LÀNG VEN THÀNH – NƠI HỢP LƯU CỦA VĂN HÓA, VĂN NGHỆ MIỀN TRUNG

By Gã Phu Xe bất tử (Mai Thìn)

LÀNG VEN THÀNH – NƠI HỢP LƯU CỦA VĂN HÓA, VĂN NGHỆ MIỀN TRUNG 

(Đọc sách "Làng ven thành", NXB Khoa học xã hội, 2015 của Mai Thìn)

              T.S Châu Minh Hùng 

Quyển sách dày trên 500 trang của tác giả Mai Thìn do Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam và Nhà xuất bản Khoa học xã hội ấn hành. Lấy tên Làng ven thành, có thể tác giả đã xác lập tọa độ không gian cho một vùng đất cả về mặt địa lí tự nhiên lẫn văn hóa văn nghệ. Nhơn Thành, quê hương của tác giả, không thuộc trung tâm, cũng không hẳn là ngoại vi, nó ở vị trí tiếp giáp cả 2 khu vực văn hóa: bên này là cung đình từ thành Đồ Bàn cổ xưa của người Chăm đến thành Hoàng Đế của triều đại Tây Sơn, bên kia là dân gian hồn nhiên, thô mộc. Ở vị trí ấy, Nhơn Thành gần như là nơi hợp lưu của nhiều nguồn văn hóa, văn nghệ trong cả khu vực miền Trung.

More...

MAI THÌN VỚI THIÊN ĐƯỜNG THƠM

By Gã Phu Xe bất tử (Mai Thìn)

MAI THÌN VỚI THIÊN ĐƯỜNG THƠM
              (Đọc Thiên đường thơm rèm cửa nhà mình, tập thơ Mai Thìn, NXB HNV- 2015).
 
        Nhà thơ Mai Thìn sớm xuất hiện trên văn đàn Bình Định, Việt Nam từ những năm chín mươi của thế kỉ XX, có thể kể từ tập thơ đầu tay Cổ tích tình yêu(1991) đầy hấp dẫn dẫu khi ấy còn trẻ lắm. Và đây trên tay tôi: Thiên đường thơm rèm cửa nhà mình là tập thơ thứ sáu bút pháp lại càng già dặn hơn. Anh cứ lặng lẽ miệt mài trang viết đã trình làng thêm ba tập nghiên cứu, tản văn và bút kí nữa. Từ giải nhất Thơ Trẻ cho đến các giải thưởng Đào Tấn- Xuân Diệu vẫn công bằng dành cho người con đất An Nhơn này, hiện anh đang công tác ở Đài Phát thanh và Truyền hình Bình Định, có điều kiện tiếp xúc giao lưu văn hóa nên nhịp thời gian và không gian vùng miền trong thơ cũng mang đậm nét riêng rất Mai Thìn, đã tiếp nối được sứ mệnh thi ca mang hơi thở của thời đại, những ý tưởng lạ giàu chất suy tư mà gần gũi đời sống người lao động hơn, sớm hòa vào dòng chảy văn học Việt Nam đương đại sau những năm 75 tiếp nối đến nay.

More...

BẠN BÈ MỘT THUỞ

By Gã Phu Xe bất tử (Mai Thìn)

BẠN BÈ MỘT THUỞ

Lê Hoài Lương

Họ chơi với nhau từ thuở đầu tập tành câu chữ những năm tám mươi thế kỷ trước. Khác nhau ít nhiều về tuổi tác, công việc, hoàn cảnh, nhưng họ giống nhau, gắn với nhau bởi niềm yêu văn chương, và mộng văn chương. Một người đã cầm súng trong kháng chiến, một người mới ra trường, một lang thang kiếm sống bằng cơ bắp. Đầu những năm chín mươi, cả ba đều trình  làng những tác phẩm đầu tiên như những niềm hy vọng cho đất văn chương Bình Định. Ba người đó là Văn Trọng Hùng, Mai Thìn, Quang Vĩnh Khương. Hai mươi năm rồi, giờ xem họ đi tới đâu trên đường đam mê và dâng tặng ấy…

More...

Mai Thìn với hồn cốt quê hương

By Gã Phu Xe bất tử (Mai Thìn)

Mai Thìn với hồn cốt quê hương (Báo Bình Định, Thứ Hai, 14/12/2015, 20:00 (GMT+7)

 

Lâu nay, bạn đọc đã làm quen với Mai Thìn ở các thể loại thơ và nghiên cứu văn hóa dân gian. Mới đây, Mai Thìn đã cho ra mắt tập văn xuôi đầu tiên “Lá rụng buồn tênh” (Nxb Hội Nhà văn, 11.2015), với 30 bài tản văn, bút ký ngồn ngộn vốn sống làng quê.

Vốn liếng của Mai Thìn rất khá - 6 tập thơ và 2 công trình khảo cứu đã in thành sách. Nếu thơ và nghiên cứu văn hóa dân gian (VHDG) của Mai Thìn được biết đến với giọng điệu, tâm tình, phảng phất hình ảnh “làng ven thành”, nồng nàn chất “đồng quê”, thì với “Lá rụng buồn tênh”, cả hai đã cùng bay bổng.

More...

CÓ MỘT “LÀNG VEN THÀNH”

By Gã Phu Xe bất tử (Mai Thìn)

 

CÓ MỘT “LÀNG VEN THÀNH” 

(Đọc sách Làng ven thànhNxb. Khoa học xã hội, 2015 của Mai Thìn)

Trần Xuân Toàn

Cuốn sách Làng ven thành của tác giả Mai Thìn một lần nữa làm thức dậy bao tiềm thức, tình cảm của bất cứ người dân Việt nào về một vùng quê thanh bình muôn thuở của riêng mình.

More...

MAI THÌN NỖI ĐẮM ĐUỐI MÀU XANH

By Gã Phu Xe bất tử (Mai Thìn)

 

(Phải qua: Nhà thơ Vương Trọng, maithin, Huỳnh Thạch Thảo, Nguyễn Hiệp)

MAI THÌN NỖI ĐẮM ĐUỐI MÀU XANH (Theo Báo Văn nghệ số 49, ra ngày 3-12-2011)

Nguyễn Hiệp

 “Hãy dậy đi! Trăng xoã tràn rồi”, tôi cứ hình dung Mai Thìn dùng câu thơ này của mình như một loại mật lệnh, nghe mang máng đâu từ nhân loại xa xưa, đâu từ vỉa tầng lung linh cổ tích: “Mở cửa động vừng!”, đâu từ cái thảng thốt mê lộng có từ thời thi sĩ họ Hàn: “Trăng nằm sóng xoãi trên cành liễu”. Và tôi biết kẻ đắm đuối với ánh trăng xanh huyền hoặc mang tên Mai Thìn kia đã, đang chống đôi bước nạng bằng ánh sáng thơ-trăng trong đến hư ảo, mờ đến như thực tại khác đó mà bước từng bước thật đời, vững chãi, trong cuộc trường chinh đời người. Thơ đối với những con người như vậy đã vượt lên nghiệp, phảng phất thi đạo, một loại thi đạo mà không cao đạo.

More...

ÀNG VEN THÀNH, CÂU CHUYỆN VỀ VĂN HOÁ DÂN GIAN NHƠN THÀNH

By Gã Phu Xe bất tử (Mai Thìn)

  

LÀNG VEN THÀNH, CÂU CHUYỆN VỀ VĂN HOÁ DÂN GIAN NHƠN THÀNH / Bài đã in Báo Bình Định số ra ngày 8.10.2015/

T.s Lê Nhật Ký (Đại học Qui Nhơn)

 

Tên sách “Làng ven thành” (*) dễ khiến cho người đọc lầm tưởng đó là một tiểu thuyết về đề tài nông thôn. Nhưng không, “Làng ven thành” là một công trình sưu tầm, nghiên cứu về văn hoá dân gian Nhơn Thành (Bình Định) của nhà thơ Mai Thìn.

More...

Sách mới

By Gã Phu Xe bất tử (Mai Thìn)

 

Từ 1. 2016 đến 8.07.2016 maithin đã nhận được các tập sách sau đây. Rất cảm ơn các tác giả, NXB và bạn bè đã gửi tặng. Xin trân trọng giới thiệu và chúc mừng!

 

 

  1. Văn nhân Bình Định một góc nhìn. Tập nghiên cứu lý luận phê bình của Lê Hoài Lương, NXB HNV, 2015;
  2. Bến xuân. Tập thơ của Nguyễn Thị Phụng, NXB HNV, 3. 2016.
  3. Thơ ngắn Nguyễn Hoa, NXB Hội Nhà văn, 9.2015;
  4. 72 bài thơ chọn. Tuyển tập Thanh Quê, NXB HNV, 2012;
  5. "Nơi phòng đợi", thơ Thanh Quế, NXB QĐND 2016. gồm 45 bài thơ viết về quê hương xứ sở, tình gia đình, bạn bè, đồng nghiệp, cùng những chiêm nghiệm về thế thái nhân tình... 
  6. Âm vang sóng biển, thơ Văn Vương (Nhơn Lý), NXB HNV 5.2016
  7. Cứ thế mà lớn lên, thơ Lê Văn Hiếu, NXB HNV 2016;
  8. Bước gió truyền kỳ, trường ca Phan Hoàng, NXB HNV, 2016;
  9. Con đường mặt trời, thơ Đinh Hoàng Anh, NXB Văn học, 2008;
  10. Trinh nữ, tập truyện ngắn Đinh thị Hoàng Anh. Là tác phẩm đề cập tới vấn đề trinh tiết và tình yêu của chín người đàn bà.
  11. Hát đi em, thơ PrékiMalamak, NXB VH-VN, 2015;
  12. Được sống và kể lại- tập truyện dài của Trần Luân Tín
  13. Cô gái bán ô màu đỏ - tập truyện ngắn của Trần Minh Hợp ;
  14. Cỏ đồi phương Đông - tập truyện ngắn của Tiểu Quyên  
  15. Phi công Mỹ ở Việt Nam, của Đặng Vương Hưng, NXB CAND, 2015;
  16. Tuyển thơ Quốc Thành, NXB HNV, 2016

More...

QUẢ THỊ QUÊ NHÀ

By Gã Phu Xe bất tử (Mai Thìn)

QUẢ THỊ QUÊ NHÀ

Tản văn của Mai Thìn

 

Chiều nay lên cơ quan, mới mở cửa phòng thì một mùi thơm òa ra, nghe thân thương và dịu mát. Mùi của quê hương tuổi nhỏ có sức quyến lạ thường, làm dịu mát cả không gian đang nắng nóng, dịu cả những căng thẳng, bon chen của một cuộc họp vừa kết thúc.

 

Vứt bỏ mọi thứ, tôi thần người ngắm nghía. Cái màu vàng quen thuộc, mọng tươi đến nõn nà. Cái hương thơm đến lạ, hít hà mãi vẫn không no. Quả thị ai để đó, vừa chất phác, hiền lành, vừa đài cát xinh tươi trong một lớp vỏ tinh tươm mà cũ kỹ của người quê có truyền thống giáo dục và tự trọng. Hương thơm ấy không nói nhiều, mảnh nhẹ và loang loang, nhưng đã gợi cho tôi bao nhiêu là chuyện của quê hương, chuyện của làng của xóm, chuyện của ngày xưa và hôm nay…

 

Là một vùng bán sơn địa, nhiều sỏi đá, nên quê tôi có nhiều thị, mà là những cây thị to, tán rợp một góc làng. Đây thường là nơi tụ tập của đám trẻ con những trưa hè. Tôi còn nhớ cái gốc thị ven đường ở xóm dưới là quán cắt tóc của ông Năm Tân. Nói là quán cho oai, chứ chỉ là một chiếc ghế đẩu nhỏ đặt dưới cây thị sum sê và một hòm đồ nghề đã lên nước đen bóng. Chừng năm ba bữa, quán mới mở một lần, nhưng lần nào cũng đông khách, không đến hớt tóc thì cũng đến để tán chuyện. Rồi gánh đậu hũ, gánh xu xoa của bà Năm Dổng, bà Bảy Đậu chuyên bán, đổi lúa cũng ghé vào. Người hớt tóc cứ hớt, người ăn đậu hũ cứ ăn, nhưng những câu chuyện thì không bao giờ dứt…

 

Nhớ nhất là chuyện “bể dĩa” của đoàn hát bội Phù Cát trong đêm diễn ở quê. Hôm ấy, không biết chuẩn bị thế nào mà đến đoạn Đổng Kim Lân biệt mẹ, diễn viên đóng vai Đổng Kim Lân lại trượt chân ngã lăn trên sân khấu, mặt đập vào thành ghế, máu mũi, máu miệng chảy ròng ròng khiến khán giả một phen hoảng hồn. Cú trượt chân ấy, tìm rõ nguyên nhân là bởi tại cái hột thị đứa nào ăn rồi ném lên sân khấu, để cho Đổng Kim Lân mang hia dẫm phải mà ngã lộn nhào. Nhưng đó cũng chưa là nguyên nhân chính. Nghe bảo hôm sau, ông bầu của đoàn hát còn phát hiện trên trang tổ của đoàn một quả thị mọng vàng, hương thơm ngát. Đây là việc tối kỵ mà các gánh hát bội rất kiêng sợ, bởi tương truyền, tổ hát bội vốn rất mê thị, nhất là mùi hương của nó. Hễ gặp phải hương thị thì cụ mê đến nỗi bỏ bê cả việc hát xướng, làm cho đêm diễn không gãy giáo, đụng gươm thì cũng bươu đầu mẻ trán như trường hợp Đổng Kim Lân trong đêm diễn nói trên. Chính vì thế mà mùi thơm của thị đã thẩm vào văn chương, ca dao, hò vè của vùng đất này:

 

                          Ngó vô vườn thị thơm thanh

                Thị thơm mược thị bụng em thành thời thôi.

          Tuổi nhỏ chúng tôi ắp đầy bao kỷ niệm nơi thôn dã, trong đó có những quả thị vàng tươi. Màu vàng ấy còn là màu của lá chuối già, màu của rơm rạ, quê hương. Những quả thị ủ trong máng rơm chín vàng, dù hương thơm mát lạnh, nhưng vẫn không thoát hết được cái mùi hương rơm rạ cũ. Quả thị trên bàn làm việc của tôi chiều nay quyện lẫn cả hai mùi hương ấy. Vì thế mà ùa về một cảm xúc nhớ quê, nhớ rạ nhớ đồng, nhớ những mùa thị chín…

Mùa thị chín thường cũng là mùa thu hoạch của vụ hè thu. Sắc vàng của thị chín góp thêm cho cái màu vàng gần như chủ đạo của bức tranh quê mùa gặt. Trong góc vườn, lấp loáng những quả thị vàng tươi xen với sắc xanh của lá. Bên dưới là rơm rạ vàng khô, ngoài đồng nhiều thửa ruộng chín tới đang chờ người gặt hái. Trên sân, vàng óng từng đụn lúa vừa tuốt, nằm phơi mình trong nắng. Những chú gà con lon ton nhặt thóc bên mẹ gà vàng mơ… Mùa này, bịch lúa nhà tôi thường ngát hương thị chín. Những quả thị hườm hườm được hái sớm phòng dơi ăn trộm, chỉ một đêm trong bịch lúa là chuyển vàng ươm, toả hương thơm nức mũi. Sáng nào đi học, tôi cũng moi ra vài quả cất trong cặp để mang đến lớp làm quà cho tụi bạn ở thị trấn. Thế là giờ học văn của cô Ái, quả thị đã trở thành đề tài sôi nổi cho cả lớp tham gia…

 

Quả thị chín, cơm vừa thơm vừa ngọt, nhưng lúc còn non thì vỏ xanh, cơm chát, chỉ có hạt thì trắng mềm. Chúng tôi thường đem rửa muối cho bớt chát rồi chia nhau nhai nghe dai dai sừng sực như cùi dừa già vừa khô vừa cứng. Cha tôi vẫn thường nhặt hạt thị rửa sạch, phơi khô, rang cháy, để dành hãm với nước trà mà uống, vì nó có chất bổ dưỡng, kích thích sinh trưởng, chống lão hoá. Hồi ấy trên vách đất đầu hồi, cạnh tấm phản gõ, nơi tôi dùng làm bàn học, thường dán đầy những ngôi sao vàng sậm được xé từ vỏ của quả thị. Vỏ thị dai mềm. Chỉ cần dùng dao khía vào vỏ quả thị chín thành năm cánh, rồi lột ra là có một ngôi sao, dán trên vách đất cho khô, để dành làm vị thuốc trị bệnh giời bò, một bệnh ngoài da rất phổ biến trong đám trẻ con nông thôn thời đó. Chỉ cần gỡ cái “ngôi sao” vỏ thị đã khô đem đốt thành than, hoà với dầu phộng mà bôi lên chỗ giời bò vài lần thì sẽ liền da thắm thịt.

 

Thuở nhỏ ở quê, rất hiếm khi được ăn kem, ăn kẹo như trẻ nhỏ bây giờ. Thường là mùa hè, dăm bữa nửa tháng, nghe tiếng leng keng của ông bán cà – rem, hoặc kẹo kéo từ  đầu thôn là cả đoàn, cả lũ chạy ra nhìn. May hôm nào mẹ cho được đồng bạc cắc thì mua một que mà mút. Trông bọn trẻ nhà giàu mút kem, chúng tôi cũng lấy thị ra mà mút. Chỉ cần bóp cho mềm đều quả thị chín tới rồi cắn một lỗ nhỏ, rồi vừa mút vừa nặn thì cơm thị tuồn vào mồm cũng ngon cũng ngọt, nhưng chắc chắn… không bằng kem!

Lá thị xanh, theo kinh nghiệm dân gian cũng là một vị thuốc, được dùng rất phổ biến. Riêng gỗ thị, được cho là dai nhất trong ba loại cây ở nông thôn miền Trung: “Xoài giòn, mít dẻo, thị dai”. Vì vậy cùng với mít, gỗ thị thường được dùng để chạm trổ các bộ phận tinh xảo trong nhà lá mái, hoặc làm cột, kèo – những bộ phận rường cột trong ngôi nhà. Đặc biệt, lõi của cây thị thường có hình nhân, nên gần đây các tay chơi gỗ lũa còn sưu tầm được nhiều mảnh ván thị có lõi vân vi như những bức tranh nghệ thuật độc đáo của thiên nhiên.

Bọn trẻ chúng tôi thì thường chọn những cành thị vừa tầm để đẽo những cái vụ. Nhờ gỗ thị mềm, dẻo, lại có màu trắng, nên vụ đẽo từ cây thị thường được chuốc cho láng và chạy rất êm.

Suốt bao đời, cây thị gắn bó với người dân quê tôi, nó che chở, bao bọc, điểm tô cho cuộc sống người nông dân đỡ phần vất vả thiếu thốn. Vì thế cây và người, người và cây đã trở thành mối quan hệ láng giềng không thể thiếu trong cuộc mưu sinh.

 

          Hồi kháng chiến chống Pháp, nhiều cây đa và cây thị trong các làng không chỉ là nơi hội họp của tổ chức Việt Minh, mà còn là những trạm canh phòng rất hiệu quả. Ông Trần Đình Trắc [1], quê ở làng Tri Thiện, xã Phước Quang, Tuy Phước kể, làng Tri Thiện của ông có cây thị cao gần 30 mét, và cây đa cầu Tống Võ ở làng An Hòa kế bên từng là những điểm canh phòng của dân quân du kích địa phương thời kháng chiến chống Pháp. Trên mỗi ngọn cây cao nhất làng, người ta treo những cái bồ đan bằng tre, bên ngoài cột những dải vải có màu sắc sặc sỡ dài hàng chục mét để người từ xa có thể nhìn thấy. Hàng ngày cắt đặt một người trèo lên cây cao quan sát, nếu thấy địch đổ quân, đi càn thì liên tục kéo bồ lên, giật cái bồ trên ngọn cây cho mọi người cùng biết. Đó là cách truyền tín hiệu cho các trạm canh phòng khác liên tục báo động về căn cứ của quân ta.

 

          Cây thị làng Tri Thiện giờ vẫn còn, như một chứng nhân của lịch sử, nhưng cây đa cầu Tống Võ ở làng An Hòa thì đã bị bán cho một lò gạch cưa làm củi đun gạch từ lâu.

          Cũng theo ông Trần Đình Trắc và nhiều cụ cao niên khác thì ngày xưa không phải làng nào cũng được trồng thị, mà chỉ những làng tiêu biểu (gần giống như làng văn hóa cấp tỉnh thời nay), nơi có các bậc tiền hiền, hoặc những nhà khoa bảng đỗ đạt cao mới được trồng thị. Không biết điều đó có đúng không mà cây thị trong vườn nhà ông Trùm Sáu ở làng tôi, cách Văn Miếu Bình Định chừng hai trăm mét, từ lâu được xem là cây thị “cao niên” nhất làng. Cây thị ở thành Cha, xã Nhơn Lộc, huyện An Nhơn cũng đã trên 300 năm tuổi; rồi cây thị ở đình Cẩm Thượng, Tp. Quy Nhơn, một di tích đang được đề nghị xếp hạng di tích văn hóa cấp tỉnh cũng được mọi người tôn vinh. Và cây thị làng Tri Thiện của cụ Trần Đình Trắc, thuở xưa chắc chắn đã chứng kiến bao thăng trầm của thị tứ Nước Mặn, một thị tứ tụ hội khá đông thương nhân người Hoa, và là nơi “đô hội” của Bình Định thuở ấy.

          Ngày nay, trên cả tỉnh Bình Định những cây thị như trên chỉ còn đếm trên đầu ngón tay, nhưng chuyện kể về nó, ký ức quanh nó thì vẫn luôn được dân gian nhắc tới như những bậc “Tiền hiền” của làng của xã.   

          Cây thị đã hoá thân thành những tên đất, tên làng, những địa danh đi vào sử sách: Xóm Cây Thị, chợ Cây Thị, cầu Cây Thị… Riêng nhà thờ Gò Thị (còn có tên gọi Xuân Phương) ở Phước Sơn, Tuy Phước từ lâu đã là một nhà thờ lớn. Cùng với nhà thờ Nước Mặn, nhà thờ Gò Thị là một trong những nhà thờ lớn của cả khu vực miền Trung. Hồi ấy hẳn phải có một hay nhiều cây thị to toả bóng mát cho nhà thờ, cho những giáo dân đi lễ lấy chỗ mà trú nắng, trú mưa. Những cây thị ấy hẳn phải gắn bó, gần gũi như một biểu trưng cho cả vùng mới được lấy tên mà đặt cho nhà thờ.

          Giờ đây, mỗi lần đi qua nhà thờ Gò Thị, lòng tôi chợt ngậm ngùi khi chẳng thấy bóng thị đâu. Tâm trạng ấy cũng giống như khi đứng trước hiên nhà dõi về góc vườn nơi chái tây. Cây thị ngày xưa vẫn đứng đó, reo vui cùng gió, rộn tiếng chim kêu… giờ đã không còn nữa.

Hiện nay ở Bình Định, số cây thị “lên lão” chỉ đếm trên đầu ngón tay, như cây thị trên 500 tuổi ở gần thành Cha, Nhơn Lộc, An Nhơn, hay cây thị ở đình Cẩm Thượng (số 354 Trần Hưng Đạo, Tp. Quy Nhơn), và một số cây còn rải rác ở các huyện xa… Phần lớn thị đã bị chặt, bị cưa và đốn ngã không thương tiếc.

Cũng giống như những người già của quê, lần lượt ra đi theo quy luật của lẽ tử sinh, nhưng thị lại khác con người. Nó cứ bị mất dần, mất dần mà không hề được tái sinh theo qui luật ấy. Tưởng đã không còn nữa trong tâm trí xô bồ và quyết liệt của cuộc mưu sinh thời hiện đại, nhưng, may sao chiều nay… Cảm ơn em, quả thị quê nhà!                                              

M.T                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                         

c trò và là con rể của cụ Hà Trì Trần Đình Tân (1893 – 1979), người làng Cảnh Vân, Tuy Phước, đỗ cử nhân năm Ất Mão (1915)  đời Duy Tân, làm Thương tá Tỉnh vụ tỉnh Ninh Thuận, hàm Tùng Tam phẩm (3-2)

More...

Tiễn con gái đi làm

By Gã Phu Xe bất tử (Mai Thìn)

Tiễn con gái đi làm

Mai Thìn    

 

Chiều nay ba tiễn con lên tàu

đến một nơi năng động nhất

đông dân nhất

và có nhiều cái nhất nữa

để bắt đầu cho hành trình làm người lớn

để bắt đầu cho cuộc sống tự thân.

 

 

nghĩa là từ nay con không còn phụ thuộc vào ba mẹ nữa, ngày cuối tháng không còn gọi về bằng cái giọng bỗng dưng nhỏ nhẹ dễ thương hơn mọi bận. và rất hiếm những hôm cả nhà được mong ngóng đón con, nấu cho con những món ngon ưa thích.

 

chiều nay tiễn con lên tàu

đến một nơi có nhiều cái nhất

lòng ba chợt âu lo dẫu suốt chặng đường qua con luôn học giỏi, có nhiều bạn tốt và có những quyết định được ba luôn ủng hộ, dù chưa thực sự yên tâm.

 

những ước mơ của con nơi trời Âu trời Á khác với cánh diều thuở nhỏ làng ta, nhưng cũng có thể bay cao có thể rơi vào tâm bão. lòng người là cỗ máy siêu nhiên, ba muốn con đừng quên sợi dây nguồn từ mái nhà ta.

 

rồi đây con có thể đi xa

đến những nơi có nhiều hơn cái nhất

nhưng đừng quên

thế giới này có mái nhà ta.

2.10.2015

More...