Mai Thìn với hồn cốt quê hương

By Gã Phu Xe bất tử (Mai Thìn)

Mai Thìn với hồn cốt quê hương (Báo Bình Định, Thứ Hai, 14/12/2015, 20:00 (GMT+7)

 

Lâu nay, bạn đọc đã làm quen với Mai Thìn ở các thể loại thơ và nghiên cứu văn hóa dân gian. Mới đây, Mai Thìn đã cho ra mắt tập văn xuôi đầu tiên “Lá rụng buồn tênh” (Nxb Hội Nhà văn, 11.2015), với 30 bài tản văn, bút ký ngồn ngộn vốn sống làng quê.

Vốn liếng của Mai Thìn rất khá - 6 tập thơ và 2 công trình khảo cứu đã in thành sách. Nếu thơ và nghiên cứu văn hóa dân gian (VHDG) của Mai Thìn được biết đến với giọng điệu, tâm tình, phảng phất hình ảnh “làng ven thành”, nồng nàn chất “đồng quê”, thì với “Lá rụng buồn tênh”, cả hai đã cùng bay bổng.

More...

CÓ MỘT “LÀNG VEN THÀNH”

By Gã Phu Xe bất tử (Mai Thìn)

 

CÓ MỘT “LÀNG VEN THÀNH” 

(Đọc sách Làng ven thànhNxb. Khoa học xã hội, 2015 của Mai Thìn)

Trần Xuân Toàn

Cuốn sách Làng ven thành của tác giả Mai Thìn một lần nữa làm thức dậy bao tiềm thức, tình cảm của bất cứ người dân Việt nào về một vùng quê thanh bình muôn thuở của riêng mình.

More...

MAI THÌN NỖI ĐẮM ĐUỐI MÀU XANH

By Gã Phu Xe bất tử (Mai Thìn)

 

(Phải qua: Nhà thơ Vương Trọng, maithin, Huỳnh Thạch Thảo, Nguyễn Hiệp)

MAI THÌN NỖI ĐẮM ĐUỐI MÀU XANH (Theo Báo Văn nghệ số 49, ra ngày 3-12-2011)

Nguyễn Hiệp

 “Hãy dậy đi! Trăng xoã tràn rồi”, tôi cứ hình dung Mai Thìn dùng câu thơ này của mình như một loại mật lệnh, nghe mang máng đâu từ nhân loại xa xưa, đâu từ vỉa tầng lung linh cổ tích: “Mở cửa động vừng!”, đâu từ cái thảng thốt mê lộng có từ thời thi sĩ họ Hàn: “Trăng nằm sóng xoãi trên cành liễu”. Và tôi biết kẻ đắm đuối với ánh trăng xanh huyền hoặc mang tên Mai Thìn kia đã, đang chống đôi bước nạng bằng ánh sáng thơ-trăng trong đến hư ảo, mờ đến như thực tại khác đó mà bước từng bước thật đời, vững chãi, trong cuộc trường chinh đời người. Thơ đối với những con người như vậy đã vượt lên nghiệp, phảng phất thi đạo, một loại thi đạo mà không cao đạo.

More...

ÀNG VEN THÀNH, CÂU CHUYỆN VỀ VĂN HOÁ DÂN GIAN NHƠN THÀNH

By Gã Phu Xe bất tử (Mai Thìn)

  

LÀNG VEN THÀNH, CÂU CHUYỆN VỀ VĂN HOÁ DÂN GIAN NHƠN THÀNH / Bài đã in Báo Bình Định số ra ngày 8.10.2015/

T.s Lê Nhật Ký (Đại học Qui Nhơn)

 

Tên sách “Làng ven thành” (*) dễ khiến cho người đọc lầm tưởng đó là một tiểu thuyết về đề tài nông thôn. Nhưng không, “Làng ven thành” là một công trình sưu tầm, nghiên cứu về văn hoá dân gian Nhơn Thành (Bình Định) của nhà thơ Mai Thìn.

More...

Sách mới

By Gã Phu Xe bất tử (Mai Thìn)

 

Từ 1. 2016 đến 8.07.2016 maithin đã nhận được các tập sách sau đây. Rất cảm ơn các tác giả, NXB và bạn bè đã gửi tặng. Xin trân trọng giới thiệu và chúc mừng!

 

 

  1. Văn nhân Bình Định một góc nhìn. Tập nghiên cứu lý luận phê bình của Lê Hoài Lương, NXB HNV, 2015;
  2. Bến xuân. Tập thơ của Nguyễn Thị Phụng, NXB HNV, 3. 2016.
  3. Thơ ngắn Nguyễn Hoa, NXB Hội Nhà văn, 9.2015;
  4. 72 bài thơ chọn. Tuyển tập Thanh Quê, NXB HNV, 2012;
  5. "Nơi phòng đợi", thơ Thanh Quế, NXB QĐND 2016. gồm 45 bài thơ viết về quê hương xứ sở, tình gia đình, bạn bè, đồng nghiệp, cùng những chiêm nghiệm về thế thái nhân tình... 
  6. Âm vang sóng biển, thơ Văn Vương (Nhơn Lý), NXB HNV 5.2016
  7. Cứ thế mà lớn lên, thơ Lê Văn Hiếu, NXB HNV 2016;
  8. Bước gió truyền kỳ, trường ca Phan Hoàng, NXB HNV, 2016;
  9. Con đường mặt trời, thơ Đinh Hoàng Anh, NXB Văn học, 2008;
  10. Trinh nữ, tập truyện ngắn Đinh thị Hoàng Anh. Là tác phẩm đề cập tới vấn đề trinh tiết và tình yêu của chín người đàn bà.
  11. Hát đi em, thơ PrékiMalamak, NXB VH-VN, 2015;
  12. Được sống và kể lại- tập truyện dài của Trần Luân Tín
  13. Cô gái bán ô màu đỏ - tập truyện ngắn của Trần Minh Hợp ;
  14. Cỏ đồi phương Đông - tập truyện ngắn của Tiểu Quyên  
  15. Phi công Mỹ ở Việt Nam, của Đặng Vương Hưng, NXB CAND, 2015;
  16. Tuyển thơ Quốc Thành, NXB HNV, 2016

More...

QUẢ THỊ QUÊ NHÀ

By Gã Phu Xe bất tử (Mai Thìn)

QUẢ THỊ QUÊ NHÀ

Tản văn của Mai Thìn

 

Chiều nay lên cơ quan, mới mở cửa phòng thì một mùi thơm òa ra, nghe thân thương và dịu mát. Mùi của quê hương tuổi nhỏ có sức quyến lạ thường, làm dịu mát cả không gian đang nắng nóng, dịu cả những căng thẳng, bon chen của một cuộc họp vừa kết thúc.

 

Vứt bỏ mọi thứ, tôi thần người ngắm nghía. Cái màu vàng quen thuộc, mọng tươi đến nõn nà. Cái hương thơm đến lạ, hít hà mãi vẫn không no. Quả thị ai để đó, vừa chất phác, hiền lành, vừa đài cát xinh tươi trong một lớp vỏ tinh tươm mà cũ kỹ của người quê có truyền thống giáo dục và tự trọng. Hương thơm ấy không nói nhiều, mảnh nhẹ và loang loang, nhưng đã gợi cho tôi bao nhiêu là chuyện của quê hương, chuyện của làng của xóm, chuyện của ngày xưa và hôm nay…

 

Là một vùng bán sơn địa, nhiều sỏi đá, nên quê tôi có nhiều thị, mà là những cây thị to, tán rợp một góc làng. Đây thường là nơi tụ tập của đám trẻ con những trưa hè. Tôi còn nhớ cái gốc thị ven đường ở xóm dưới là quán cắt tóc của ông Năm Tân. Nói là quán cho oai, chứ chỉ là một chiếc ghế đẩu nhỏ đặt dưới cây thị sum sê và một hòm đồ nghề đã lên nước đen bóng. Chừng năm ba bữa, quán mới mở một lần, nhưng lần nào cũng đông khách, không đến hớt tóc thì cũng đến để tán chuyện. Rồi gánh đậu hũ, gánh xu xoa của bà Năm Dổng, bà Bảy Đậu chuyên bán, đổi lúa cũng ghé vào. Người hớt tóc cứ hớt, người ăn đậu hũ cứ ăn, nhưng những câu chuyện thì không bao giờ dứt…

 

Nhớ nhất là chuyện “bể dĩa” của đoàn hát bội Phù Cát trong đêm diễn ở quê. Hôm ấy, không biết chuẩn bị thế nào mà đến đoạn Đổng Kim Lân biệt mẹ, diễn viên đóng vai Đổng Kim Lân lại trượt chân ngã lăn trên sân khấu, mặt đập vào thành ghế, máu mũi, máu miệng chảy ròng ròng khiến khán giả một phen hoảng hồn. Cú trượt chân ấy, tìm rõ nguyên nhân là bởi tại cái hột thị đứa nào ăn rồi ném lên sân khấu, để cho Đổng Kim Lân mang hia dẫm phải mà ngã lộn nhào. Nhưng đó cũng chưa là nguyên nhân chính. Nghe bảo hôm sau, ông bầu của đoàn hát còn phát hiện trên trang tổ của đoàn một quả thị mọng vàng, hương thơm ngát. Đây là việc tối kỵ mà các gánh hát bội rất kiêng sợ, bởi tương truyền, tổ hát bội vốn rất mê thị, nhất là mùi hương của nó. Hễ gặp phải hương thị thì cụ mê đến nỗi bỏ bê cả việc hát xướng, làm cho đêm diễn không gãy giáo, đụng gươm thì cũng bươu đầu mẻ trán như trường hợp Đổng Kim Lân trong đêm diễn nói trên. Chính vì thế mà mùi thơm của thị đã thẩm vào văn chương, ca dao, hò vè của vùng đất này:

 

                          Ngó vô vườn thị thơm thanh

                Thị thơm mược thị bụng em thành thời thôi.

          Tuổi nhỏ chúng tôi ắp đầy bao kỷ niệm nơi thôn dã, trong đó có những quả thị vàng tươi. Màu vàng ấy còn là màu của lá chuối già, màu của rơm rạ, quê hương. Những quả thị ủ trong máng rơm chín vàng, dù hương thơm mát lạnh, nhưng vẫn không thoát hết được cái mùi hương rơm rạ cũ. Quả thị trên bàn làm việc của tôi chiều nay quyện lẫn cả hai mùi hương ấy. Vì thế mà ùa về một cảm xúc nhớ quê, nhớ rạ nhớ đồng, nhớ những mùa thị chín…

Mùa thị chín thường cũng là mùa thu hoạch của vụ hè thu. Sắc vàng của thị chín góp thêm cho cái màu vàng gần như chủ đạo của bức tranh quê mùa gặt. Trong góc vườn, lấp loáng những quả thị vàng tươi xen với sắc xanh của lá. Bên dưới là rơm rạ vàng khô, ngoài đồng nhiều thửa ruộng chín tới đang chờ người gặt hái. Trên sân, vàng óng từng đụn lúa vừa tuốt, nằm phơi mình trong nắng. Những chú gà con lon ton nhặt thóc bên mẹ gà vàng mơ… Mùa này, bịch lúa nhà tôi thường ngát hương thị chín. Những quả thị hườm hườm được hái sớm phòng dơi ăn trộm, chỉ một đêm trong bịch lúa là chuyển vàng ươm, toả hương thơm nức mũi. Sáng nào đi học, tôi cũng moi ra vài quả cất trong cặp để mang đến lớp làm quà cho tụi bạn ở thị trấn. Thế là giờ học văn của cô Ái, quả thị đã trở thành đề tài sôi nổi cho cả lớp tham gia…

 

Quả thị chín, cơm vừa thơm vừa ngọt, nhưng lúc còn non thì vỏ xanh, cơm chát, chỉ có hạt thì trắng mềm. Chúng tôi thường đem rửa muối cho bớt chát rồi chia nhau nhai nghe dai dai sừng sực như cùi dừa già vừa khô vừa cứng. Cha tôi vẫn thường nhặt hạt thị rửa sạch, phơi khô, rang cháy, để dành hãm với nước trà mà uống, vì nó có chất bổ dưỡng, kích thích sinh trưởng, chống lão hoá. Hồi ấy trên vách đất đầu hồi, cạnh tấm phản gõ, nơi tôi dùng làm bàn học, thường dán đầy những ngôi sao vàng sậm được xé từ vỏ của quả thị. Vỏ thị dai mềm. Chỉ cần dùng dao khía vào vỏ quả thị chín thành năm cánh, rồi lột ra là có một ngôi sao, dán trên vách đất cho khô, để dành làm vị thuốc trị bệnh giời bò, một bệnh ngoài da rất phổ biến trong đám trẻ con nông thôn thời đó. Chỉ cần gỡ cái “ngôi sao” vỏ thị đã khô đem đốt thành than, hoà với dầu phộng mà bôi lên chỗ giời bò vài lần thì sẽ liền da thắm thịt.

 

Thuở nhỏ ở quê, rất hiếm khi được ăn kem, ăn kẹo như trẻ nhỏ bây giờ. Thường là mùa hè, dăm bữa nửa tháng, nghe tiếng leng keng của ông bán cà – rem, hoặc kẹo kéo từ  đầu thôn là cả đoàn, cả lũ chạy ra nhìn. May hôm nào mẹ cho được đồng bạc cắc thì mua một que mà mút. Trông bọn trẻ nhà giàu mút kem, chúng tôi cũng lấy thị ra mà mút. Chỉ cần bóp cho mềm đều quả thị chín tới rồi cắn một lỗ nhỏ, rồi vừa mút vừa nặn thì cơm thị tuồn vào mồm cũng ngon cũng ngọt, nhưng chắc chắn… không bằng kem!

Lá thị xanh, theo kinh nghiệm dân gian cũng là một vị thuốc, được dùng rất phổ biến. Riêng gỗ thị, được cho là dai nhất trong ba loại cây ở nông thôn miền Trung: “Xoài giòn, mít dẻo, thị dai”. Vì vậy cùng với mít, gỗ thị thường được dùng để chạm trổ các bộ phận tinh xảo trong nhà lá mái, hoặc làm cột, kèo – những bộ phận rường cột trong ngôi nhà. Đặc biệt, lõi của cây thị thường có hình nhân, nên gần đây các tay chơi gỗ lũa còn sưu tầm được nhiều mảnh ván thị có lõi vân vi như những bức tranh nghệ thuật độc đáo của thiên nhiên.

Bọn trẻ chúng tôi thì thường chọn những cành thị vừa tầm để đẽo những cái vụ. Nhờ gỗ thị mềm, dẻo, lại có màu trắng, nên vụ đẽo từ cây thị thường được chuốc cho láng và chạy rất êm.

Suốt bao đời, cây thị gắn bó với người dân quê tôi, nó che chở, bao bọc, điểm tô cho cuộc sống người nông dân đỡ phần vất vả thiếu thốn. Vì thế cây và người, người và cây đã trở thành mối quan hệ láng giềng không thể thiếu trong cuộc mưu sinh.

 

          Hồi kháng chiến chống Pháp, nhiều cây đa và cây thị trong các làng không chỉ là nơi hội họp của tổ chức Việt Minh, mà còn là những trạm canh phòng rất hiệu quả. Ông Trần Đình Trắc [1], quê ở làng Tri Thiện, xã Phước Quang, Tuy Phước kể, làng Tri Thiện của ông có cây thị cao gần 30 mét, và cây đa cầu Tống Võ ở làng An Hòa kế bên từng là những điểm canh phòng của dân quân du kích địa phương thời kháng chiến chống Pháp. Trên mỗi ngọn cây cao nhất làng, người ta treo những cái bồ đan bằng tre, bên ngoài cột những dải vải có màu sắc sặc sỡ dài hàng chục mét để người từ xa có thể nhìn thấy. Hàng ngày cắt đặt một người trèo lên cây cao quan sát, nếu thấy địch đổ quân, đi càn thì liên tục kéo bồ lên, giật cái bồ trên ngọn cây cho mọi người cùng biết. Đó là cách truyền tín hiệu cho các trạm canh phòng khác liên tục báo động về căn cứ của quân ta.

 

          Cây thị làng Tri Thiện giờ vẫn còn, như một chứng nhân của lịch sử, nhưng cây đa cầu Tống Võ ở làng An Hòa thì đã bị bán cho một lò gạch cưa làm củi đun gạch từ lâu.

          Cũng theo ông Trần Đình Trắc và nhiều cụ cao niên khác thì ngày xưa không phải làng nào cũng được trồng thị, mà chỉ những làng tiêu biểu (gần giống như làng văn hóa cấp tỉnh thời nay), nơi có các bậc tiền hiền, hoặc những nhà khoa bảng đỗ đạt cao mới được trồng thị. Không biết điều đó có đúng không mà cây thị trong vườn nhà ông Trùm Sáu ở làng tôi, cách Văn Miếu Bình Định chừng hai trăm mét, từ lâu được xem là cây thị “cao niên” nhất làng. Cây thị ở thành Cha, xã Nhơn Lộc, huyện An Nhơn cũng đã trên 300 năm tuổi; rồi cây thị ở đình Cẩm Thượng, Tp. Quy Nhơn, một di tích đang được đề nghị xếp hạng di tích văn hóa cấp tỉnh cũng được mọi người tôn vinh. Và cây thị làng Tri Thiện của cụ Trần Đình Trắc, thuở xưa chắc chắn đã chứng kiến bao thăng trầm của thị tứ Nước Mặn, một thị tứ tụ hội khá đông thương nhân người Hoa, và là nơi “đô hội” của Bình Định thuở ấy.

          Ngày nay, trên cả tỉnh Bình Định những cây thị như trên chỉ còn đếm trên đầu ngón tay, nhưng chuyện kể về nó, ký ức quanh nó thì vẫn luôn được dân gian nhắc tới như những bậc “Tiền hiền” của làng của xã.   

          Cây thị đã hoá thân thành những tên đất, tên làng, những địa danh đi vào sử sách: Xóm Cây Thị, chợ Cây Thị, cầu Cây Thị… Riêng nhà thờ Gò Thị (còn có tên gọi Xuân Phương) ở Phước Sơn, Tuy Phước từ lâu đã là một nhà thờ lớn. Cùng với nhà thờ Nước Mặn, nhà thờ Gò Thị là một trong những nhà thờ lớn của cả khu vực miền Trung. Hồi ấy hẳn phải có một hay nhiều cây thị to toả bóng mát cho nhà thờ, cho những giáo dân đi lễ lấy chỗ mà trú nắng, trú mưa. Những cây thị ấy hẳn phải gắn bó, gần gũi như một biểu trưng cho cả vùng mới được lấy tên mà đặt cho nhà thờ.

          Giờ đây, mỗi lần đi qua nhà thờ Gò Thị, lòng tôi chợt ngậm ngùi khi chẳng thấy bóng thị đâu. Tâm trạng ấy cũng giống như khi đứng trước hiên nhà dõi về góc vườn nơi chái tây. Cây thị ngày xưa vẫn đứng đó, reo vui cùng gió, rộn tiếng chim kêu… giờ đã không còn nữa.

Hiện nay ở Bình Định, số cây thị “lên lão” chỉ đếm trên đầu ngón tay, như cây thị trên 500 tuổi ở gần thành Cha, Nhơn Lộc, An Nhơn, hay cây thị ở đình Cẩm Thượng (số 354 Trần Hưng Đạo, Tp. Quy Nhơn), và một số cây còn rải rác ở các huyện xa… Phần lớn thị đã bị chặt, bị cưa và đốn ngã không thương tiếc.

Cũng giống như những người già của quê, lần lượt ra đi theo quy luật của lẽ tử sinh, nhưng thị lại khác con người. Nó cứ bị mất dần, mất dần mà không hề được tái sinh theo qui luật ấy. Tưởng đã không còn nữa trong tâm trí xô bồ và quyết liệt của cuộc mưu sinh thời hiện đại, nhưng, may sao chiều nay… Cảm ơn em, quả thị quê nhà!                                              

M.T                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                         

c trò và là con rể của cụ Hà Trì Trần Đình Tân (1893 – 1979), người làng Cảnh Vân, Tuy Phước, đỗ cử nhân năm Ất Mão (1915)  đời Duy Tân, làm Thương tá Tỉnh vụ tỉnh Ninh Thuận, hàm Tùng Tam phẩm (3-2)

More...

Tiễn con gái đi làm

By Gã Phu Xe bất tử (Mai Thìn)

Tiễn con gái đi làm

Mai Thìn    

 

Chiều nay ba tiễn con lên tàu

đến một nơi năng động nhất

đông dân nhất

và có nhiều cái nhất nữa

để bắt đầu cho hành trình làm người lớn

để bắt đầu cho cuộc sống tự thân.

 

 

nghĩa là từ nay con không còn phụ thuộc vào ba mẹ nữa, ngày cuối tháng không còn gọi về bằng cái giọng bỗng dưng nhỏ nhẹ dễ thương hơn mọi bận. và rất hiếm những hôm cả nhà được mong ngóng đón con, nấu cho con những món ngon ưa thích.

 

chiều nay tiễn con lên tàu

đến một nơi có nhiều cái nhất

lòng ba chợt âu lo dẫu suốt chặng đường qua con luôn học giỏi, có nhiều bạn tốt và có những quyết định được ba luôn ủng hộ, dù chưa thực sự yên tâm.

 

những ước mơ của con nơi trời Âu trời Á khác với cánh diều thuở nhỏ làng ta, nhưng cũng có thể bay cao có thể rơi vào tâm bão. lòng người là cỗ máy siêu nhiên, ba muốn con đừng quên sợi dây nguồn từ mái nhà ta.

 

rồi đây con có thể đi xa

đến những nơi có nhiều hơn cái nhất

nhưng đừng quên

thế giới này có mái nhà ta.

2.10.2015

More...

MAI TRƯỜNG SƠN 15.5.2011

By Gã Phu Xe bất tử (Mai Thìn)

MAI TRƯỜNG SƠN                                

Truyện ngắn Trần Quang Lộc

           Hoa mai nở sớm hoặc muộn tuỳ thuộc vào thời tiết của những ngày cuối đông và còn phụ thuộc vào thời gian lặt lá nữa.Có năm mới hai chín ba mươi tết hoa mai đã bắt đầu tàn. Cũng có năm đến mùng một mùng hai Tết hoa mai vẫn chưa kịp nở. Riêng cây mai vàng trước cửa nhà tôi năm nào cũng  vậy: lác đác ra hoa đúng vào những ngày giáp Tết nở rộ trong đêm giao thừa mùi hương thanh khiết ngọt ngào lan tỏa cả một vùng. Thêm một đặc điểm nữa cây mai nhà tôi ra hoa suốt cả mùa xuân. Thường vào khoảng cuối tháng giêng âm lịch mai các vùng khác đã lụi tàn dồn sức cho cây đâm chồi nẩy lộc riêng cây mai nhà tôi vẫn tiếp tục nở hoa cánh vẫn to khỏe vàng rực và hương thơm ngan ngát. Dân chơi mai sành điệu cho là giống mai quý hiếm và nhiều người xin hạt về nhân giống nhưng họ bị thất bại vì những cây mai thế hệ sau không có những đặc điểm của cây mai nhà tôi. Rốt cuộc họ bảo cây mai được trồng chỗ đất tốt nên có những tính cách độc đáo mai các vùng khác không theo kịp.

          Tôi quý cây mai không chỉ riêng hoa mà cả cái thế cây nữa. Dáng mai thanh thoát uyển chuyển như dáng vẻ của một cô gái dịu dàng quý phái. Rảnh rỗi tôi dành nhiều thời gian cho việc chăm bón tưới tiêu do vậy mà cây mai nhà tôi phát triển xanh tươi hơn hẳn mai của các nhà vườn chung quanh. Cây mai vàng đã trở thành người bạn thân thiết của tôi không biết từ lúc nào.

          Mùa hè năm ấy do công tác đột xuất nên tôi phải tạm xa nhà hơn 3 tháng. Trước khi ra đi tôi căn dặn Ngọc Yến em gái tôi phải thay tôi chăm sóc cây mai chu đáo. Tôi rất tin Ngọc Yến vì nó cũng quý hoa mai như tôi vậy.

          Xong công việc tôi trở lại nhà. Về đến cổng ngõ tôi bàng hoàng thảng thốt khi trông thấy cây mai vàng đã trụi lá thân và cành cây xám xịt như một bộ xương khô. Quên cả chuyển đồ vào nhà tôi đứng thẩn thờ bên gốc mai trong tâm trạng bùi ngùi luyến tiếc. Em tôi cố giải thích để tôi tin rằng nó đã chăm sóc hết mực nhưng cây mai vẫn cứ tiếp tục lụi tàn và cuối cùng... hết phương cứu chữa!

          Cuối thu nhìn thân mai khẳn khiu giữa tiết trời giá rét mà thấy nhói lòng. Tôi chợt nảy ra ý định đào lấy gốc mai đẽo gọt thành món đồ mỹ nghệ để làm vật kỷ niệm. Tôi rất có khả năng về lĩnh vực này. Nghĩ vậy nên anh em tôi mang cuốc xẻng ra bắt đầu đào bới. Nhờ lớp đất tơi xốp nên công việc của chúng tôi không mấy khó khăn mặc dù rễ mai cứ ăn sâu vào lòng đất ẩm. Sau một lúc làm việc khẩn trương gốc mai vàng bỗng bật rễ lôi theo một khúc xương xám xịt! chúng tôi định thần nhìn kỹ đó là một khúc xương người loại xương cánh tay nhỏ nhắn. Việc xảy ra bất ngờ nên chúng tôi nhìn nhau kinh ngạc! Ngọc Yến vội bỏ xẻng đứng lên tuyên bố sẽ không tiếp tục giúp tôi được nữa. Riêng tôi vốn có óc tò mò và làm bất cứ việc gì cũng đến nơi đến chốn. Tôi không thể bỏ cuộc giữa chừng. Sau  khi nhổ bật gốc mai để dạt qua một bên tôi tiếp tục thận trọng đưa từng nhát xẻng vào lớp đất tơi xốp và tự nghĩ mình đang làm một việc thiêng liêng đối với người đã khuất mặc dù chưa biết người ấy là ai. Sau nửa tiếng đồng hồ khai quật một bộ xương người còn nguyên vẹn hiện ra trước mắt chúng tôi. Là một giáo viên sinh học Ngọc Yến khẳng định đây là hài cốt của một phụ nữ có thể một cô gái còn đang rất trẻ. Đang phân vân trước lời phỏng đoán bỗng Ngọc Yến cho biết có một vật gì đó lấp lánh trên khúc xương cổ của hài cốt. Tôi vội cuối xuống quan sát và phát hiện ra một sợi dây chuyền vàng tây mặt hình vuông. Tôi thận trọng tháo sợi dây chuyền vàng ra khỏi bộ xương lau sạch xem kỹ. Trên mặt vuông của sợi dây có chạm nổi hai chữ "Xuân Mai". Lúc này tôi có cơ sở để tin rằng đây là hài cốt của một cô gái mang tên Xuân Mai và hình như có một sợi dây thiện cảm nào đó đang nối liền giữa tôi với người con gái đã khuất.

          Để tránh mọi phiền phức có thê xảy ra tôi cho người đi mời đại diện chính quyền địa phương đến chứng kiến việc làm của chúng tôi. Sau khi quan sát hiện trường ông ta giải thích trước giải phóng đây là vùng đất hoang rải rác mồ vô chủ. Sau giải phóng dân các nơi tụ tập đến san bằng để xây nhà cửa vườn tược. Vì vậy mồ mả bị mất sạch. Nếu cái nào còn sót lại thuộc khuôn viên của ai thì hộ đó phải có nghĩa vụ bảo quản hoặc tự cải táng.

          Để làm tròn bổn phận tôi lo mua sắm đầy đủ các dụng cụ cần thiết cho việc cải táng rồi thuê người chuyển hài cốt đến góc vườn nhà tôi một vị trí yên tĩnh sạch sẽ thoáng mát. Việc cải táng tuy đơn giản nhưng trang nghiêm đủ các nghi lễ cần thiết. Ba hôm sau tôi thuê thợ vôi đến xây ngôi mộ giản đơn mà xinh xắn và cho khắc dòng chữ: "Phần mộ: Xuân Mai cải táng ngày ... tháng ... năm ...". Riêng sợi dây chuyền vàng tôi lau rửa sạch sẽ cất kỹ làm vật lưu niệm. Một cây mai vàng khoẻ khoắn cũng được thế vào vị trí của cây mai trước đó.

          Tôi nghĩ bụng mọi việc rồi sẽ đi vào lãng quên. Sau chiến tranh kẻ còn người mất ai quan tâm đến một nấm mồ vô chủ?! Nơi cõi vĩnh hằng người con gái vắn số chắc không còn buồn tủi vì đã có mồ yên mả đẹp hương khói quanh năm. Nghĩ vậy nên lòng tôi rất thanh thản!

          Cũng vào năm ấy để hưởng ứng phong trào làm kinh tế VAC của Chính phủ tôi thuê người trồng mai trên khu vườn nhà rộng trên một sào. Sau ba năm khu vườn nhà đã có trên ngàn gốc mai đủ cỡ đủ loại; trong chậu có ngoài đất cũng có. Hằng năm vào những ngày giáp tết mai nhà và các vườn bên cạnh nở vàng rực hương thơm lan tỏa. Dân từ các nơi đổ xô đến mua hoa sỉ có và lẻ cũng có xe cộ dập dìu   làng tôi vui như ngày hội lâu dần thành lệ. Dân làng tôi quen gọi: Hội mai xuân.

          Vào một buổi sáng đầu xuân đẹp trời tôi đang đọc báo trong phòng khách bỗng  nghe có tiếng người nói thì thào phía trước sân. Qua khung cửa sổ tôi bắt gặp  hai người đàn bà tuổi trên bốn mươi. Một người có dáng vẻ giàu sang quý phái khuôn mặt thanh tú. Người còn lại nước da hơi xanh nhưng khuôn mặt rất có duyên. Hình như họ đang trao đổi một việc gì đó rất hệ trọng. Người đàn bà có nước da xanh nói giọng Bắc. Chị ta vừa quan sát khu vực chung quanh sân nhà vừa nói những câu gì đó nghe không rõ. Người còn lại hình như đang mang một tâm trạng lo lắng buồn rầu. Dạo đó khu vực nơi tôi cư trú tuần nào cũng có nhân viên của Sở đất đai Sở Xây dựng hoặc của Công ty công chính đến ngắm nghía đo đạc vẽ sơ đồ. Vì vậy sự hiện diện của hai người đàn bà không làm cho tôi quan tâm. Lại có tiếng reo mừng từ ngoài sân vọng vào buộc tôi phải hạ tờ báo xuống lắng nghe:

          - Xuân Mai- Người đàn bà xứ Bắc nói giọng run run có lẽ vì quá xúc động - em đã tìm ra cái mốc rồi. Đây nầy là cây duối ngày xưa. Tuy đã bị phạt bằng nhưng còn để lại dấu vết. Nếu không xem xét kỹ khó mà phát hiện ra chị à.

          Người đàn bà giàu sang bỗng trở nên nhanh nhẹn nét mặt tươi vui.

          Người xứ Bắc nói giọng tự tin:

          - Em nhớ rất kỹ chị à. Từ gốc duối này đi về hướng tây khoảng sáu bước sẽ gặp mục tiêu. Miệng nói chân bước rồi đột nhiên dừng lại - Đúng là chỗ này rồi chị ạ!

          Hai người đàn bà đứng lặng người bên gốc mai vàng trước cửa phòng tôi đang thời nổ rộ!

          Linh cảm cho biết có một việc gì đó hệ trọng sắp xảy ra và có ít nhiều liên quan đến tôi. Tôi khẽ khàng mở cửa rời khỏi phòng. Nghe tiếng động nhẹ hai người đàn bà quay lại bối rối chào tôi trên nét mặt còn đọng lại một niềm vui lẫn nét buồn. Nhờ mấy câu giới thiệu tôi được biết: Người đàn bà có nước da tai tái tên Quỳnh Mai quê xứ Bắc. Người còn lại tên Xuân Mai người miền Nam.

         -Chị em tôi vào sân nhà anh nhưng chưa xin phép mong anh thứ lỗi.

          Như để thanh thủ thời gian Quỳnh Mai vội đi thẳng vào vấn đề:

          - Chị em tôi đang đi tìm hài cốt của một người bạn đã hy sinh cách đây gần hai lăm năm. Với từng ấy năm cảnh vật quá nhiều thay đổi. Chị em tôi cứ quanh quẫn nơi đây đã non tuần lễ. Hôm nay mới tìm được nơi yên nghỉ của Tiểu Mai đồng đội của tôi ngày xưa.

          Mặc dù đã đoán biết được phần nào sự việc nhưng tôi vẫn rất nhạc nhiên vì hai người đàn bà lại trùng tên với người đã khuất. Hơn nữa cái tên Tiểu Mai nào đó càng làm cho tôi thắc mắc khó hiểu.

          Để tránh sự nhầm lẫn đáng tiếc có thể xảy ra tôi thuật lại nguyên nhân cải táng một hài cốt về việc phát hiện sợi dây chuyền vàng rồi khẳng định người con gái vắn số có tên Xuân Mai chứ không phải Tiểu Mai  như Quỳnh Mai đã nói. Xuân Mai nhìn tôi bằng  đội mắt mọng nước:

          - Hài cốt anh đã cải táng đúng là của em tôi là đồng đội của Quỳnh Mai trong chiến tranh. Chúng tôi vô cùng cảm động về tấm lòng nhân hậu của anh đã giúp em tôi có chỗ nằm yên ổn.

          Tôi đưa hai người đàn bà ra sau vườn viếng mộ trong tâm trạng băn khoăn khó hiểu. Ngay trưa hôm đó hai người đàn bà cho tôi biết vài nét về Tiểu Mai.

          - Chúng tôi là hai chị em song sinh giống nhau như hai giọt nước. Tôi tên Xuân Mai em tôi tên Tiểu Mai. Năm mười bảy tuổi chị em tôi thi đỗ Tú Tài phần hai. Ba tôi thưởng cho mỗi đứa một sợi dây chuyền bằng vàng tây mặt dây chuyền có khắc tên mỗi đứa. Cũng trong năm đó Tiểu Mai lên Sài Gòn theo học Văn Khoa tôi tình nguyện ở lại giúp mẹ trông nom một cửa hàng lớn trong thành phố. Trước ngày Tiểu Mai lên Sài Gòn chúng tôi  trao đổi dây chuyền cho nhau. Điều đó không có gì là lạ hồi còn bé chúng tôi thường trao đổi đồ chơi cho nhau. Cuối năm thứ ba Văn Khoa Tiểu Mai tham gia tích cực vào các cuộc biểu tình của sinh viên chống chế độ Sài Gòn. Sau đó bị cảnh sát truy nã Tiểu Mai chạy ra vùng giải phóng tham gia hoạt động cách mạng. Từ đó Tiểu Mai không trở về nữa.

          Quỳnh Mai tiếp lời Xuân Mai bằng giọng sôi nổi đôi lúc cũng đượm buồn:

          - Năm ấy đơn vị thanh niên xung phong chúng tôi được bổ sung mười sáu đoàn viên thay chỗ cho những đồng đội vừa mới hy sinh. Họ đến từ khắp mọi miền đất nước. Trong số mười sáu lính mới có Tiểu Mai. Tiểu Mai rất thông minh vui tính có học thức và rất dễ làm quen. Chỉ trong tuần lễ đầu Tiểu Mai đã chiếm được cảm tình của chị em chúng tôi đến nổi lãnh đạo đoàn phải nhìn Tiểu Mai bằng đôi mắt tị hiềm. Do cùng tên chủ yếu là cùng chung tính cách nên tôi và Tiểu Mai rất thân nhau. Tình bạn đã giúp chúng tôi vơi bớt nổi nhớ nhà tăng thêm sức mạnh để vượt qua những khó khăn gian khổ của thời chiến tranh. Có những đêm trên đường đi chiến dịch chúng tôi ngồi cạnh nhau vừa trông ánh sao trời vừa kể cho nhau  nghe về quãng đời tuổi thơ về những kỷ niệm buồn vui của thời con gái nhiều mơ mộng. Đôi lúc chúng tôi rất tự hào vì đã  cống hiến tuổi thanh xuân cho lý tưởng. Nhưng cũng có khi lại cảm thấy ngậm ngùi cho số phận vì đã trót sinh ra trong thời ly loạn. Bọn con gái Trường Sơn chúng tôi hồi ấy rất dễ buồn mà cũng dễ vui anh ạ!

          Quỳnh Mai yên lặng một lúc rồi kể tiếp bằng giọng đượm buồn:

          - Một đêm giáp tết tôi và Tiểu Mai được lệnh đưa cánh quân của ta về một huyện đồng bằng chuẩn bị cho cuộc tổng tiến công mùa xuân. Sau khi đưa cánh quân đến vị trí tập kết an toàn chúng tôi lập tức quay về đơn vị để nhận nhiệm vụ mới. Phần vì đêm cuối năm trời tối như mực phần vì kiệt sức do nhiều đêm thức trắng chúng tôi sơ ý lọt vào ổ phục kích của một tiểu đội địa phương quân. Ngay từ loạt đạn đầu của địch Tiểu Mai đã bị thương ở đùi và ở ngực. Lòng căm phẫn dâng cao tột độ khiến tôi chống trả quyết liệt để trả thù đồng đội. Mặc dù đang bị thương nặng Tiểu Mai vẫn nắm chắc tay súng lia từng loạt đạn căm thù về phía giặc. Tiểu Mai bỗng nói với tôi giọng đứt quãng: "Mày phải khẩn trương trở về đơn vị tao đủ sức chống trả bọn chúng". Tôi nhất quyết ở lại thề sống chết bên nhau. Tiểu Mai phản đối kịch liệt: "Mày không nghe tao tự vận bây giờ". Sống với nhau lâu ngày nên rất hiểu tính cách của Tiểu Mai nó rất quyết đoán và đã nói là làm. Vì vậy tôi cố nén thương đau để lại tất cả những băng đạn tôi mang theo rồi vội quay vào bóng đêm vừa tìm phương án tối ưu giải thoát đồng đội.

          Thoát khỏi tầm súng carbine của địch tôi dừng lại cũng vừa đúng lúc tiếng súng im bặt. Chắc anh thưa biết bọn lính địa phương nhát như thỏ đế nghe tiếng súng AK đã hoảng hồn. Tôi quyết định quay lại để tìm đồng đội. Đến chỗ cũ tôi bắt gặp Tiểu Mai đang ngồi dựa lưng vào một mô đất đầu ngoẹo sang một bên nhưng vẫn nắm chắc súng trong tư thế sẵn sàng chiến đấu. Không chậm trễ một giây tôi vội xốc Tiểu Mai lên vai băng qua cánh đồng. Đến một miền đất trống và tương đối an toàn tôi đặt Tiểu Mai dựa vào gốc duối. Quỳnh Mai nhìn ra góc sân - Kia gốc duối tuy đã bị phạt bằng nhưng vẫn còn vết tích. Lúc đó Tiểu Mai tỉnh lại hỏi bằng giọng mệt nhọc: "Quỳnh Mai đấy phải không?". Rồi nó cầm lấy tay tôi giọng như một cơn gió thoảng: ‘Mình thấy khó thở lắm. Hình như đạn trúng phổi. Chắc không qua khỏi. Mày hãy để tao nằm lại đây. Cầu mong cho mày bình yên. Cho tao gửi lời chia tay các bạn". Tôi ôm chầm lấy Tiểu Mai khóc nức nở. Một lúc sau nó đi luôn. Lúc này trời sắp rạng đông không khéo sẽ bị lộ. Tôi vội tìm một chỗ đất tơi xốp cách gốc duối không xa lấy mũi súng làm xà beng lấy bàn tay làm xuổng khẩn trương đào một cái hố vừa đủ chỗ cho Tiểu Mai. Chôn cất bạn xong trời cũng vừa rạng sáng. Tôi bùi ngùi đứng lên từ biệt người bạn đã từng chia ngọt xẻ bùi trong những năm tháng ở Trường Sơn đầy gian khổ. Sau ngày thống nhất đất nước tôi được chuyển về làm hộ lý tại một Trạm quân y rồi được phục viên với tấm giấy chứng nhận thương binh loại hai trên bốn. Trở về cuộc sống đời thường với vô vàn khó khăn nối tiếp nhau chồng chất hoàn cảnh neo đơn vết thương cũ cứ trở trời lại nhức nhối. Vì vậy nhiều lúc nhớ Tiểu Mai da diết nhưng cũng đành chịu. Tôi lấy làm hối tiếc. Lẽ ra tôi phải đi tìm đồng đội của mình trong những ngày mới vừa giải phóng. Tôi có lỗi! -Quỳnh Mai rút khăn tay lau mấy giọt nước mắt tiếp:

          - Một hôm tôi tình  cờ nhận ra hình ảnh của Tiểu Mai trên màn ảnh truyền hình Việt Nam trong mục "Nhắn tìm đồng đội". Hôm sau tôi thu xếp việc nhà rồi vội vã vào Nam lần thao địa chỉ tìm đến nhà Xuân Mai hóa ra chị Xuân Mai cũng có cuộc sống đơn chiếc như tôi. Chị em khẩn trương về đây tìm em tìm đồng đội.

          Tôi an ủi Quỳnh Mai:

          - Tuy có muộn màng nhưng Quỳnh Mai đi tìm đồng đội của mình bằng trái tim bằng tất cả tấm lòng thủy chung nhân hậu. Thời bây giờ không ít người nhờ sự hy sinh của đồng đội mới được lành lặn trở về với cuộc sống giàu sang sung sướng nhưng họ quay lưng lại với tất cả!

          Tôi xoay câu chuyện sang hướng khác:

          - Xuân Mai quyết định chuyển hài cốt của em về nghĩa trang liệt sĩ?.

          Xuân Mai lắc đầu.

          - Không em tôi chưa được công nhận liệt sĩ!.

          Tôi không giấu được sự ngạc nhiên sau câu nói của Xuân Mai Quỳnh Mai giải thích:

          - Sau khi Tiểu Mai hy sinh không lâu đơn vị thanh niên xung phong của chúng tôi cũng bị xóa sổ trong một trận máy bay B52 ném bom rải thảm lúc đang làm nhiệm vụ bảo vệ tuyến đường Trường Sơn. Vì vậy ...

          Xuân Mai vội cắt lời :

          - Thật lòng tôi không bận tâm lắm về việc này. Nay tìm được hài cốt của em là tôi mãn nguyện .

          Sau câu nói của Xuân Mai tôi suy nghĩ đắn đo trong giây lát rồi đưa ra ý kiến:

          - Đã từ lâu tôi xem Tiểu Mai như em gái nên thường xuyên hương khói tu tảo phần mộ hàng năm. Nếu như Xuân Mai chuyển em về nghĩa trang liệt sĩ tôi không dám cản. Nhưng đưa về để gần quê quán thì Xuân Mai và Quỳnh Mai nên để Tiểu Mai nằm lại ở đây. Hằng năm cứ vào hai bảy tết Xuân Mai và Quỳnh Mai hãy trở lại đây để cùng tôi tổ chức ngày giỗ Tiểu Mai. Như vậy cũng trọng tình trọn nghĩa. Tiểu Mai chắc cũng vui lòng. Mong Xuân Mai và Quỳnh Mau hãy suy nghĩ kỹ. Sự nhiệt tình của tôi xuất phát từ lòng quý trọng....

          Ý kiến bất ngờ của tôi hình như đã làm cho hai người đàn bà rất xúc động họ nhìn nhau rươm rướm nước mắt và không nói được lời nào. Tôi lấy sợi dây chuyền đã cất giữ gần 3 năm đưa cho Xuân Mai:

          - Đây là di vật cuối cùng của Tiểu Mai. Xuân Mai hãy giữ lấy.

          Nhìn kỷ vật ngày xưa Xuân Mai không cầm được nước mắt. Một lúc sau Xuân mai tháo sợi dây chuyền đang đeo đem so với sợi dây tôi mới đưa hai sợi dây hoàn toàn giống nhau chỉ khác một chữ trên mặt hình vuông.. Không hiểu sao Xuân Mai trao lại sợi dây chuyền cho tôi và nói:

          - Mặc dù nó mang tên tôi nhưng nó là di vật cuối cùng của Tiểu Mai. Anh đã cất giữ nó gần ba năm giờ đây anh vui lòng tiếp tục giữ lại để làm vật kỷ niệm. Anh rất nhân hậu. Tình cảm của anh dành cho chị em tôi vô cùng lớn. Không biết ngày nào chúng tôi mới đền đáp được.

          Từ đó hàng năm cứ vào hai mươi bảy tết Xuân Mai và Quỳnh Mai trở lại nhà tôi dự ngày giỗ của Tiểu Mai. Sau đó tham gia hội mai xuân diễn ra trên làng tôi. Đặc  biệt Ngọc Yến rất quý Xuân Mai và Quỳnh Mai. Có năm nó giữ họ lại cho đến mùng tám tết mới chịu chia tay

                                                                                                                                  TQL.

LỜI BÌNH CỦA NGUYỄN ĐỨC THIỆN về truyện “ Mai Trường sơn” 14.5.11

 

Mai Trường sơn” của Trần Quang Lộc là một truyện ngắn thật giản dị. Giản dị đến mức làm cho người ta tưởng đó là chuyện được tác giả sắp xếp cho nó diễn ra đúng trình tự phải có. Chuyện xảy ra trong một gia đình thích chơi hoa kiểng. Trong vườn nhà anh có một cây mai  của rừng Trường Sơn thật đẹp và sung mãn. Hoa nở đầy đặn đúng ngày và nở lâu trong những ngày xuân đến. Một ngày kia cây mai bỗng chết khô. Cũng vì tiếc cây mai quý người chủ cây mai đào lên tính làm thành một cây kiểng khô. Không ngờ bên dưới gốc mai có một bộ xương người. Chỉ khác bộ xương ấy có danh tính nhờ vào mặt chiếc dây truyền vàng được chôn theo người. Thời gian sau có người tìm đến. Cuộc gặp gỡ giữa người chủ vườn mai với những vị khách lạ đã diễn ra. Nhờ đó mà chúng ta biết người nằm dưới gốc mai kia là một nữ thanh niên xung phong đã hy sinh trong cuộc chiến đấu bảo vệ một cung đường Trường Sơn.

 

Chuyện giản dị như vậy nhưng nó đã làm người đọc xúc động bởi hiện thực cuộc sống. Ngày xưa khi đất nước còn chiến tranh có biết bao nhiêu con người đã tham gia chiến đấu một cách tự nguyện. Đánh giặc giống như một lẽ tự nhiên của con người Việt Nam. Trong cuộc chiến đấu ấy sự hy sinh của bất cứ ai cũng rất tự nhiên theo đúng quy luật khắc nghiệt của chiến tranh. Cô gái hy sinh được chôn dưới gốc mai kia cũng chịu sự khắc nghiệt ấy. Sự hy sinh ấy còn cao hơn khi chiến tranh chấm dứt bao nhiêu liệt sĩ đã được ghi công trạng còn cô vẫn chưa vì phải chịu đựng một sự thật hiển nhiên khác đó là đơn vị bị xóa sổ không ai làm những thủ tục cần thiết ghi công trạng cho cô. Bản thân cô chịu đựng tới mấy lần hy sinh hy sinh thân xác hy sinh công trạng và rất có thể còn bị bỏ quên trong rừng nếu không có một người yêu cây kiểng những đồng đội và người nhà của cô tìm đến.

 

Cuộc chiến đấu giữ nước của Việt Nam chúng ta là như vậy. Chúng ta đã làm rất nhiều việc vì những người hôm qua ngã xuống. Nhưng dù có làm bao nhiêu thì vẫn chưa đủ. Những người đã được đón về nghĩa trang liệt sĩ những người đã được ghi nhận công trạng những người đã đựợc vinh danh thành tích. Nhưng vẫn còn những người hôm nay còn nằm đâu đó trong Trường Sơn bạt ngàn cây xanh và nắng gió. Cám ơn người yêu cây kiểng cảm ơn người như Quỳnh Mai Tiểu Mai- những nhân vật trong truyện ngắn “ Mai Trường Sơn” của Trần Quang Lộc- đã làm những công việc thật ý nghĩa cho những người hy sinh trong chiến tranh. Mai trong rừng Trường Sơn dẫu không ai vặt lá lúc cuối năm nhưng nhất định vẫn sẽ trổ bông khi mùa xuân về. Nhưng Người hy sinh vì đất nước sẽ mãi mãi sống trong lòng Tổ Quốc Việt Nam. Chúng ta vinh danh họ bằng niềm tiếc thương vô hạn và nhớ đến họ mỗi khi đất nước vào xuân. Những ngừơi hy sinh như Tiểu Mai hẳn sẽ ấm lòng khi có bạn chiến đấu Quỳnh Mai có chị em Xuân Mai có người yêu cây kiểng chăm sóc phần mộ cho mình. Dẫu sao đó cũng là hành động làm ấm lòng những liệt sĩ của chúng ta../.

 

NĐT

 

 

Lời bình truyện ngắn Mai Trường Sơn của Trần Quang Lộc/15.5.2011

Nguyễn Thu Hiền

 

Đọc Mai Trường Sơn của Trần Quang Lộc ở trang đầu tiên cứ tưởng tác giả đang viết tản văn về hoa mai với những con chữ mượt mà đầy cảm xúc. Câu chuyện bắt đầu có ngã rẽ khi nhân vật tôi đi vắng và cây mai bị héo rũ. Vì gắn bó với cây mai quý nhân vật tôi quyết định đào gốc để đẽo gọt thành món đồ mỹ nghệ làm kỷ niệm. Thế rồi không ngờ lại thấy một bộ hài cốt dưới gốc mai. Nhờ chiếc dây chuyền tên cô gái được phỏng đoán. Và thật bất ngờ tên cô gái lại là Mai.

Bằng nghĩa cử của một con người nhân vật tôi đã chu tất lo liệu và hương khói cho ngôi mộ của người con gái ấy. Có những chi tiết không có trong truyện đã làm xúc động độc giả ấy là khi đối diện với bộ hài cốt không thấy nhân vật tôi lo sợ chối bỏ hãi hùng… như thường thấy trong thực tế. Thậm chí “Hình như có một sợi dây thiện cảm nào đó đang nối liền giữa tôi với người con gái đã khuất”. Rồi đến khi chu tất việc cải táng cũng không thấy nhân vật tôi so đo tính toán mình được gì mất gì. Đó gần như là việc phải làm mà lương tâm thôi thúc chứ không có tính toán vụ lợi. Đây là suy nghĩ đầy nhân ái cao cả “Sau chiến tranh kẻ còn người mất ai quan tâm đến một nấm mồ vô chủ?! Nơi cõi vĩnh hằng người con gái vắn số chắc không còn buồn tủi vì đã có mồ yên mả đẹp hương khói quanh năm. Nghĩ vậy nên lòng tôi rất thanh thản! ».

Cuối cùng như một cái kết có hậu dù chưa thật tròn trịa viên mãn vì người hy sinh nằm dưới mộ chưa được phong liệt sĩ nhưng cô gái đã tìm được người thân và đồng đội của mình sau bao nhiêu năm. Có lẽ đoạn cuối của tác phẩm sẽ khiến người đọc nhớ lâu bởi sự trớ trêu của nhân tình thế thái và tấm lòng của những con người với nhau. Hai người đàn bà - một là chị gái một là đồng đội của người đã mất trở về sau chiến tranh thì sống cảnh đơn chiếc không có một tổ ấm gia đình bình dị như tất cả những người đàn bà khác. Còn người đã mất – tìm lại được tên - Tiểu Mai cũng chưa được ghi nhận là liệt sĩ. Xuân Mai nói : « Thật lòng tôi không bận tâm lắm về việc này. Nay tìm được hài cốt của em là tôi mãn nguyện”. Vậy đấy mọi danh lợi giờ đây không phải là thứ quý giá với họ - với những người còn sống nữa. Chắc rằng sau khi quyết định để lại Tiểu Mai nơi này và cứ 27 tết mọi người lại về đây để giỗ Tiểu Mai và dự hội mai xuân thì chẳng ai có ý định chứng thực cho người đã mất là liệt sĩ mọi thứ dường như vẫn chẳng có gì thay đổi. Chỉ còn lại tấm gương dũng cảm hi sinh của người đã mất là còn mãi và sự thanh thản sẽ là nguồn an ủi sẽ nhắc nhở với chúng ta: được sống đã là hạnh phúc hãy biết nâng niu và trân trọng nó. Mọi bon chen xô bồ mọi đau khổ rồi cũng kết thúc…Như thứ hoa mai của mùa xuân cứ qua 3 mùa với vẻ thô mộc giản dị chả ai để ý tới cho đến xuân lại âm thầm kết nụ nở hoa làm mọi người nhận ra sự luân chuyển của thời gian và ngỡ ngàng trong sắc vàng rực rỡ. Chợt câu thơ: Những bông hoa vẫn cứ nở đúng mùa của Nguyễn Trọng Tạo vang lên nhà thơ viết vậy không chỉ để nói về hoa mà nói về tất cả những gì đã và đang tồn tại như sự bất di bất dịch của mọi giá trị.

Truyện ngắn Mai Trường Sơn dù không có nhiều kịch tính nhưng Trần Quang Lộc đã để lại dư âm về tấm lòng nhân hậu tốt đẹp của mỗi con người đây là điều ít thấy trong văn học hiện nay.

 

Nguyễn Thu Hiền

Báo điện tử Tổ Quốc

Số 20 ngõ 2 Hoa Lư Hai Bà Trưng Hà Nội

 

 

More...

Phạm Văn Ký - một người con Bình Định một số phận văn chương “mất nơi ở”

By Gã Phu Xe bất tử (Mai Thìn)

Phạm Văn Ký - một số phận văn chương “mất nơi ở”

 Rất ít điều về ông được biết đến ở nơi ông đã sinh ra và lớn lên. Với một tài năng văn học có những thành tựu đáng kể như ông (bốn tiểu thuyết được nhà Gallimard xuất bản cùng với giải thưởng lớn của Viện Hàn lâm Pháp là mơ ước không chỉ của một nhà văn nhập cư bình thường mà còn là khát khao của nhiều nhà văn Pháp) ông đáng được biết đến nhớ đến nhiều hơn thế.


Theo ký ức của nhà văn Phạm Hổ - người em trai thứ hai của ông trong một gia đình đông đến 13 anh em - ông Ký là một người lặng lẽ và khép kín. Ông viết khá nhiều. Những tác phẩm của ông mà gia đình được biết và còn giữ được bằng tiếng Việt có: Kiếm hoa (tiểu thuyết) Con đường thiên lý số 1 (tiểu thuyết - chưa xuất bản) Đường về nước (tập thơ); bằng tiếng Pháp: Một tiếng trên đường (tập thơ) Thành Ốc (kịch) Huế vĩnh cửu (tập thơ) Vợ chàng Trương (truyện) Người sẽ ngự trị (tiểu thuyết) Những đôi mắt giận dữ (tiểu thuyết - tiếng Pháp) Anh em ruột thịt (tiểu thuyết) Người làm nên các vì sao (tiểu thuyết) Mất nơi ở (tiểu thuyết) Hồi ức một hoạn quan (tiểu thuyết) Thơ trên lụa (tập thơ) Sự thách thức của VN (bút ký - chưa xuất bản).


Trước khi ra đi khỏi VN vào năm 1939 Phạm Văn Ký từng là chủ bút của một số tờ báo ở Bình Định Huế Sài Gòn như Impartial (Vô Tư) Gazette de Hue; ông cũng là người đầu tiên viết lời giới thiệu cho tập Gái quê của Hàn Mặc Tử bản in năm 1936.


Trước đó Hàn Mặc Tử vẫn làm thơ theo lối thơ Đường đến Gái quê ông chuyển hẳn sang một con đường thơ khác và theo nhà thơ Tế Hanh “chính sự cổ vũ nhiệt tình của Phạm Văn Ký trong lời tựa đầu tiên ấy đã góp phần khẳng định việc Hàn Mặc Tử gia nhập trường phái thơ mới là đúng lúc”.


Con đường mưu sinh và sáng tạo của một nhà văn nhập cư trong một thế giới có thể coi là cởi mở và cũng cực kỳ xa lạ như con đường của Phạm Văn Ký trong nền văn học Pháp là một câu chuyện rất dài và có nhiều uẩn khúc. Nhà văn Phạm Sông Hồng - con gái của nhà văn Phạm Hổ - rất thận trọng và nhẹ nhàng nói:


“Bác tôi có quá nhiều nỗi buồn và càng buồn hơn vì ông không nói ra được. Năm 1970 khi cùng phái đoàn Việt kiều yêu nước về thăm quê lần đầu tiên sau 31 năm xa cách ông đã rất muốn ở lại nhưng Thủ tướng Phạm Văn Đồng một người bạn thân của ông (thú thật là tôi cũng không biết hai ông thân nhau từ bao giờ nhưng tôi biết chắc họ cực kỳ yêu mến nhau vẫn giữ liên lạc thường xuyên với nhau và gia đình tôi được bác Thủ tướng quí mến cũng là nhờ tình thân từ ông bác ruột) đã nói với ông: “Anh ở nước ngoài thì có lợi hơn cho VN”.

Có lẽ bác tôi hiểu rằng Thủ tướng Phạm Văn Đồng muốn có một “đại sứ văn hóa” của VN như bác tôi ở nước ngoài. Ông đã quay về Pháp và sống đến cuối đời ở đó không còn dịp nào về VN nữa”.


Nhà văn Phạm Hổ trong lời bạt cho cuốn Đường về quê xuất bản tại VN 1993 sau khi Phạm Văn Ký mất cho biết: “Từ sau chuyến về thăm Tổ quốc đến lúc mất các NXB có tên tuổi đã không chịu in cho anh tôi một quyển sách nào. Ngay tập tiểu thuyết mà NXB Gallimard đã ký hợp đồng với anh tôi trước lúc về nước lúc sang lại NXB cũng tìm cớ để xóa hợp đồng”. Ông Hổ cũng dẫn lời ông Võ Văn Sung cựu đại sứ VN tại Pháp:


“Tôi hiểu và thương anh Ký lắm thương như một người anh ruột. Anh là một con người chân thật hết sức trong sáng. Anh Ký tâm sự với tôi: “Tôi thấy tôi có lỗi quá tôi chưa đóng góp được gì cho đất nước cả”. Anh thèm được đóng góp như để bù lại những năm tháng sống xa quê hương... nhưng tính anh khí khái chỉ muốn tự mình lo liệu tự mình đóng góp không muốn nhờ vào ai. Trong lúc đó thì Sự thách thức của VN các NXB đều gửi trả lại anh và khuyên anh đừng viết như thế nữa. Thế là muốn đóng góp mà không được. Nỗi buồn riêng của anh tôi hiểu rất rõ là như vậy”.

Tuổi già ông sống trong lặng lẽ và ra đi mà không có một người thân nào bên cạnh. Người vợ Đức của ông - một diễn viên điện ảnh khá tên tuổi - đã chia tay với ông trong tình bạn họ không có con cái.

Phạm Văn Ký có một sức viết rất dồi dào nhà văn Phạm Sông Hồng nói: “Một người bạn Pháp của gia đình tôi chuyên nghiên cứu về các tác phẩm của bác tôi nói rằng ông còn rất nhiều bản thảo đã in và chưa in hiện được lưu trữ tại thư viện Arsenal ở Paris. Gia đình đã rất cố gắng liên hệ để có thể mang được số bản thảo đó về VN nhưng đáng buồn là chúng tôi không chứng minh được quan hệ huyết thống của mình với bác tôi.



Trong khi giấy tờ của bác tôi ở Pháp rất đầy đủ thì 12 người em còn lại ở VN của ông - kể cả cha tôi và nhạc sĩ Phạm Thế Mỹ em út của ông cũng không còn ai giữ được giấy tờ gì chứng minh họ là con đẻ của ông bà nội tôi cả.

Chiến tranh thiên tai những cuộc di chuyển vất vả đã làm thất lạc hết giấy tờ trong khi phía Pháp chỉ cần những giấy tờ hợp pháp tối thiểu. Ba tôi đang ốm nặng. Ông vẫn không bao giờ hết buồn vì chưa mang được di cảo của bác tôi về VN”.

Theo Tuổi trẻ

 

Mất nơi ở là cuốn tiểu thuyết được viết hoàn toàn bằng tiếng Pháp về nước Nhật trong những năm cuối thế kỉ XIX. Đại uý Hizen nhận nhiệm vụ chỉ huy việc xây dựng một đường tàu hỏa cùng với những người kỹ sư nước ngoài. Thế rồi người vợ của anh đã bị một trong những người kỹ sư đó quyến rũ con anh đi theo Thiên Chúa giáo. Bản thân anh quân hàm và chức vụ cũng rơi vào tay người em ruột Âu hóa… Hizen đã mất đi tất cả những thứ quan trọng của cuộc đời mình chỉ trong một thời gian ngắn. Và hơn thế nữa anh đã mất đi đất nước của tâm hồn minh mất đi nơi trú ngụ của thế giới tinh thần và trở thành một kẻ cô đơn lạc lõng và bơ vơ ngay trên mảnh đất quê hương. 

 

More...

"Tôi đã viết Giấc mơ hoa ban trắng như thế”

By Gã Phu Xe bất tử (Mai Thìn)

"Tôi đã viết Giấc mơ hoa ban trắng như thế”

 

Bài thơ Giấc mơ hoa ban trắng nhà thơ Mai Thìn viết về các chiến sĩ Điện Biên. Hình ảnh hoa ban trắng rợn ngợp khắp các ngả đường Tây Bắc đã được ví như các liệt sĩ Điện Biên thức dậy mang mùa xuân về với quê hương. Bài thơ đã được đăng trên tạp chí Văn nghệ quân đội và Báo Văn nghệ (Hội Nhà văn Việt Nam). Nhân kỷ niệm 57 năm Ngày chiến thắng Điện Biên Phủ (7.5.1954-7.5-2011) PV Báo Bình Định đã gặp gỡ tác giả bài thơ.

 

Nhà thơ Mai Thìn tâm sự:

 Giữa tháng 3.2009 tôi tham gia chuyến đi thực tế do Hội nhà báo tỉnh tổ chức và được tham quan một số di tích lịch sử ở vùng Tây Bắc như: Hòa Bình Sơn La Điện Biên Lai Châu Yên Bái Vĩnh Phú… Lần đầu tiên tôi được đến với Nhà ngục Sơn La cây đào Tô Hiệu; rồi Điện Biên Phủ với những địa danh đã đi vào sử sách như: Đồi A1 Cánh đồng Mường Thanh Hầm Đờ-Cát dòng sông Nậm Rốm đèo Pha Đin đèo Lũng Lô cùng những thắng cảnh: sân mây Sa Pa sông Đà và đặc biệt là rừng hoa ban mùa xuân trùng trùng trắng muốt…

 

Đêm ở lại Điện Biên sau cuộc gặp mặt với một số anh em văn nghệ sĩ địa phương tôi biết được về những ngôi mộ không tên ở nghĩa trang liệt sĩ và rất nhiều hài cốt vẫn còn rải rác trong thành phố do sau khi an táng bị cơn lũ lớn cuốn trôi. Trong đầu tôi luôn cảm thấy hình ảnh các anh vẫn còn đâu đây họ lại tiếp tục chịu nhiều mất mát khổ đau dù đã hơn nửa thế kỷ trôi qua dù  nỗi hy sinh to lớn của các anh đã được cả thế giới ngưỡng mộ.

Và thế là bài thơ Giấc mơ hoa ban trắng  ra đời.

 

GIẤC MƠ HOA BAN TRẮNG

 

biết bao nhiêu liệt sĩ Điện Biên

các anh nằm. không. đứng ở khắp nơi

quá mỏi suốt 55 năm trong những ngôi mộ có tên và không tên

 

súng vẫn trên vai cơm vắt vẫn bên người

các anh đứng dọc sông Đà Nậm Tao Nậm Rốm…

nhìn nước xuôi thương nhớ bấy quê nhà

 

dẫu đời lính thì phải vì Tổ quốc

nhưng tóc các anh xanh giờ đã trắng bên đồi

mơ ước một lần về phép

thăm mẹ già đi dưới hàng cau

 

55 năm. như đã lâu rồi

viên đạn bắn các anh nằm quên trong bảo tàng chứng tích

máu thịt con người đâu cũng đỏ mà thôi

 

dọc Tây Bắc đi tuyến đường nào cũng thấy

các anh giăng dây kéo pháo qua đèo 

trắng và trắng từng cánh hoa bạc trắng 

bời bời

một giấc mơ.

 

MAI THÌN

 Nguồn: Báo Bình Định số ra ngày thứ Bảy 7/5/2011

More...