu với đỗ xanh do chính anh Chín vừa là anh nuôi vừa là trưởng ban tổ chức nấu ai ăn được bao nhiêu thì tuỳ khả năng mà múc../.

 TRUNG TRUNG ĐỈNH  

Nguồn: VN  Q Đ

 

 LỜI BÌNH CỦA NGUYỄN ĐỨC THIỆN/ 2/3/11

 

Chiến tranh có bao nhiêu chuyện tưởng như không thể nào có được nhưng nó cứ diễn ra. Có thể làm người ta ngạc nhiên nhưng rồi nó cứ diễn ra như bao điều bình thường khác. Truyên ngắn MỘT CHUYỆN TÌNH THỜI CHIẾN TRANH của Trung trung Đỉnh là một trường hợp như vậy. Chuyện bắt đầu từ một anh lính. Từ một anh lính trở thành y tá nhờ một cuốn sách hướng dẫn cách tiêm một cuộc đóan mò bạn lính đau ruột thừa và phụ mổ bất đắc dĩ khi đến nhận nhiệm vụ ở trạm xá. Anh ta từ đơn vị chiến đấu đến trạm xá làm một nhiệm vụ mà có lẽ chỉ diễn ra trong chiến tranh: thăm dò một nữ y sĩ cho ông thủ trưởng lớn tuổi chưa vợ. Anh ta hòan thành nhiệm vụ mà không hề biết đã hòan thành nhiệm vụ đó là mang tin đầy đủ về người con gái mà thủ trưởng mình cần biết. Và điều đáng quý là sau đó ông thủ trưởng và cô y sĩ kia được tác thành vợ chồng nhờ bạn chiến đấu hùn vào.

 

Chiến tranh ngòai sự hy sinh xương máu còn có những sự hy sinh khác của những người lính. Chuyện ông Ba Sang lớn tuổi chưa vợ trong hòan cảnh chiến trường rất có thể sẽ không sao tạo lập được gia đình nếu không có sự tận tình giúp đỡ của bạn bè. Y sĩ Thư cũng vậy trong hòan cảnh như thế cũng rất có thể chẳng thể có được một gia đình. Chuyện như thế diễn ra trong chiến tranh là điều hiển hiện. Chiến tranh là bom đạn là hy sinh. Sau chiến tranh có hàng ngàn chi em là bộ đội là thanh niên xung phong không kịp xây dựng hạnh phúc gia đình. Họ thêm một lần nữa phải hy sinh ngay khi đất nước đã hòa bình. Nhưng không phải ở đâu cũng làm được những việc mà đồng đội ông Ba Sang đã làm. Phải thương nhau nhiều lắm. phải lo nghĩ cho nhau thật nhiều mới tìm cách để ông Ba Sang đến được với người con gái mà ông để ý mới tạo dựng được một gia đình hạnh phúc ngay trong lúc chiến tranh đang tiếp diễn. Cuộc tình của ông Ba Sang và y sĩ Thư không có những cuộc hẹn hò không có những lúc tắm mình trong ánh trăng rừng hay rúc rích cười bên con suối reo róc rách nhưng nó lại tràn đầy tình người và cao hơn cả là tình đồng đội trong chiến đấu. Chuyện tình giản dị mà long lanh sáng: “ Còn chị Thư với ông Ba đã thành vợ chồng sau đó nửa năm đúng vào dịp tôi được nhận bằng y tá trước Tết ta vài  ngày trước khi toàn đơn vị được lệnh vào chiến dịch lớn. Đám cưới của họ nói như anh Chín Thung là lấy vui làm gốc món ăn chỉ có độc một nồi quân dụng lớn chè mật ong nấu với đỗ xanh do chính anh Chín vừa là anh nuôi vừa là trưởng ban tổ chức nấu ai ăn được bao nhiêu thì tuỳ khả năng mà múc.”

Chiến tranh của chúng ta là như vậy trong gian khổ và hy sinh vẫn sáng lên tình người tình đồng đội tha thiết.

 

NGUYỄN ĐỨC THIỆN

 

 

 

 LỜI BÌNH “ MỘT CHUYỆN TÌNH THỜI CHIẾN TRANH” /2/4/2011

 

          Trong chiến tranh giữa tên bay đạn lạc cái chết luôn cận kề người ta càng cần tới nhau thêm. Cần một người để mà yêu thương và để được yêu thương biết là dường nào. Thế nên không hiếm những lứa đôi đã yêu nhau ngày đất nước chưa thể hòa bình. Bao cuộc tình đẹp như cổ tích đã nảy sinh và tồn tại trong chiến tranh. Bao mối tình sét đánh mãnh liệt đã bùng nở trong chiến tranh. Bao ngọt ngào bao đắng chát bao xót thương bao lỡ lầm bao sum họp và bao chia lìa đã xảy ra khiến cho cuộc tình đành kết thúc tức tưởi hay là hân hoan đoàn tụ?

 

          Hãy nghe người kể chuyện giới thiệu sơ lược về mình: “Tôi hồi ấy mới mười chín hai mươi lại mới vào chiến trường mới tham gia đánh đấm được dăm trận lẻ tẻ mới đủ mọi thứ nên thấy cái  gì cũng lạ cũng hong hóng nghe hong hóng theo dõi và cả hong  hóng suy nghĩ nữa…”. Và hãy nghe tác giả kể lại một chuyện tình mà mình đã được chứng kiến đã được sẻ chia. Một chuyện tình chẳng hoa mộng thơ thẩn tí nào. Cứ thật thà như đất và cứ khô khan như là ngói vậy. Đúng hệt tính cách của người nam trong chuyện tình này. Ấy là ông Ba Sang một người rất khó để phụ nữ đến gần chứ chưa nói chi đến chuyện để ý lưu tâm và xốn xang hồn vía . Bởi đã trên tuổi bốn mươi mà ông Ba Sang không những chưa vợ chưa con mà còn chưa có cả một mảnh tình. Nghe bảo trước khi vào Nam chiến đấu ông cũng tình sâu nghĩa nặng lắm lắm với một người con gái làm nghề dạy học ở thủ đô. Con người ông thấy khô khan kín đáo nhưng tình trong ông cũng dạt dào cũng thắm thiết như ai. Chỉ phải tội! Chắc cũng do cái tính mà ra…Nên ông chả dám mở lời khiến người ta trở thành bạn tình của kẻ khác. Và kẻ khác đây nào phải ai xa lạ chính là một người bạn ông đã đích thân dẫn đến thăm cô gái đó!

 

Sự trớ trêu biến thành nỗi đau ghim chặt nơi tâm hồn khiến ông thêm co mình trước phái nữ khiến ông thêm dè dặt với tình yêu. Thử hỏi một người có tính cách như thế lại gặp phải tình huống như thế thì sao còn có thể tiếp tục đến với tình yêu một cách bình thường được đã nào… Thế nên đơn vị mới phải lo đồng đội mới phải tạo mọi điều kiện để cho ông và cô y sĩ Thư có thể gần gụi. Không ngạc nhiên khi cô Thư là đích nhắm tới của bao người ở một cái nơi toàn những nam giới là nam giới. Và cũng chả lạ lùng gì khi cô ấy đem lòng yêu thương một bác sĩ có tên là Long cùng ở chung một trạm xá với mình. Mặc cho Long đã có vợ con ở hậu phương.

 

Cũng là có lý cả thôi khi nhân vật Tôi trở thành một y tá bất đắc dĩ dù lỏm bỏm về bệnh tật thuốc men như mọi người. Và ngẫm ra cũng là rất phải khi được điều vào phụ mổ một ca ruột thừa. Đang giữa thời chiến và việc cứu người mới quan trọng xiết bao. Rồi xa hơn nữa việc Tôi được hoán chuyển ra phục vụ ở trạm xá cho chị Thư về “ Quân y viện đơn vị” để được gần gũi với ông Ba Sang theo kịch bản của trung đội trưởng Chín Thung thì cũng là rất nên đấy chứ! Bởi tình cảm chị Thư đang như thế và ông Ba lại không phải là mẫu đàn ông hấp dẫn.

Nên mới cần lắm những tác động từ khắp phía từ mọi người. Hay cho những sắp đặt tưởng chừng rất xơ cứng đóng khuôn nhưng lại hết sức là linh hoạt mềm mỏng. Chẳng thế mà nhân vật tôi bỗng trở thành y tá thật sự còn họ ông Ba Sang và chị Thư y sĩ đã nên vợ thành chồng sau đúng nửa năm kể từ khi những sự việc như thế bắt đầu xảy ra.

 

Một chuyện tình thời chiến không ngẫu nhiên không màu mè hoa lá. Rất đơn sơ chân thật như trong chính tình yêu của ông Ba trong chính những sắp xếp của đồng đội mà hiệu quả đến khó ngờ.

………………………………………………………

 

                    Nguyễn Mỹ Nữ

 

More...

CHO CHÚT LÁ XANH/2680/ phát 26/3/2011

By Gã Phu Xe bất tử (Mai Thìn)

CHO CHÚT LÁ XANH/2680/ phát 26/3/2011

 (Kính tặng người thày đầu tiên dạy tôi làm người)

 Truyện ngắn của Nguyễn Đức Thiện

          Cánh cửa nhà giam khép lại. Anh công an đã thật nhẹ tay nhưng tiếng động vẫn dội lên khắc nghiệt. Bao giờ cũng thế mỗi khi tiếng động ấy dội lên thày giáo Quỹ đều ngoái đầu nhìn lại. Mắt thày trĩu buồn. Cạnh thày đứa nhỏ gày guộc cũng đang ngoái cổ nhìn về phía cánh cửa nhà tù. Những giọt nước ấp đầy mi mắt nó.

 

          Ra về hai người hai chiếc xe đạp sóng hàng. 

 

          Anh trực đài truyền thanh của nhà máy chờ thày ở cổng nhà:

 

          - Thưa thày. Có người điện thoại báo chiều nay người ta sẽ đến thăm thày.

          - Ai thế?

          - Dạ không biết. Họ điện thoại hỏi thày còn không. Em bảo còn. Họ hỏi thày còn ở chỗ cũ không. Em bảo họ vẫn còn. Họ nhắn em báo thày chiều nay họ đến thăm. Thôi em về. Thày sắm cái điện thoại đi. Trong nhà không có cái điện thoại bất tiện lắm thưa thày….

 

Thày dựa chiếc xe đạp vào bờ hiên nhắc đứa  nhỏ khóa xe của thày lại.

          - Con nghe rồi đó. Chiều nhà ta có khách. Con cầm tiền ra chợ mua thêm chút dầu ăn. Lỡ người ta có ở lại ăn cơm với thày trò mình thì còn có cái mà nấu. Đi nhanh về nhanh còn ăn cơm mà đi học chiều.

 

          Thằng bé vâng một tiếng thực lễ phép làm hết việc được nhắc rồi cầm những đồng tiền thày giáo Quỹ đưa cho chạy xe đi.

 

          Thày Qũy vào bếp nấu cơm. Một cái nồi bé xíu được bắc lên bếp. Ngọn lửa than hừng hực cháy như muốn thiêu rụi luôn cái nồi. Thày ráng nhướng con mắt lên chăm chú nhìn bóng nước đang sôi ùng ục trong đó. Khi nước vừa cạn thày lấy một lớp tro đổ lên phủ kín hết mặt than hồng rồi mới đặt lại cái nồi lên trên. Gía mà không phải ăn thì người như thày đâu có phải tỷ mẩn làm công việc chẳng cần mấy thời gian nhưng lại phải rất cẩn trọng kia. 

 

          Thày bước ra sau vườn. Mảnh vườn con con và những cây rau đủ loại mọc tuỳ tiện. Rau dền xen rau cải. Lá mồng tơi chen mọc với mấy cọng rau muống cạn. Cũng không nhiều mỗi lần hái nấu chừng hai nồi canh là hết. Với thày như thế là đủ. Đã lâu lắm rồi thày đã quen với rau dưa. Rau dưa sạch ruột

 

          Thày không phải chỉ có một mình. Vợ thày mới “về” cách nay gần chục năm. Con trai lớn đi bộ đội vào những năm ác liệt nhất của chiến tranh. Ở miết bên chiến trường Lào. Hoà bình anh ta về thăm thày và xin thày cho ở lại xứ đó vì chót yêu một cô gái sứ Chămpa rồi. Đứa con trai thứ hai học xong Đại học về quê đi dạy. Một cô con gái chẳng nói làm gì. Gái về nhà chồng rồi. Hồi bà còn sống thày có nuôi một đứa cháu nội con anh cả. Lâu lâu căn nhà cũ kỹ này sôi lên một trận vì có con cháu hoặc có những học trò bỗng nhớ đến thày về thăm rồi sau đó lại chìm nghỉm trong sự tĩnh lặng. Nhất là khi bà “ về”. Anh con trai thứ hai mấy lần mới thày về ở trong quê. Thày không đi. Lý do thực đơn giản: thày còn bao lớp học trò. Đi rồi lỡ chúng muốn gặp lại làm sao mà gặp được.

 

*

*        *

Khách đến vào giấc ba giờ chiều. Ông ta đi trên một chiếc Woai-anpha màu bạc len lách trên con hẻm bê tông đến tận cửa nhà thày giáo Quỹ.  Ông ta cúi đầu chui qua cái cổng có hai cánh xiêu vẹo. Ông ta dơ cả hai tay lên và ôm choàng lấy thày giáo Quỹ khi thày mới từ trong nhà bước ra.

 

- Em chào thày. Thưa thày…

Thày giáo Quỹ khẽ đẩy tay người đàn ông ra và nhướng mắt:

 

 - Anh là ai sao tôi không nhận ra…

- Dạ em là Vĩnh. Vĩnh bàn cuối lớp bốn của thày ngày xưa đây ạ…

- Vĩnh… Ờ ờ Vĩnh….

Thày ngập ngừng thế một lúc khá lâu và rõ ràng thày chưa thể tìm ra được cái nét của cậu học trò lớp bốn có gì giống với người đàn ông rắn rỏi mạnh mẽ trước mặt mình. Thày đưa cả hai tay mời khách vào nhà. Ông khách cẩn thận dắt chiếc xe máy qua cổng và lấy ra từ chỗ đèo hàng một bọc nhỏ mang vào nhà hai tay nâng lên đưa cho thày giáo Quỹ: 

 

- Thưa thày kể từ ngày lên học cấp hai đến giờ em không về thăm lại thày. Em đến để xin lỗi thày xin thày nhận cho em gói quà này coi như thày đã tha lỗi cho em…

 

Thầy Qũy không thể chối từ dơ tay nhận lấy:

- Anh đến thăm tôi thế này là quá tốt rồi… Lần sau đừng quà cáp gì nhé. Mà này tôi nhớ ra anh rồi đấy. Đừng trách tôi già lẩm cẩm hay quên. Gần tám mươi rồi còn gì…

 

Cả hai bỗng yên lặng. Chuyện về một đêm cách nay hơn bốn mươi năm bỗng hiện về.

 

Đó là một đêm mùa đông rét như cắt da cắt thịt. Không ai còn đi lại trong cái đêm rét mướt như thế. Vĩnh một mình lang thang trên đường. Nó không còn đường nào để về. Nhà nó giờ này chắc đã đóng cửa. Bố nó chắc đã hết cơn giận  lên giường ngủ. Chắc là chỉ còn có mẹ thức vì  lo cho nó. Con đường ra cổng nhà mày giấy Đáp Cầu cũng đã vắng tanh vắng ngắt. Nó đói và rét. Đói vì từ chiều đến giờ nó không có hạt cơm nào vào bụng. Rét vì trên mình nó chỉ có một chiếc áo sợi chùm ra bên ngoài chiếc áo sơ mi mỏng tanh. Nó không dám về nhà. Một cây roi tre đang chờ nó. Một ông bố dữ đòn đang chờ nó. Chiều nay khi nghe ông bố quát lên: “ Đứa nào lấy tiền trong túi tao?” là nó biết mọi chuyện sẽ bắt đầu nếu nó không trốn nhanh ra khỏi nhà. Không oan một chút nào. Chính nó chứ không phải ai khác. Lần này nữa là lần thứ bao nhiêu mà nó vẫn không chừa. Hễ túi áo bố sơ hở thế nào nó cũng móc. Khi thì vài xu. Khi thì vài hào. Cũng vì vài xu vài hào đó mà nó đã từng bị những trận đón tím tái cả cái mông vốn gày đét của nó. Vậy mà nó cứ không chừa. Lần này không phải vài xu vài hào mà vài đồng. Vài đồng với mức lương công nhân cơ khí của bố sẽ không còn là nhỏ nữa. Vĩnh là một đứa trẻ không ra ngang ngược mà cũng không ra một đứa trẻ hiền lành. Mỗi khi bị đánh đòn là mỗi lần nó khóc thảm thương và lạy bố như tế sao. Nhưng rồi sau đó đâu lại hoàn đó. Có gan sang nhà hàng xóm bẻ cổ gà mang ra suối nướng ăn. Có gan chặt cả buồng chuối nhà hàng xóm   rấm chín ăn dần. Chơi đáo bằng cúc áo về nhà vặn tất cả cúc áo trong nhà. Với nhà nó là một đứa trẻ bất trị. Ông bố rát đòn đánh nó mãi rồi cũng nản. Nhiều khi chỉ còn bết nhìn nó mà thở dài. Lần này là mấy đồng. Không còn là chuyện nhỏ nữa Vĩnh biết thế. Nó còn biết lần này nó đã đi quá đà nên nó không dám về nhà.  Con đường ra cổng nhà máy sao mà dài thế. Nó thèm được rúc vào chiếc chăn bông khai mù nước đái của mấy đứa em. Nó bỗng thấy cả một khoảng rộng sâu thẳm và đen thui trước mặt. Vĩnh nhận ra đó là sân vận động của nhà máy. Mà bên cạnh sân vận động là lớp học của nó. Thôi được ghé vào lớp ngả lưng lên mấy chiếc ghế mà ngủ qua đêm. Chứ còn biết đi đâu bây giờ. Lớp học tường đất mái lá không cửa nẻo gì. Ngày ấy trường học giống như nhà thờ chẳng ai dám đến mà phá phách. Vĩnh lẳng lặng chui vào lớp đến ngay cái bàn mình ngồi học mỗi ngày và ghé lưng xuống cái ghế băng dài. Nhưng cơn đói cứ thúc vào dạ dày nó khiến cái lạnh càng lạnh hơn. Nó lại bò dậy. Bỗng có  một đốm lửa hiện ra. Bếp nhà thày giáo Quỹ. Hồi ấy thày giáo Qũy chưa có nhà. Thày còn ở trong một gian hẹp cạnh ngay lớp học. Gian bếp được làm tách ra. Vĩnh bò dậy. Mong sao trong bếp nhà thày còn một ít cơm nguội. Thế nào cũng có muối. Cơm nguội chấm muối cũng tốt chán rồi. Cũng chẳng mấy khó khăn để lọt được vào bếp nhà thày giáo Quỹ. Chỉ có một cái phên nứa đan lóng một.Trong bếp có một lò than đã bi chét kín chỉ còn hở có một cái lỗ tròn bằng ngón tay. Nồi cám lợn. Nhà thày cũng nuôi lợn.. Vĩnh thò tay vào chạn. Cái chạn trống không. Ngọn lửa than tạo ra một thứ ánh sáng yếu ớt đủ cho nó thấy được hết các thứ trong bếp. Vài cái nồi. Nó mở vung từng cái. Toàn là nồi không. Nó thất vọng ngồi xệp xuống ngay cạnh bếp than hồng.  Nó kiếm được một thanh củi và nhè nhẹ mở nắp vung nồi cám. Bàn tay nó chạm vào nắp vung bỏng dãy. Nó buông vội. Nắp vung rơi xuống làm vang lên một tiếng động khiến nó rụng rời chân tay. Một ánh đèn pin loé lên. Hồn vía Vĩnh bay đi đâu hết. Bây giờ thì nó run lên vì sợ chứ không phải vì rét nữa.

- Vĩnh phải không em?

- …

- Lên nhà đi em. Đừng sợ. Không ai làm gì em đâu…

- …

- Lúc tối bố em có đến đây tìm em. Vì thế khi nghe tiếng động ở ngoài lớp tôi đoán là em đã đến. Người như em thì chỉ còn biết đến lớp học thôi chứ còn đi đâu nữa… Lên nhà đi tôi rang cơm lại cho mà ăn… Đói lắm rồi phải không?

Đã từng bốc vụng ruốc thịt của em từng xẻo trộm một miếng thịt nạc bỏ vào chảo mỡ rán vàng từng ăn vụng một miếng thịt gà kho nước mắm… ngon thật. An vụng bao giờ cũng ngon thật. Nhưng chắc không thể ngon được bằng bát cơm rang đêm ấy thày giáo Quỹ rang cho Vĩnh. Cả nhà thày không ai thức dậy. Chỉ có hai thày trò. Thày hỏi:

- Vì sao em bỏ nhà đi như thế này?

- Em sợ bố em đánh…

- Vì sao bố lại đánh?

- Dạ thưa thày…

- Em không muốn trả lời khải không? Thì thôi vậy… Nhưng  bố em đã cho thày biết hết rồi. Em ngủ lại đây đêm nay mai phải về. Về xin lỗi bố mẹ. Cũng còn may em không ra ga Quán Triều ga Đồng Quang ra ngoài chợ… Mà còn biết tìm đường về lớp.  Lớp bốn rồi. Biết nghĩ rồi em đừng làm cho bố mẹ buồn đừng làm cho thày phải buồn.

Đêm ấy Vĩnh không nói thêm câu nào nữa. Mọi chuyện rồi cũng qua đi. Sáng hôm sau thày giáo Qũy lấy xe đạp đèo Vĩnh về nhà. Thày giáo và bố Vĩnh nói gì với nhau ở nhà trên Vĩnh không nghe được nhưng khi thày về không thấy bố Vĩnh gầm lên vì giận dữ như trước kia.

Bốn mươi năm rồi. Chuyện ấy   Vĩnh nhớ đến tận hôm nay.

 

- Em cảm ơn thày…

- Sao em nhiều lời cảm ơn thế? Mà cảm ơn vì cái gì nào.

- Vì bát cơm rang đêm hôm ấy… Nếu không có nó không biết bây giờ em sẽ thành con người như thế nào?

- Thế bây giờ em làm gì?

- Dạ em đi viết báo…

- Viết báo? Hay đấy. Tôi còn nhớ ngày ấy tôi thì bảo “ nước trong leo lẻo “ là một cách viết hay còn anh thì cãi “ nước thì làm sao lại trong leo lẻo được”. Anh đi làm báo là phải… Nhưng anh vẫn chưa nói cho tôi biết vì sao đêm ấy anh lại bỏ nhà ra đi đấy nhé…

- Dạ thưa thày…

- Lại dạ thưa thày…

Thày giáo Quỹ chỉ nói được câu ấy rồi thôi.

 

Anh vẫn chưa dám nói thật sao? Bốn mươi năm rồi còn gì nữa. Thế mà đến tận bây giờ anh vẫn không dám nói thật với tôi. Người ta nói dối được một lần người ta sẽ nói dối được lần thứ hai rồi nói dối cả một đời.

 

- Mà quên tôi không hỏi không phải ngẫu nhiên anh đến thăm tôi chứ?

- Vâng. Em đến đây còn vì một việc nữa. Em muốn viết về cái xóm này.

- Xóm không tên cầu không tên suối không tên có gì mà viết?

- Dạ nó có tên rồi đấy thưa thày.

- Tên gì?

- Xóm nghiện…

- À tôi hiểu rồi.

Thày lặng đi buồn. Lát sau:

- Anh có muốn nghe tôi khuyên anh một câu không?

- Dạ nghe ạ.

- Anh đừng viết gì cả. Đừng viết gì hết. Xóm nghiện. Anh có thấy nó rất chua xót không? Tôi ở đây đã gần năm chục năm trời người ta chưa bao giờ nghĩ đến đặt cho xóm này một cái tên. Bây giờ là xóm nghiện.  Có cả đứa là học trò tôi đó. Tôi làm thày mấy chục năm. Về hưu cũng đã mấy chục năm rồi. Học trò thành đạt nhiều tôi mừng lắm. Nhưng mừng bao nhiêu thì buồn bấy nhiêu. Một trăm học trò thành đạt không giúp tôi hết buồn khi có một học trò hư hỏng.  Vậy mà vẫn có những đứa học trò như thế. Lại còn đi tù nữa chứ…

Đã xế chiều. Nắng đã bắt đầu nhạt. Thằng bé dắt chiếc xe đạp lọc cọc vào cổng:

 

- Thưa thày con về. Cháu chào bác ạ

Thày giáo Quỹ nhận ra ánh mắt ngạc nhiên của Vĩnh:

 

- Nó chẳng phải con cháu gì của tôi hết. Con của thằng học trò tôi đấy. Hôm tuyên án nó xong thằng bé gào lên gọi bố gọi mẹ nghe mà xót ruột xót gan. Tôi đưa nó về và nuôi nó đến bây giờ. Mỗi tháng đưa nó lên thăm bố mẹ nó một lần. Hai mươi năm. Tôi muốn khi vợ chồng nó ra tù sẽ có một đứa con tử tế. Nhưng không biết tôi có sống được đến ngày đó không?

 

Thày giáo Quỹ thở dài. Tiếng thở dài bật ra làm buồn cả một chiều.

 

- Thày vẫn dạy học ạ?

-  Tôi mở cái lớp ở tại nhà này cho chúng nó. Anh có biết không sau nhà tôi có một vườn rau. Rau trồng có rau dại có. Ngày nào tôi cũng tưới. Sức già rồi tưới chẳng được bao nhiêu. Nhưng vài giọt thôi có khi cũng làm tươi lại được một cái lá …

 

Vĩnh xốn xang. Thày ơi có thể em đã là  chiếc lá nhận được vài giọt nước thày tưới mỗi ngày … ./.

 

 

Tháng 5-2005

NĐT

 

 

LỜI BÌNH TRUYỆN NGẮN CHO CHÚT LÁ XANH CỦA NGUYỄN ĐỨC THIỆN/ 26/3/11

Lê Hoài Lương

 

Có những công việc bình thường nếu chỉ được nghe gọi tên như kê khai nghề nghiệp vào một bản khai lý lịch nào đó. Như nghề dạy học của thầy giáo Quỹ. Có những trẻ nhỏ hư ăn cắp vặt vài đồng tiền trong nhà con gà buồng chuối hàng xóm rồi sau này cũng nên người sống được bằng một nghề nghiệp đàng hoàng là viết báo như Vĩnh học trò thày Quỹ. Có cảnh đau lòng cha mẹ một đứa trẻ đều vô tù đứa trẻ sống được dựa vào lòng từ tâm của người đời. Có cảnh đau lòng cái xóm thành xóm nghiện… Sẽ bình thường nếu chỉ nghe kể những nên hư thành bại như vậy trong cuộc sống.

 

Nhưng nếu tất cả xâu chuỗi lại trong căn nhà nhỏ tuềnh toàng của ông thầy già tuổi gần tám mươi ngoài vườn chỉ có vài chút cây lá hàng ngày ông chăm tưới với cái lớp học ông cứ kiên trì dạy tại nhà cho đứa trẻ nào cần những đứa trẻ vì hoàn cảnh không thể đến trường học bình thường gần năm mươi năm gắn với vùng đất này với lớp lớp học trò thành đạt có hư hỏng tù tội cũng có… Giờ đây ông thầy già này vẫn kiên trì nuôi thằng cháu nhỏ gầy còm con của một học trò cha mẹ bị tù ông nuôi nó với chút hy vọng đến ngày vợ chồng người học trò ra tù còn đứa đứa con tử tế. Mà cái án tù hai mươi năm! Thấy ngớp thở sự kiên trì của người thầy già. Thấy hụt hơi chút thiện mong manh người thầy giáo cố níu giữ. Cho cuộc sống. Cho chúng ta người đọc câu chuyện này nghe nhà văn Nguyễn Đức Thiện kể câu chuyện này ngớp thở mà vẫn cứ lằng lặng dâng lên trong lòng một niềm cảm phục vô biên ý chí của con người cảm phục và hy vọng. Như chút lá xanh kia.

 

Hãy đọc lại đoạn kết: “Tôi mở cái lớp ở tại nhà này cho chúng nó. Anh có biết không sau nhà tôi có một vườn rau. Rau trồng có rau dại có. Ngày nào tôi cũng tưới. Sức già rồi tưới chẳng được bao nhiêu. Nhưng vài giọt thôi có khi cũng làm tươi lại được một cái lá …

Vĩnh xốn xang. Thày ơi có thể em đã là  chiếc lá nhận được vài giọt nước thày tưới mỗi ngày …”

 

Cám ơn nhà văn Nguyễn Đức Thiện. Chút lá xanh của sự kiên trì tin yêu và nhân hậu của nhà văn làm thắt nghẹn trong người đọc niềm xót xa thương cảm sự nể phục một con người bình thường mà lớn lao. Và ý nghĩa nhân văn đằm sâu của chút lá xanh vừa hiện thực vừa nhiều tính biểu tượng. Một câu chuyện thấy đâu đó trong cuộc sống vẫn làm người đọc ngạc nhiên xúc động bởi cách dàn dựng khéo và lựa chọn chi tiết đắt. ./.

 

 LỜI BÌNH TRUYỆN: “ CHO CHÚT LÁ XANH”/ 26/3/11

 

NMN

 

Hẳn không gian trong truyện  là khuôn viên của nhà máy giấy Đáp Cầu và tất nhiên trong đó có nhà xưởng có lớp học và có những căn hộ tập thể. Ở đấy cũng có một thầy giáo tên là Quỹ với nhiều thế hệ học trò.

 

Chuyện của ngày xưa cách đây những bốn mươi năm là trong số những học trò nhỏ của thầy có em Vĩnh rất hoang bợm. Em đã: “…Có gan sang nhà hàng xóm bẻ cổ gà mang ra suối nướng ăn. Có gan  chặt cả buồng chuối nhà hàng xóm rấm chín ăn dần. Chơi đáo bằng cúc áo về nhà vặn tất cả cúc áo trong nhà…”. Còn lắt nhắt lấy của nhà thì thôi khỏi phải nói bởi có thể là nó rất sẵn sàng ra tay. Khi thì mấy xu thì thì vài hào và cứ thế thi thoảng Vĩnh lại giở trò. Mặc cho những trận đòn thừa sống thiếu chết của bố. Thằng bé lì lợm thật vì đòn roi của bố kinh khiếp đến thế mà nó vẫn chẳng chịu chừa cho. Và cứ vậy ngày tiếp ngày Vĩnh dấn sâu thêm vào tội lỗi cho đến khi dám lấy vài đồng trong túi áo của bố. Mà mấy đồng đó so với mức lương cơ khí của người cha thì nào có nhỏ nhoi gì!

 

Quá hãi sợ Vĩnh bỏ nhà ra đi trong một đêm mùa đông lạnh buốt. Tâm hồn hoang mang và cái đói cái rét không thôi dày vò hành hạ. Chưa kể bóng đêm hung hãn cũng góp phần đe dọa khiến cho thằng bé thêm muôn phần hoảng loạn. Giữa khi lang thang vô định Vĩnh ghé đến lớp học tìm chỗ ngã lưng nhưng cái bếp có lửa của nhà thầy Quỹ đã khiến nó chẳng đặng đừng. Cũng chỉ đơn giản nghĩ: Vào kiếm miếng ăn bỏ vào cái bụng đang sôi sùng sục của mình. Cơm nguội chấm với tí muối đã là nỗi mong mỏi niềm khát khao mãnh liệt trong tâm hồn của cậu bé. Không ngờ trong lúc lọ mọ lén thầm thực hiện ý đồ của mình thì thầy Quỹ xuất hiện. Sự có mặt đúng lúc của thầy mới đến là tuyệt vời chứ! Thầy đã cho Vĩnh nào chỉ có mỗi một bát cơm rang dằn cơn đói lòng mà còn làm đổi thay cả cuộc đời của nó.

 

Còn chuyện của bây giờ là thằng Vĩnh gầy còm hư hỏng ngày xưa đã trở thành một nhà báo hẳn hoi. Trở về khu vực mình sinh sống hồi trước để gặp lại thầy Quỹ nói lời cảm ơn  và để viết về cái nơi ấy của thời điểm hôm nay. Một cái xóm nói như thầy Quỹ là: “ Xóm không tên cầu không tên suối không tên…” và nói theo cách của hết thảy mọi người là xóm nghiện. Nhiều thứ đã thay đổi trong một cộng đồng trong cả xã hội trong từng con người. Thầy Quỹ đã có thêm nhiều rất nhiều học trò để cảm thấu hơn và ngậm ngùi hơn khi mở lời tâm sự với Vĩnh: “ Một trăm học trò thành đạt không giúp tôi hết buồn khi có một học trò hư hỏng…” .  Thầy đã phải đau xót chứng kiến sự sa ngã của các em. Những bước trượt dài mà đích đến đâu còn một nơi nào khác ngoài nhà tù. Thầy cũng đang nuôi một đứa trẻ con của học trò mình trong cảnh ngộ éo le ấy. Nuôi dưỡng với hy vọng thằng bé được dạy dỗ học hành và đến ngày bố mẹ cháu ra tù họ sẽ có một đứa con ngoan ngoãn tử tế.

 

Một người thầy có tấm lòng sự hy sinh  vì học trò thân yêu mình như thầy Quỹ nào chỉ là cần thiết cho cậu bé Vĩnh của ngày xưa hay cho rất nhiều lớp học trò sau này ở khu vực nhà máy giấy Đáp Cầu. Một người thầy với triết lý sống triết lý giáo dục con người hết sức là độc đáo. Với những ý nghĩ cao cả mà dung dị và sâu sắc nhưng lại giản đơn. Giản đơn đến lạ lùng: “…Anh có biết không sau nhà tôi có một vườn rau. Rau trồng có rau dại có. Ngày nào tôi cũng tưới. Sức già rồi tưới chẳng được bao nhiêu. Nhưng vài giọt thôi có khi cũng làm tươi được một chiếc lá…” .

 

Một truyện ngắn của nhà văn Nguyễn Đức Thiện đẫm đầy chất nhân văn. Không có gì là mới mẻ gay cấn cuốn hút trong những tình tiết của truyện và trong những lời kể của các nhân vật. Nhưng làm lay động tâm hồn người đọc và tôi muốn mượn câu trích dẫn trên đây để kết lại bài viết này.

…………………………………………………

Nguyễn Mỹ Nữ

 

    

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

More...

ĐỒI MA/ 2928/ phát 19-3-2011

By Gã Phu Xe bất tử (Mai Thìn)

 

ĐỒI MA/ 2928/ phát 19-3-2011

Truyện ngắn Nguyễn Đặng Mừng

 

                                                                         

              Gọi là đồi ma nhưng thật ra đó chỉ trảng cát trắng nằm giữa hai làng. Mùa hè cát ngời lên màu trắng rờn rợn. Gió Lào thổi làm cát bay mù mù đôi khi người ta còn gặp những khúc xương người lộ ra. Ngang qua đồi ma những lúc trưa nắng lũ trẻ thường cắm đầu chạy cho đỡ nóng chân và đỡ sợ.

 

              Hồi chín năm một trận đánh độn thổ* giữa dân quân và lính Tây xảy ra trên trảng cát này. Nghe kể hồi đó dân quân chưa có súng mà dám vùi mình dưới cát chờ Tây ngang qua là nhất tề đứng dậy dùng dao mác gậy gộc và cả vật lộn nữa. Thế là trảng cát nhỏ chưa đầy hai mẫu đất này xác Tây xác ta nằm la liệt. Trảng cát còn là nơi xử bắn của Tây và du kích một lần có tiếng súng là ít nhất một mạng người nằm xuống trên cát . Cát dễ đào nên cũng dễ vùi thây. Trảng cát có tên đồi ma từ dạo đó.

 

           Ngoài những chuyện về ma trơi ma cụt đầu còn có căn chòi tranh của lão Nghi nữa. Nghe nói suốt đời lão ăn của cúng nên đêm về lão thường sống và nói chuyện với ma quỷ. Căn chòi lão Nghi từ dưới làng trông lên như cái núm vú thô kệch mà bầu vú là trảng cát khum khum.

 

            Không biết lão Nghi bao nhiêu tuổi. Nói ba mươi cũng được năm mươi cũng xong. Gia đình lão đến xin ngụ cư ở làng bố mẹ cu Nghê (tên thường gọi hồi nhỏ của lão Nghi) xin làng cho dựng căn chòi trên trảng cát để làm nghề thợ rèn. Hồi nhỏ khi ông bà còn sống nhiệm vụ của cu Nghê là thổi bệ rèn. Với dị tật từ nhỏ cu Nghê chỉ thích nghi với việc thụt bệ. Ngồi giữa hai ống bệ to tướng cu Nghê nghiêng qua nghiêng lại với hai cán thụt trong tay thành thạo nhịp nhàng. Đến năm Ất Dậu cả làng đói. Những người chết đầu tiên là gia đình ông bà thợ rèn vì không có lương thực trữ. Những vị lớn tuổi trong làng kể lại rằng khi đem chôn thiếu một chiếc chiếu người ta chạy khắp làng để xin thêm làm áo quan cho cu Nghê xấu số lúc tìm được chiếc chiếu thì chỉ còn xác hai ông bà thợ rèn. Vùi thây hai ông bà xong cu Nghê từ trong bụi bò ra mếu máo run run nói: tui chưa chết đừng chôn mà tội. Từ đó cu Nghê đi ăn xin. Mấy trăm năm từ ngày theo chúa Nguyễn Hoàng vào lập làng C. này lần đầu có kẻ sống bằng nghề ăn xin các bô lão trong làng nói thế. Truyền thống của làng là thà chết đói chứ không ai đi ăn xin.

 

            Làm người ai cũng có năng khiếu bẩm sinh lão Nghi cũng thế. Lão nhớ rành rọt chính xác những ngày giỗ chạp mà không cần ghi chép. Mà lão có biết chữ nào đâu. Vậy là một ngày trong ba trăm sáu mươi lăm ngày   hôm nào lão cũng có xôi thịt để ăn. Vùng đất mà người chết gấp mấy chục lần người sống này lão tha hồ ăn xôi thịt. Hôm nào xin được nhiều lão phơi xôi trên những chiếc nia lớn để dành thịt ướp muối cả hủ lớn.

 

    Mặt lão Nghi gầy má hóp để lộ hai lưỡng quyền cao. Miệng nhỏ và luôn nhúc nhích run run. Nước miếng thường nhiễu ra lúc lão nói “ ự …ự..cho tui xin nắm xôi.”. Lão thường chỉ nói thế. Sau khi chủ nhà cho nắm xôi một ít thịt luộc vào chiếc tô nhôm lão cầm run rẩy trên tay cúi chào cám ơn rồi lui ra. Lão không bao giờ chê ít nhiều (thường thì người ta cho nhiều). Lão lại đi chới với chúi chúi về phía trước. Lão không nhìn ai chỉ nhìn xuống đất khi đi. Lão Nghi lại trở về đồi ma nơi chòi tranh của lão.

 

   Căn chòi tranh của lão Nghi đầm ấm ra khi có thêm bệnh xá của xã. Sau khi dân các làng không nơi nào chịu cho xây bệnh xá vì sợ truyền nhiểm và dị đoan chính quyền phải chọn đồi ma. Bệnh xá khang trang mà không có y tá y sĩ gì. Trong xã chẳng mấy ai học hành bao nhiêu . May mà có chị Thuyền.

 

          Chị Thuyền là con gái duy nhất cuả ông cả Lễ giàu có và chức sắc nhất làng. Chị đậu trung học rồi ở nhà nội trợ may vá. Học vấn của chị Thuyền thuộc loại nhất làng. Chị không đẹp mặt lắm nhưng đẹp nết. Đã gần ba mươi mà trông chị vẫn tươi mát hơn hớn.Trai làng không ai dám dạm hỏi . Phần vì nghèo vẫn sợ cái giàu có của ông Cả Lễ. Phần ít học lại sợ cái có học của chị Thuyền. Thế là chị phải quá thì một cách tức tưởi. Chị thường đi lang thang một mình dọc dường bạn* vào những đêm trăng sáng. Trai làng cứ việc nhìn theo mà thèm khát mà bất lực…

 

           Sau một thời gian học khoá y tế huơng thôn chị về nhận nhiệm sở với sự giúp đỡ của mụ Mận y công (hộ lý). Công việc hàng ngày là vào sổ cấp thuốc những bệnh thông thường. Hồi đầu chị Thuyền buồn lắm. Nhất là lúc có người sinh đẻ chị phải ở lại trực đêm. Đồi ma về đêm gió hú cát bay từng vạt mù mù ghê rợn lại thêm hình ảnh run rẫy liêu xiêu của lão Nghi nữa. Lão thường vừa phơi xôi vừa nhìn về phía bệnh xá như đang dò xét canh chừng điều gì ấy làm chị sờ sợ. Nhiều lần chị  khóc lặng lẽ xót cho phận mình.

 

         Rồi chị Thuyền cũng quen dần. Mỗi chiều rảnh việc chị  ngồi đọc tiểu thuyết thường là loại rẻ tiền thời đó. Những trang viết về mảng sống thị thành không dính dấp gì đến hoàn cảnh chị mà sao đôi lần cũng làm chị buâng khuâng cảm động. Nhất là những đoạn người ta yêu nhau say đắm hoặc …cả làm chuyện ấy nữa. Đã ba mươi tuổỉ mà chị Thuyền vẫn tưởng tượng điều ấy như là chuyện bí ẩn xa vời lắm.

 

       Tiếng “ự ự “sau lưng làm chị giật mình quay lại. Lão Nghi bưng tô xôi thịt run run khó nhọc nói:

           -Ự ự tôi đem xôi thịt mời cô.Cô ở đây lâu rồi mà không có dịp ra thăm cô.

Lần đầu tiên chị thấy lão Nghi không đáng sợ như chị tưởng.

Đôi mắt của lão toát lên vẻ gì đó như là thân mật chân tình.

       Chị cười:

            -Cám ơn bác bác đi mấy nơi mà nhiều thế?

       Lão không trả lời nhìn xuống cuốn tiểu thuyết:

             -Ự ự chị đọc gì thế đọc cho tui nghe với.

       Lão Nghi nói xong cười như mếu.

 

       Vậy thôi mà chị cũng đọc cho lão nghe. Lúc cô đơn người ta cần có bạn dù đó là lão Nghi đi nữa. Chị còn sốt sắng kể lại cả cốt truyện từ đầu. Đôi mắt lão cũng buồn cũng xa vắng. Chị rùng mình nhìn xuống tô xôi thịt.

 

            Mấy tháng mùa hè có lão Nghi chị cảm thấy đỡ oi bức hơn. Có khi mụ Mận bị bệnh chị lại nhờ lão phụ vài việc lặt vặt trong bệnh xá. Những đêm phải trực chị cảm thấy không đáng sợ nữa. Có lần chị đọc một đoạn tiểu thuyết cảm động lão Nghi ôm mặt khóc như trẻ thơ. Chị lại khuyên bảo an ủi lão rằng phận người ai cũng có nỗi khổ người kiểu này người cách kia. Chị không đủ ngôn từ để giải thích hết những điều chị nghĩ. Chị lại quay sang trêu lão:

         - Sao bác Nghi không lấy vợ cho rồi sau này già cả ai nuôi. Hay là tui nói với mụ Mận ra ở với bác nghe.

  Lão Nghi cười cười. Trong mắt lão có cái gì như là mơ ước.

 

         Tháng bảy năm đó mùa mưa đến chậm. Ngồi trong phòng với cây đèn Huê Kỳ chị Thuyền đọc tiểu thuyết. Hình như ngoài việc nói chuyện với lão Nghi chị chỉ thả hồn theo những trang sách mùi mẫn. Sau buổi chiều vất vả với ca đẻ khó giờ này chị thấy thanh thản trong lòng. Trăng hạ tuần lên cao càng sáng hơn. Dưới ánh trăng và gió nhẹ bãi cát trắng như tấm lụa phơi mình  gợn nhẹ đẹp vẻ đẹp man rợ. Bầy chó trong làng rủ nhau ra bãi cát tự tình. Chúng đùa giỡn cắn nhau gầm gừ tru tréo. Cặp chó con đen con vàng đến gần cửa sổ phòng chị chúng ve vãn bằng những tiếng rên “ự ự”…Một ngọn gió mạnh thổi tắt cây đèn. Chị đứng lên đi lại phía cửa sổ. dưới trăng chị quan sát thật kỷ hành động cặp chó. Chị lẩm bẩm “ Đồ quỷ. Râp rình như chó tháng bảy”. Chị trở lại nằm ngữa ra giường hai chân buông thỏng xuống nền thở dài.

 

     Gió mạnh chuẩn bị cơn mưa lớn. Những đụn mây kéo ngang nghịt trời. Chị đóng chặt hết cửa mà gió vẫn lọt vào thổi tắt hết đèn. Chị nhớ hộp diêm chẳng còn que nào. Chị nảy ra ý định sang nhà  lão Nghi xin lửa. Mưa bắt đầu rơi lộp bộp chạy qua mái tôn rồi lại im rồi lộp bộp từng tràng. Tiếng trẻ sơ sinh ọ ẹ. Tiếng sản phụ dổ con ư ử. Chị mở cửa vụt chạy băng băng qua trảng cát. Miếng nhựa che trên lưng đập giật lạt xạt. Chị đứng lại trước căn chòi lão Nghi gọi khẽ:

 

           - Bác Nghi ơi xin tí lửa.

          Lão Nghi cựa mình nói vọng ra:

            - Ự… ự  cô vào đây đã ướt hết.

 

      Chị Thuyền bước vào bóng tối làm chị rùng mình. Hình như có bàn tay vuốt lên tóc chị.

 

            -Ự ự…tóc cô ướt hết rồi. Tội nghiệp ự ự …ngồi xuống đây cho ấm đã.

 

        Chị vẫn đứng và thương thân mình đến xót xa. Mùi đàn ông lẫn trong mùi ẩm ướt của căn chòi làm chị rởn gai ốc. Bàn tay run rẩy của lão Nghi ấn vai chị xuống giường tre chuyển mình ọt ẹt. Chị ngoan ngoãn với chính mình ngồi xuống. Chị nghe mơ hồ tiếng thở dài thượt của lão Nghi. Hình như lão sờ soạng đâu đó tìm hộp diêm. Lão liêu xiêu lần về phía chạn tre đựng thức ăn mò mẫm.: “Đây rồi có rồi”. Lão nói ậm ự. Lão lại đi về phía chị. Chị hồi hộp ngồi chờ hai tay chị đưa về phía trứơc trong tư thế vừa đầu hàng vừa chống đỡ.

 

         Bỗng ánh chớp rạch một đường hắt ánh sáng vào căn chòi. Trong thoáng chốc chị thấy lão Nghi lảo đảo mất thăng bằng lão té chồm lên người chị cùng lúc với tiếng sét nổ chát chúa ngoài trời. Chiếc giường đánh rắc đổ nghiêng về phía hai người. Cứ thế họ nằm chồng lên nhau. Lão Nghi lại ự ự câu gì đó không rỏ chị thở gấp gáp hổn hển. Hai tay chị bấu chặt vai lão Nghi nửa như xô ra nửa như níu vào. Lão cứ ự ự tiếng rên muôn thuở. Nhưng với chị chỉ với chị lần này tiếng rên lại khác hoàn thiện hơn vượt qua tiếng rên dị tật của lão.

 

           Chị nghe cơ hồ tiếng mưa tiếng sét ngoài trời gầm rú ghê lắm. Bụi mưa ẩm ướt trên nền cát thấm vào lưng chị lành lạnh. Những đợt sóng âm thanh vỡ oà rồi chạy xa nhỏ dần. Lại bùng lên ầm ào rồi chạy xa nhỏ lại trả không gian về với lặng thinh tịch mịch đến xé lòng. Nước mắt lạnh trên má chị. Chỉ là tiếng sét ấy thôi! Có gì mà phải tủi! Nhắm mắt lại trong tối tăm chị tưởng tượng những con đom đóm nhập nhòe như nhang đèn trên bà thờ tổ. Những mồ mã cha ông từ thời ông nhất thế tổ những ngôi mộ tròn đường kính cả vài chục mét cứ hiện về hiện về.... Chị nằm sấp. Tái tê. Buồn. Khát nước.

 

              Chị đang nằm sấp trên nền cát sờ soạng. Vật gì vuông vuông như là cái hộp diêm chị cầm lên rồi chạy vụt ra ngoài mưa. Chị chạy về bệnh xá. Tiếng khóc trẻ thơ xé tan không gian tịch mịch. Ngọn lửa bùng lên khuôn mặt hài nhi đỏ hỏn nhăn nhó khóc.. Chị cũng khóc ròng : Ôi em bé! Ôi trẻ thơ! Ôi hạnh phúc!

            Mưa gió rả rích …

           Lơ mơ chị như ngủ…

 

   Bỗng ánh chớp rạch một đường. Sáng đến loá mắt tiếp theo  là tiếng nổ inh tai .Có mùi khét. Bất giác chị nghĩ đến căn chòi lão Nghi…

 

   Rạng sáng hôm sau cơn mưa ngớt. Còn vài đám mây đục màu khói bay nhanh và thấp. Chị bước ra khỏi bệnh xá nhìn về căn chòi. Chị co rúm ôm ngực. Căn chòi đổ sụp một phía. Hình như hai chân của lão Nghi  thòi lòi ra dưới cát trong tư thế nằm sấp nám đen khẳng khiu như hai khúc củi cháy nham nhở.

 

***

            Năm 1975 chị Thuyền trở về làng sau hơn mười năm lên tỉnh. Đứa con trai của chị đã mười tuổi. Chiến tranh đã góp phần san bằng “giai cấp” ở quê nhà. Căn nhà ngói năm gian của ông Cả Lễ chỉ còn đống gạch. Ông bà Cả đã qua đời. Khu vườn nhà được chia thành bốn thổ cư chị Thuyền cũng nhận được một phần non sào đất. Chị ngỡ ngàng với công việc và nhịp sống mới lạ. Nhưng lạ hơn cả là việc lão Nghi được phong tặng danh hiệu liệt sĩ đại diện cho “giai cấp công nhân” đầu tiên của cả vùng làm cách mạng. Rất nhiều giai thoại được thêu dệt quanh con người bí hiểm này. Bấy giờ chị mới hiểu là những lọ thuốc sốt rét lão Nghi xin chị đã gửi cho ai những bao xôi khô thịt muối lão dự trữ cho ai.

 

           Chiến tranh và đất trời đã xuý xoá giùm chị Thuyền tất cả. Dân làng cũng đoán non đoán già về cha của thằng cu Hờn (con chị). Chị đặt tên thằng cu Hờn là Lê văn Hoài theo họ mẹ.  Chị dửng dưng trước mọi dư luận. Nhưng trong sâu thẳm lòng chị có điều gì đó áy náy bất an. Nửa đêm lần mò lên lại đồi ma chị thắp nén nhang lớn lạy tứ phía dừng lại trên chỗ mà chị hình dung đó là căn chòi lão Nghi. Chị cắm nhang từ đó về lại đống gạch hoang phế của bệnh xá. Đêm đó trăng sáng lắm. Lặng lẽ trở về căn nhà tranh của chị căn nhà cũng lạnh lẽo không kém Đồi Ma. Chị thắp nhang lên bàn thờ và khấn : “Lạy cha lạy mạ xin tha lỗi cho con ”. Chị cũng thắp nhang ở am thờ ngoài trời và khấn ”Người ơi con đã lớn rồi. Tôi nguyện nuôi nấng dạy dỗ con nên người. Người sống khôn thác thiêng phù hộ cho con”.

 

              Chị ngủ thiếp đi bên cạnh đứa con trai thân yêu của mình. Hai tay ôm chặt con vào lòng trong chiêm bao đứt đoạn chị thấy lão Nghi trở về đòi con . Hai tay lão quờ quạng nói run run “ Ự .. ự trả con lại cho tui.Tui cả đời chỉ ước có được đứa con nối dõi tông đường chị nở nào đành đoạn dứt tình máu mủ. Chị ơi là chị…” .chị giật mình trở dậy mồ hôi ướt dầm lưng áo. Chị lại lò mò ra am thắp nhang khấn vái. Trở về nằm bên con thiu thiu ngủ thì đến lượt mơ thấy ông Cả râu tóc bạc phơ nghiêm giọng nói “Cha không có con trai thì coi như thằng cu Hờn là cháu nội . Cha đã chịu bao nhiêu miệng tiếng của dân làng để bảo vệ con và cháu nở nào con lại nghe theo lời cái thằng ăn xin cùng đinh ba đời đó”. Chị hét lên ôm chặt con vào lòng khóc không thành tiếng.

 

   Từ đêm đó dân làng lại đồn ở đồi ma xuất hiện một con yêu tinh nó xõa tóc đi quanh đồi khóc than suốt đêm. Điều này chỉ mình chị Thuyền biết mà thôi../.

 

NĐM

*Đánh độn thổ : ẩn núp ở dưới hầm đã được ngụy trang phía trên như địa hình tự nhiên khi đối phương lọt vào đội hình thì tất cả đội hầm đứng lên chiến đấu. Cách đánh này rất bất ngờ và táo bạo thường dùng trong chiến tranh du kích những năm chống Pháp.

* Dường bạn: Lối đi trên cánh đồng đường đất nhỏ nhằm  cắt chia những thửa ruộng.                                                                            

 

 

                                                                          

                                                                           

 

LỜI BÌNH TRUYỆN NGẮN ĐỒI MA CỦA NGUYỄN ĐẶNG MỪNG/ 19/3/11         

 

Lê Hoài Lương

 

Truyện có cấu tứ đơn giản mà độc đáo quanh hai nhân vật: một lão Nghi tật nguyền sống kiếp ăn mày từ nhỏ khi mồ côi đến chết một chị Thuyền đẹp nết là con một nhà giàu và có học nhất làng nên bao người mơ ước bao người khát khao mà vẫn không ai dám đến quá thì. Trên đồi ma nơi nhiều người chết vì chiến tranh vì giặc giã có lão Nghi ở chen cùng với cái chòi và sau này thêm bệnh xá làng nơi chị Thuyền làm việc. Chị Thuyền lỡ thì và lão Nghi hàng xóm. Rồi một đêm giông gió họ ngã vào nhau như cái lẽ tự nhiên như tình cờ như chờ đợi. Và giông gió can thiệp mơ hồ một nỗi tái tê lại cụ thể một đứa con trong bụng chị sau này. Và giông sét kết thúc cũng trong đêm ấy cái chòi cháy xém cả lão Nghi. Truyện kết bất ngờ sau này khi hòa bình người ta tôn vinh lão Nghi liệt sĩ với nghề ăn xin tiếp tế cho cách mạng bao nhiêu thuốc men xôi thịt và bao câu chuyện thêu dệt quanh cái đồi ma quanh đứa con chị Thuyền. Đồi ma còn tiếp tục lời đồn về người phụ nữ xõa tóc khóc than như một nối tiếp.

 

          Chuyện thực trăm phần trăm nhưng cũng ảo với các số phận các hoàn cảnh tình huống. Người và ma tật nguyền hình hài và cao đẹp một tâm hồn một sứ mệnh; ăn mày và nhiệm vụ tận cùng thống khổ và tròn đầy mãn nguyện… Mỏng mảnh lắm và cũng bền vững lạ lùng sự sống với những nẻo khuất những vết nhòe mờ nhân tính. Trên nền của đồi ma đã có sức sống kỳ lạ có phần quái dị những chớp lòe khi khốc liệt lúc lặng trầm oan khiên của kiếp người.

 

          Chuyện dễ đọc dễ kể nhưng sức lan tỏa khá lớn ở các tình huống vừa khốc liệt vừa nhòe mờ nhiều khơi gợi nhất là sự tiết chế chắt lọc cần thiết và tinh tế trong quan sát mô tả. Chẳng hạn cái ánh nhìn của lão Nghi khi thì “như dò xét canh chừng” lúc lại “có cái gì như mơ ước”; còn những tâm trạng những khao khát của chị Thuyền lại chìm khuất lại hiển lộ độc đáo cùng giông gió mưa sét cùng tiếng rên ự ự vừa tật nguyền vừa hoàn hảo của lão Nghi v.v …

 

          Một tác phẩm thành công nhiều khía cạnh của tác giả Nguyễn Đặng Mừng!./.

 

NGUYỄN ĐỨC THIỆN BÌNH truyện ngắn ĐỒI MA / 19/3/2011

          Bối cảnh truyện ngắn ĐỒI MA của Nguyễn Đặng Mừng là một cồn cát mà ở đó được mô tả như là nơi tụ họp của nhưng linh hồn chết. họ chết trong chiến tranh và chết do đói. Tại đó còn tồn tại một con người sống vì chưa kịp chết trong nạn đó. Nhưng ông ta cũng thân tàn ma dại mà sống. Không công ăn việc làm. Sống nhờ vào việc xin ăn trong đó có cả việc xin ăn từ những người đến đây cúng những linh hồn chết. Nhưng chính nhờ xin ăn của những linh hồn chết mà ông có xôi thịt những món ăn hạng sang đối với con người như ông.

          ĐỒI MA chỉ ấm lên khi ở đó có một trạm xá và ở trạm xá đó có một người đàn bà không còn xuân sắc nhưng cũng không thể coi là già. Người đàn bà ở tuổi đó thì biết chọn ai làm chỗ dựa cuộc đời. cô có vẻ như yên bình sống không lo gì đến chuyện cơm áo gạo tiền. Nhưng có một cái thật giống với người đàn ông ăn xin kia: cô đơn và lạnh lẽo giữa nơi hoang vắng ma nhiều hơn người này.

Trong khung cảnh ấy cái gì đến tất yếu phải đến thôi. Một đêm mưa giông sấm sét tối trời. Người đàn bà thiếu lửa đến tìm xin lửa của ngừơi đàn ông. Trong cái lạnh lẽo kia bỗng cháy bùng ngọn lửa mà cả hai dấu kín. Người đàn ông dấu vì thân phận thấp hèn người đàn bà dấu kín vì không thể có nơi thổ lộ. Một sinh linh bé nhỏ ra đời ngày trong cái đêm giông bão kia. Nhưng hỡi ôi thật khắc nghiệt đến kinh hòang. Có giông có gió có mưa và có sét nổ ngang trời thiêu rụi con người mới làm xong việc gieo sự sống. Như định mệnh: Nơi này đất sống của ma làm sao lại sinh ra con người. Mà con người thì thật đáng yêu khi nó còn bé nhỏ. Vậy thì ngươi con người sống nhờ miếng ăn cúng ma thì không đáng sống nữa khi người dám làm cái việc truyền giống của con người. Sét nổ hàn là trời đánh đấy?

ĐỒI MA của Nguyễn Đặng Mừng có dáng dấp một câu chuyện cổ tích một chút hoang đường và một chút đau cho số phận con người. Không khí của chuyện là một không khí của liêu trai. Và cuộc tình của hai người cũng giống liêu trai. Chỉ khác đây là những con người được xây dựng giống như đang sống thực. Họ tìm đến nhau vừa như ngẫu nhiên nhưng lại là một sự tất yếu. Có thời gian nào không gian nào thích hợp hơn để hai người làm được cái việc người nhất. Đó cũng là sự cảm thông của trời đất cho hai con người cô đơn và bất hạnh. Lão ăn xin bây giờ có chết cũng an lòng. Và ta cũng cầu mong cho người đàn bà làm được lời cầu nguyện: “Người ơi con đã lớn rồi. Tôi nguyện nuôi nấng dạy dỗ con nên người. Người sống khôn thác thiêng phù hộ cho con”. 

NĐT

 

 

 

More...

NHỮNG CON THIÊU THÂN/ 2609/ đọc 12/3/2011

By Gã Phu Xe bất tử (Mai Thìn)

NHỮNG CON THIÊU THÂN/ 2609/ đọc 12/3/2011  

Truyện ngắn của LÊ KHÁNH MAI    


 
 

Có một góc thế giới đàn ông – quán rượu trong hẻm nhỏ của một thị xã tỉnh lẻ đang giãy giụa trong sự trì trệ. Nơi đây tụ  tập đủ mọi hạng người: thầy giáo chán nghề nhà  thơ bất đắc chí mấy anh thợ điện máy chụp hình lười nhác ham vui vài tay xích lô ba gát buồn cảnh nhà nghèo con đông. Thỉnh thoảng có đôi ba vị công an khu vực. Những bộ mặt quen thuộc đến nhàm chán xỉn màu thời gian mốc meo héo úa dưới ánh đèn đỏ đòng đọc. đêm đêm khi cuộc rượu tàn họ chia tay nhau ngật ngưỡng dùng dằng ồn ĩ cãi cọ đấm đá nâng lên vật xuống như một lũ điên. Có người ngã dụi xuống đường có kẻ lê được bước chân líu ríu liêu xiêu về nhà để rồi sáng hôm sau tất cả lại tụ tập ở quán rượu với vẻ mặt hớn hở những cái bắt tay ôm hôn thắm thiết tựa khách đa tình gặp lại người đồng điệu sau nửa thế kỷ cách xa. Họ lại ngồi vào bàn nâng ly chúc tụng bốc thơm nhau. Mọi lời nói câu chuyện lặp đi lặp lại như ngày hôm trước tháng trước năm trước. 

Quán không có tên cũng không mở toang cửa ra đón khách. Hai cánh cổng gỗ xộc xệch khép hờ người quen cứ  tự tiện đẩy cửa bước vào. Quán mở ngay trong nhà không phải đóng thuế. Chủ quán có  đủ lý do để biện minh rằng ở đây không có  chuyện kinh doanh chỉ là những cuộc họp mặt bạn bè vui vẻ thân tình. Đó là người đàn bà gốc Huế múp rụp tuổI hồi xuân nụ cười luôn ở đầu môi và tiếng “dạ” ngọt lịm kéo dài luyến láy nồng nàn mời gọi như men rượu. 

Không trang trí sửa sang gì cả quán tuềnh toàng đến nhếch nhác. Bàn ghế cọc cạch cái cao cái thấp cái bằng gỗ cái bằng mây cũ mèm rệu rã chen trong đám giường tủ ngổn ngang. Món nhậu thường là gỏi đu đủ bắp chuối đậu phộng rang da ca dễ chế biến rẻ tiền. Khách “sộp” cần những món “xịn” như gà quay bê thui dồi trường mực hấp thịt cầy… bà chủ có thể lấy ở các quán bia đầu hẻm phục vụ tận tình. Chỉ cần có mươi ngàn đồng trong túi một gã đàn ông vô công rồi nghề có quyền ngồi nhậu thâu đêm suốt sáng nói năng bạt mạng chửi cả ngọc hoàng thượng đế. 

Nổi bật trong đám nhậu nhẹt là gã nhà thơ. Tên cúng cơm của gã là Quờn bút danh Thi Thi bạn rượu quen gọi gã là nhà thơ. Gã có nhiều thơ đăng báo và hình như đã xuất bản một tập thơ nhưng nó lọt thỏm vào cái vô tận của rừng thơ thời mở cửa. Trước kia gã từng là nhân viên Nhà nước sau vài lần đụng độ với trưởng phòng vì những chuyện rất vớ vẩn gã bỏ việc về làm thơ uống rượu cà kê bù khú với bạn bè.

Quờn thường tự nhận mình là nghệ sĩ thứ thiệt tài cao nhưng phận thấp. Ở cái xứ tỉnh lẻ  có quá nhiều nhà thơ “dỏm” này gã thấy chẳng có ai đáng mặt bàn chuyện thơ với gã.

Ngày nào Quờn cũng đến quán rượu đọc thơ ngả nghiêng khóc thương cả nhân loại lầm than. Những câu thơ gã  đọc đi đọc lại đến trơ mòn: “Hỡi nhân dân đau khổ của ta ơi…”. Gã nhả từng chữ và gằn lên dữ dội như con thú trước miếng mồi chưa vồ được. Đọc xong gã bốc một miếng dồi chó cuộn vào chiếc lá mơ đưa lên miệng nhai ngóp nghép nốc rượu đánh “ực”. Hai khoé mắt gã ứa ra một thứ nước nhừa nhựa lem nhem đôi mắt đờ đẫn đã bắt đầu bạc màu của cái tuổi ngoài năm mươi. Gã ngả người trên chiếc ghế mây thở phì phì mãn nguyện như vừa hoàn thành một sứ mệnh cao cả. Lập tức năm sáu ly rượu được nâng lên cụng vào nhau lắc cắc sóng sánh tràn trong tiếng râm ran cổ vũ: “Trăm phần trăm” trong lời nức nở chúc tụng vần thơ thiên tài. 

Quờn nốc cạn giộng cái ly không xuống bàn đánh “cốp”  và triết lý: “Đời là cái đếch gì! Tất cả sẽ lụi tàn như cây non trong màu  đại hạn sẽ tan biến như đám mây mỏng mảnh trước cơn gió mạnh. Chỉ có thơ là  gắn liền với sự bất tử. Thơ là quyền lực tốI thượng nhiệm màu hơn cả Đức Giê-su Thích Ca Mâu Ni. Ta có thể ăn thơ uống thơ mà sống như một thiên thần ha… ha… ha…. Loài ngườ đáng thương thay. Họ lao vào cuộc bon chen không mệt mỏi v ì địa vị v à quyền lực. Họ làm nô lệ cho những ham muốn vô độ. Họ theo đuổi đồng tiền một cách mù quáng. Họ như những con thiêu thân bị cuốn hút vào chiếc đèn cù khổng lồ ha… ha… ha…  

Ly rượu của Quờn lại đầy lên tự lúc nào gã nốc cạn rồi giộng ly xuống bàn đánh “cộp”. 

Gã nhà  thơ thương cả nhân loại mênh mông nhưng không đủ sức thương cái gia đình bé nhỏ của gã. Cái nghịch lí này chính gã cũng dường như không tự biết. Gia đình gã sống trong một căn hộ tồi tàn ở cuối một con hẻm cụt nghèo đến mức không thể nghèo hơn. Vợ gã héo như một cái cây mới trồng chưa kịp bén rễ đã gặp cơn nắng lửa. người đàn bà ấy tần tảo và lam lũ một cách nhẫn nhục với ý thức sâu sắc về thân phận làm vợ một thi sĩ gàn. Chị tin đó là định mệnh nên đành giơ đôi vai gầy guộc ra mà nhân lấy cái gánh trần gian. 

Bảy mạng người hai vợ chồng năm đứa con sống bằng gánh bún riêu của chị. Ngày nào cũng vậy từ ba giờ sáng lúc nhà thơ còn ngoẹo cổ trên chiếu ngủ mùi chị đã lọ mọ trở dậy nhóm lò nấu riêu cua để sáng sớm gánh ra đầu hẻm bán cho trẻ con và những người lao động nghèo. Công việc đơn điệu ấy lặp đi lặp lại suốt hai mươi năm qua không gì thay đổi kể từ ngày chị và Quờn thành vợ chồng. Chỉ con cái là đông thêm. Ba lần sảy bảy lần sinh giờ còn lại năm đứa con đứa lớn nhất 18 tuổI đứa nhỏ nhất mới lên 10. Bốn đứa đầu đã lần lượt bỏ học bươn chải kiếm sống. Thằng cả ngồi ở vỉa hè ngã tư với cái bơm xe và vài ba cái cờ-lê mỏ-lết. Thằng hai nhận  xếp và mở dù hàng ngày cho các bà bán cá ở chợ. Thằng ba bán vé số dạo. Con thứ tư phụ mẹ bán bún riêu. Còn mỗi con Út là được đến trường.           

Một hôm con Út phụng phịu: “Mẹ ơi con không đi học nữa  đâu”. Mẹ nó hỏi: “Sao vậy?” Nó bảo : “Cô giáo la con lần nào cũng nộp học phí chậm làm ảnh hưởng đến phong trào thi đua cả lớp nhục lắm. Mấy đứa bạn con nó nói nhà mình “mạt rệp” có vài chục ngàn cũng không đóng nổi”.          

Từ  đó con Út ở nhà lãnh việc nấu cơm quét dọn. Vợ Quờn buồn lắm. Chị ân hận vì  đã sinh ra những đứa con mà không lo được cho chúng ăn học như con người ta để chúng sớm phải lăn lóc với đời vì cơm áo.          

Chị  xót xa nhớ lại trường hợp ra đời của bọn trẻ… Đêm đêm chồng chị - gã nhà thơ thường trở về rất khuya trong mùi rượu sặc sụa. Nhưng gã không say. Rượu khiến gã càng thêm tỉnh táo và hăng hái. Sau một hồi lải nhải những câu vô nghĩa gã đột nhiên chồm tới ghì riết lấy vợ hôn túi bụi. Gã vật người đàn bà khốn khổ xuống chiếc chiếu trải trên nền xi măng ẩm ướt ở xó nhà làm tình bằng râu bằng cùi chỏm đầu gối và bằng cả cơ bắp cuồn cuộn nóng ran. Chị ngột ngạt vì bị vây bủa bởi hơi thở chua loét men rượu mùi tỏi nôn nao lợm mửa và mùi mồ hôi dầu nồng nặc. Một cảm giác ghê tởm ứ nghẹt trong lồng ngực chị nhưng chị không đủ sức vùng thoát khỏi đôi tay như hai gọng kềm đang siết mạnh vào da thịt như muốn rứt chị ra thành trăm mảnh.          

Năm  đứa trẻ ra đời ngoài dự tính. Trong khi chị ý thức đầy đủ về nỗi bất hạnh thì anh chồng vô tâm ngày ngày cà kê bù khú. Một lần chị nói với chồng: “Mình đông con quá em lo không xuể. Gánh bún riêu chỉ đủ chạy gạo còn nào mắm nào củi nào quần áo thuốc men… Anh xem có việc gì làm đỡ em một tay”. Gã nhà thơ liền xửng cồ: “Sống là không bao giờ than thở. Đừng tính toán tẹp nhẹp với tôi”. Gã vùng vằng bỏ đi mặc người vợ một mình bơi trong cái nợ áo cơm.          

Hôm  ấy gã đến quán rượu với bộ mặt đầy tâm sự. Bạn rượu của Quờn là Hớn giáo viên tiểu học. Hai người kết thân nhau với một lý do dễ hiểu: một người thích khoe thơ còn người kia ưa khen nịnh. Hớn tuy nhỏ tuổi hơn Quờn nhưng lại đông con hơn sáu đưa toàn “thị mẹt”. Sinh con một bề Hớn đau khổ tức tối và mặc cảm về sự thua thiệt. Y có hai bộ mặt:  Một bộ mặt hiền lành tử tế hơi lép vế trước bạn bè và một bộ mặt hung hãn thô bạo với vợ con. Khác với Quờn khi uống rượu Hớn hầu như không nói chỉ gật gù tán thưởng. Y uống rượu như hũ chìm chưa bao giờ say cũng chưa lúc nào gây gổ to tiếng với ai trong quán. Hình như tất cả sự dồn nén y dành để trút lên đầu vợ con. Hàng đêm trở về nhà sau cuộc rượu gã co chân đạp cánh cổng đánh “rầm”. đó là cái tín hiệu quen thuộc mà dù vợ y có đau ốm liệt giường cũng phải cố lết dậy mở cửa cho y. Vừa vào đến nhà y đổ cái cây thịt xuống sàn nhà miệng lầu bầu: “Con mẹ mày dọn cơm cho ông”. Chị vợ díu mắt lại vì dở giấc bảo y: “Cơm để sẵn trên bàn kia kìa”. Y nhổm dậy quát: “Thì xới ra”. Buồn ngủ không cưỡng được chị đành làm theo lời y rồi đóng cửa tính đi nằm tiếp. Y gọi giật giọng: “Mày ngủ hả? Ông có phải thằng goá vợ đâu mà ăn một mình”. Người vợ quay lại: “Thế ông muốn gì?”. Y trợn mắt: “Chờ ông ăn xong khắc biết rõ đồ đàn bà thối thây không biết đẻ lấy một mống con trai”. Người vợ biết y sắp sửa dở cái bài ca muôn thuở là chửi rủa chị không biết đẻ và đòi tòm tem. người đàn bà vàng như chanh ủng ấy dường như không còn chút sinh khí nào nữa. Chị ngồi thừ ra trong nỗi chán nản tuyệt vọng.         

Hớn khua khoắng trong mâm như lão mù khua gậy làm thức ăn rơi vãi tùm lum. Rồi y bỗng kêu: “Nóng quá. Đi tắm”. Y đùng đùng đi ra phía sau nhà ngồi lên thành giếng ngửa cổ ngắm trăng. Vợ y van lạy rối rít. Y lấy tay xua xua rồI lại nghểnh cổ nhìn trăng nhăn nhở cười như đười ươi. Sợ quá vợ y chạy vào nhà dựng sáu đứa con dậy. Một bầy con gái lít nhít từ năm đến mười bẩy tuổi đổ ra bờ giếng đứa nắm tay đứa kéo áo đứa mếu máo gọi “bố ơi” inh ỏi cả một góc xóm. Y quát bọn trẻ: “Im! Tao hóng mát chứ có chết đâu mà khóc như ri”. Con đười ươi cứ ngồi như thế hành hạ vợ con hàng giờ đồng hồ. Cuối cùng y cũng phải vào nhà. Vợ y thở phảo khoá trái cửa.          

Hôm sau Hớn trở dậy mặt tỉnh khô như không hề  có chuyện gì xảy ra. Y soi gương chải tóc áo bỏ trong quần thắt lưng nghiêm chỉnh đến trường trong vai thầy giáo. Trưa về vứt cái cặp vào xó giường y bước khoan thai đến quán rượu. Dọc đường gặp ai y cũng cười nụ cười hiền lành và tử tế.          

Quờn ngồi  đợi Hớn với một xị rượu đế và một  đĩa xoài xanh. Gã vừa làm xong một bài thơ mới  nôn nóng muốn khoe. Thấy Hớn mắt Quờn sáng lên. Gã gọi chủ quán: “Cho xị nữa đi” rồi nói với Hớn: “Hôm nay anh chiêu đãi chú mừng đứa con tinh thần của anh vừa mới ra đời”. Gã rót rượu đưa cho Hớn: Chú uống đi anh sẽ đọc chú nghe bài thơ anh viết về nhân dân”. Quờn vừa cất tiếng đọc thơ cả quán rượu như rung chuyển. Nước mắt gã chảy ròng ròng. Gã đang khóc nhân dân. Hớn lắng nghe ngoan ngoãn gật gù như gà mổ thóc: “Hay quá! Tuyệt quá!”.          

Cứ  như thê ngày này sang tháng khác mùa nó nối năm  kia đôi bạn tri âm “tri tửu” chăm lo cho những đứa con tinh thần quên bẵng rằng mỗi người đều có một người vợ và nửa tá con bằng xương bằng thịt đang thiếu ăn thiếu mặc đói khổ nheo nhóc.          

Một ngày kia Hớn không đến quán rượu nữa. Quờn vẫn nôn nóng chờ. Từ lâu gã đã quen nghe những lời khen ngợi. Vợ gã lam lũ con gã nhọc nhằn gã có thể chịu đựng được nhưng thiếu vắng lời khen gã có thể buồn đau mà chết. Quờn sẽ chẳng bao giờ được nghe lời khen thốt ra từ miệng Hớn nữa. Gã đang nhẩn nha nhai một lát xoài xanh chấm muối ớt thì một quen của Hớn báo tin: Hớn đã nhảy xuống giếng lúc ba giờ sáng.          

Cả  quán rượu xôn xao về cái chết của Hớn. Người bảo  “Hớn vớt trăng” kẻ nói “hắn tự tử”. Và thế là những con sâu rượu được dịp bình luận về lẽ nhân sinh. Dĩ nhiên triết lý của thi sĩ Quờn vẫn cao siêu hơn cả. Đang say sưa triết lý thì thằng con thứ ba của Quờn chạy bổ vào quán rượu hớt hải: “Bố về ngay. Anh Hai con bị đánh sắp chết”. Quờn ngơ ngác: “Ai đánh”. Thằng con mặt xanh như đít nhái nói không ra hơi: “Dân chợ”. Quờn gầm lên: “vì sao?”. Thằng bé lắp bắp: “anh ấy giật… giật dây chuyền”.           

 “Trời  ơi!” Quờn kêu lên lao ra khỏI quán rượu.          

Hôm  đó bà chủ quán rượu bán được nhiều rượu chưa từng thấy. Cho đến bây giờ quán rượu vẫn còn đó. Chiếc đèn cù khổng lồ vẫn ngày đêm thu hút những con thiêu thân.   

LKM 


Nguyễn Mỹ Nữ BÌNH: “ NHỮNG CON THIÊU THÂN”.

 

Là phụ nữ và được đọc truyện ngắn này ngay trong ngày 8/3. Lại là sáng tác không phải của một cái ông nhà văn nào đó. Mà của chị Lê Khánh Mai mới thêm hiểu thêm thương thêm tội cho cái kiếp đàn bà.

 

Truyện: “ Những con thiêu thân” vẽ hộ chúng ta bức tranh sống sít và nham nhở ở một quán rượu nơi cái hẻm nhỏ trong thị xã. Ở đấy đã hình thành một thế giới đàn ông thu nhỏ với: “ …Những bộ mặt quen thuộc đến nhàm chán xỉn màu thời gian mốc meo héo úa dưới ánh đèn đỏ đòng đọc đêm đêm khi cuộc rượu tàn họ chia tay nhau ngật ngưỡng dùng dằng ồn ĩ cãi cọ đấm đá nâng lên vật xuống như một lũ điên…” Chỉ có rượu mới có thể kết nối tất cả những gã đàn ông ấy lại và cũng chỉ rượu mới có thể quần tụ cả bọn mỗi ngày. Và rượu và quán và một kẻ thích khoe thơ cùng với một người ưa khen nịnh đã nảy sinh giữa Quờn nhà thơ với bút danh Thi Thi và Hớn giáo viên tiểu học một tình bạn. Một sự kết thân.

 

Là Quờn có nhiều thơ đăng báo và hình như đã in được một tập. Những câu thơ khóc thương nhân loại lầm than được “ …Gã nhả từng chữ và gằn lên dữ dội như con thú trước miếng mồi chưa vồ được…”Với thơ gã đắm đuối đến thế. Toàn tâm toàn ý đến thế. Nhưng tội nợ gì đâu mà gia đình bé nhỏ của mình bị gã bẵng quên khiến cho mụ vợ và năm đứa con lít nhít phải đói khổ thường trực. Vợ gã xoay trở với gánh bún riêu tất bật từ mờ sớm cho tới tận đêm khuya. Các con gã vất vả tự kiếm ăn bằng những công việc lê la trên phố nơi ngã tư vỉa hè…Chỉ có mỗi cái Út là được đến trường nhưng cũng đành phải bỏ dở vì đào đâu ra tiền đóng học phí cho cô. Gia cảnh bi đát đến thế mà gã vẫn có thể đến quán uống rượu và làm thơ thương hết cả nhân loại. Vẫn đọc thơ bằng những cảm xúc chất ngất đảo điên. Mới rõ tài!  Rất tài!

 

Còn Hớn “…Y có hai bộ mặt: Một bộ mặt hiền lành tử tế hơi lép vế trước bạn bè và một bộ mặt hung hãn thô bạo với vợ con…” Và cái tay Hớn này có cách tra tấn vợ con cũng hết sức là dị kỳ. Khuya khuya sau khi ở quán rượu về và hạch sách vợ con đã đời gã luôn ra giếng ngồi trên bờ thành trong cơn say ngất ngưởng để ngắm trăng. Mặc cho vợ con khóc lóc lạy lục có đến hàng tiếng đồng hồ. Là thế đấy! Những Hớn những Quờn những gã đàn ông ngày ngày gặp nhau nơi cái quán rượu ấy để bốc thơm nhau để chửi rủa nhau và để thương nhau… thống thiết. Trong khi những vợ Quờn vợ Hớn vợ của mấy gã rách việc ấy khốn khổ điêu đứng bởi chạy vạy kiếm miếng ăn cho cả gia đình.

Rồi cũng đến ngày Hớn trả giá cho mình bằng cái chết nhảy giếng. Và Quờn với trận đòn hội đồng dành cho thằng con  của gã  bởi đã giật dây chuyền... Hớn đã hết cơ hội đổi thay cuộc sống mình và cuộc đời của vợ con. Còn Quờn đã chắc gì có thể?  Đã chắc gì đã sáng mắt và nếu cứ tiếp tục rồi sẽ ra sao? “…Cho đến bây giờ quán rượu vẫn còn đó. Chiếc đèn cù khổng lồ vẫn ngày đêm thu hút những con thiêu thân…”. Truyện viết sắc sảo với văn phong thô ráp cố tình. Một kiểu viết rất hợp với không gian truyện những nhân vật của truyện những tình tiết truyện. Và nghe ra ẩn sau những câu chữ nhiều trâng tráo ấy là niềm cảm thương hết sức dung dị dành cho những thân phận đàn bà. Còn đàn ông? Chê trách có riễu cợt có nhưng cay độc thì không. Bởi xét cho cùng họ cũng chỉ là những con thiêu thân. Trong mắt nhìn của một phụ nữ viết văn như là Lê Khánh Mai. Hẳn vậy.

 

……………………………………………………………………..

                          Nguyễn Mỹ Nữ

 

 

 

 

 

 

NGUYỄN ĐỨC THIỆN  BÌNH  truyện ngắn NHỮNG CON THIÊU THÂN

 

Hai nhân vật được lê Khánh Mai khắc họa trong truyện ngắn NHỮNG CON THIÊU THÂN không xa lạ gì trong đời thường.

Người thứ nhất: Quờn thi sĩ lọai người đang dần dần thành phổ biến trong xã hội nhất là một xã hội trên đất nước mà ai cũng có thể làm được vài câu thơ vài bài thơ. Và có những người cứ hoang tưởng cho rằng thơ là thứ có thể cải tạo xã hội có thể thay cả cơm ăn nước uống. Những người như thế tự cho mình là người vĩ đại là siêu nhân là thánh. Họ say sưa với thơ một cách mụ mị và tự cho nhân cách mình cao siêu hơn những con người bình thường đang tồn tại xung quanh. Vì thế họ cho phép mình sống trên tất cả mọi người và muốn mọi người phải tôn vinh mình phải có trách nhiệm với mình. Nhưng cái mà họ thiếu rất lớn đó chính là trách nhiệm. Trách nhiệm với đời và trách nhiệm với mình. Họ không thể có trách nhiện vì ngay với cái gia đình nhỏ bé của mình họ còn quên trách nhiệm thì họ có thể trách nhiệm với ai? Qườn có một cô vợ tảo tần gánh bún riêu nuôi chồng thi sĩ và một bầy con nheo nhóc những đứa con sinh ra trong những cuộc làm tình dung tục trần trụi không thơ mộng chút nào. Một chút kêu ca của chị  thì Gã nhà thơ liền xửng cồ: “Sống là không bao giờ than thở. Đừng tính toán tẹp nhẹp với tôi”.”  Cái tẹp nhẹp ấy là gì thế: là cái nhà là bữa cơm là tiền học cho con… mà bất cứ người bình thương nào cũng phải lo. Thi sĩ không phải lo hay sao?

Nhân vật thứ hai cũng đang ngày càng nhiều hơn trong xã hội bây giờ: vỗ tay khen tặng bất cứ cái gì khi có người đang cần những lời khen tặng ấy. Vỗ tay khen tặng để co những cuộc trà dư tửu hậu giết thời gian mà họ không  biết dùng làm gi. Đó là những người nhàn cư ưa xiểm nịnh. Anh chàng Hớn Lê Khánh Mai viết trong NHỮNG CON THIÊU THÂN thực sự là một kẻ bất tài. Giáo chức tiểu học. Cuộc sống của y chỉ loanh quanh mấy thứ: lên lớp day học máy móc cho xong công nợ với đồng lương. Sau đó là rượu.

Qườn và Hớn giống như những kẻ đồng sàng di mộng. Cả hai cùng thiếu trách nhiệm với gia đình của mình. Cà hai cùng làm những người làm vợ mình khốn khổ vỉ đẻ con mà không có chồng cùng nuôi con. Cả hai cùng trong mơ tửơng hão huyền. Chỉ khác Qườn cần cái danh hão còn Hớn cần rượu để trốn chạy sự hèn kém của chính mình. Cả hai giống như những sinh vật sống gửi sống nhờ mà hy vọng làm nên sự vĩ đại. Họ tồn tại bên nhau giống như căn bệnh xã hội vậy.

Cái đến tất phải đến thôi. Kẻ hèn kém như Hớn đến với cái chết mà ai bảo chết kiểu gì cũng được. Đứa con túng quẫn cướp giật làm liều của Quờn  là cái giá mà Quờn phải trả...

NHỮNG CON THIÊU THÂN của Lê Khách Mai như một cảnh tỉnh. Tất cả hãy trở về với mặt đất để làm tròn thân phận một công dân. ./.

 

NĐT

 

More...