MAI TRƯỜNG SƠN 15.5.2011

By Gã Phu Xe bất tử (Mai Thìn)

MAI TRƯỜNG SƠN                                

Truyện ngắn Trần Quang Lộc

           Hoa mai nở sớm hoặc muộn tuỳ thuộc vào thời tiết của những ngày cuối đông và còn phụ thuộc vào thời gian lặt lá nữa.Có năm mới hai chín ba mươi tết hoa mai đã bắt đầu tàn. Cũng có năm đến mùng một mùng hai Tết hoa mai vẫn chưa kịp nở. Riêng cây mai vàng trước cửa nhà tôi năm nào cũng  vậy: lác đác ra hoa đúng vào những ngày giáp Tết nở rộ trong đêm giao thừa mùi hương thanh khiết ngọt ngào lan tỏa cả một vùng. Thêm một đặc điểm nữa cây mai nhà tôi ra hoa suốt cả mùa xuân. Thường vào khoảng cuối tháng giêng âm lịch mai các vùng khác đã lụi tàn dồn sức cho cây đâm chồi nẩy lộc riêng cây mai nhà tôi vẫn tiếp tục nở hoa cánh vẫn to khỏe vàng rực và hương thơm ngan ngát. Dân chơi mai sành điệu cho là giống mai quý hiếm và nhiều người xin hạt về nhân giống nhưng họ bị thất bại vì những cây mai thế hệ sau không có những đặc điểm của cây mai nhà tôi. Rốt cuộc họ bảo cây mai được trồng chỗ đất tốt nên có những tính cách độc đáo mai các vùng khác không theo kịp.

          Tôi quý cây mai không chỉ riêng hoa mà cả cái thế cây nữa. Dáng mai thanh thoát uyển chuyển như dáng vẻ của một cô gái dịu dàng quý phái. Rảnh rỗi tôi dành nhiều thời gian cho việc chăm bón tưới tiêu do vậy mà cây mai nhà tôi phát triển xanh tươi hơn hẳn mai của các nhà vườn chung quanh. Cây mai vàng đã trở thành người bạn thân thiết của tôi không biết từ lúc nào.

          Mùa hè năm ấy do công tác đột xuất nên tôi phải tạm xa nhà hơn 3 tháng. Trước khi ra đi tôi căn dặn Ngọc Yến em gái tôi phải thay tôi chăm sóc cây mai chu đáo. Tôi rất tin Ngọc Yến vì nó cũng quý hoa mai như tôi vậy.

          Xong công việc tôi trở lại nhà. Về đến cổng ngõ tôi bàng hoàng thảng thốt khi trông thấy cây mai vàng đã trụi lá thân và cành cây xám xịt như một bộ xương khô. Quên cả chuyển đồ vào nhà tôi đứng thẩn thờ bên gốc mai trong tâm trạng bùi ngùi luyến tiếc. Em tôi cố giải thích để tôi tin rằng nó đã chăm sóc hết mực nhưng cây mai vẫn cứ tiếp tục lụi tàn và cuối cùng... hết phương cứu chữa!

          Cuối thu nhìn thân mai khẳn khiu giữa tiết trời giá rét mà thấy nhói lòng. Tôi chợt nảy ra ý định đào lấy gốc mai đẽo gọt thành món đồ mỹ nghệ để làm vật kỷ niệm. Tôi rất có khả năng về lĩnh vực này. Nghĩ vậy nên anh em tôi mang cuốc xẻng ra bắt đầu đào bới. Nhờ lớp đất tơi xốp nên công việc của chúng tôi không mấy khó khăn mặc dù rễ mai cứ ăn sâu vào lòng đất ẩm. Sau một lúc làm việc khẩn trương gốc mai vàng bỗng bật rễ lôi theo một khúc xương xám xịt! chúng tôi định thần nhìn kỹ đó là một khúc xương người loại xương cánh tay nhỏ nhắn. Việc xảy ra bất ngờ nên chúng tôi nhìn nhau kinh ngạc! Ngọc Yến vội bỏ xẻng đứng lên tuyên bố sẽ không tiếp tục giúp tôi được nữa. Riêng tôi vốn có óc tò mò và làm bất cứ việc gì cũng đến nơi đến chốn. Tôi không thể bỏ cuộc giữa chừng. Sau  khi nhổ bật gốc mai để dạt qua một bên tôi tiếp tục thận trọng đưa từng nhát xẻng vào lớp đất tơi xốp và tự nghĩ mình đang làm một việc thiêng liêng đối với người đã khuất mặc dù chưa biết người ấy là ai. Sau nửa tiếng đồng hồ khai quật một bộ xương người còn nguyên vẹn hiện ra trước mắt chúng tôi. Là một giáo viên sinh học Ngọc Yến khẳng định đây là hài cốt của một phụ nữ có thể một cô gái còn đang rất trẻ. Đang phân vân trước lời phỏng đoán bỗng Ngọc Yến cho biết có một vật gì đó lấp lánh trên khúc xương cổ của hài cốt. Tôi vội cuối xuống quan sát và phát hiện ra một sợi dây chuyền vàng tây mặt hình vuông. Tôi thận trọng tháo sợi dây chuyền vàng ra khỏi bộ xương lau sạch xem kỹ. Trên mặt vuông của sợi dây có chạm nổi hai chữ "Xuân Mai". Lúc này tôi có cơ sở để tin rằng đây là hài cốt của một cô gái mang tên Xuân Mai và hình như có một sợi dây thiện cảm nào đó đang nối liền giữa tôi với người con gái đã khuất.

          Để tránh mọi phiền phức có thê xảy ra tôi cho người đi mời đại diện chính quyền địa phương đến chứng kiến việc làm của chúng tôi. Sau khi quan sát hiện trường ông ta giải thích trước giải phóng đây là vùng đất hoang rải rác mồ vô chủ. Sau giải phóng dân các nơi tụ tập đến san bằng để xây nhà cửa vườn tược. Vì vậy mồ mả bị mất sạch. Nếu cái nào còn sót lại thuộc khuôn viên của ai thì hộ đó phải có nghĩa vụ bảo quản hoặc tự cải táng.

          Để làm tròn bổn phận tôi lo mua sắm đầy đủ các dụng cụ cần thiết cho việc cải táng rồi thuê người chuyển hài cốt đến góc vườn nhà tôi một vị trí yên tĩnh sạch sẽ thoáng mát. Việc cải táng tuy đơn giản nhưng trang nghiêm đủ các nghi lễ cần thiết. Ba hôm sau tôi thuê thợ vôi đến xây ngôi mộ giản đơn mà xinh xắn và cho khắc dòng chữ: "Phần mộ: Xuân Mai cải táng ngày ... tháng ... năm ...". Riêng sợi dây chuyền vàng tôi lau rửa sạch sẽ cất kỹ làm vật lưu niệm. Một cây mai vàng khoẻ khoắn cũng được thế vào vị trí của cây mai trước đó.

          Tôi nghĩ bụng mọi việc rồi sẽ đi vào lãng quên. Sau chiến tranh kẻ còn người mất ai quan tâm đến một nấm mồ vô chủ?! Nơi cõi vĩnh hằng người con gái vắn số chắc không còn buồn tủi vì đã có mồ yên mả đẹp hương khói quanh năm. Nghĩ vậy nên lòng tôi rất thanh thản!

          Cũng vào năm ấy để hưởng ứng phong trào làm kinh tế VAC của Chính phủ tôi thuê người trồng mai trên khu vườn nhà rộng trên một sào. Sau ba năm khu vườn nhà đã có trên ngàn gốc mai đủ cỡ đủ loại; trong chậu có ngoài đất cũng có. Hằng năm vào những ngày giáp tết mai nhà và các vườn bên cạnh nở vàng rực hương thơm lan tỏa. Dân từ các nơi đổ xô đến mua hoa sỉ có và lẻ cũng có xe cộ dập dìu   làng tôi vui như ngày hội lâu dần thành lệ. Dân làng tôi quen gọi: Hội mai xuân.

          Vào một buổi sáng đầu xuân đẹp trời tôi đang đọc báo trong phòng khách bỗng  nghe có tiếng người nói thì thào phía trước sân. Qua khung cửa sổ tôi bắt gặp  hai người đàn bà tuổi trên bốn mươi. Một người có dáng vẻ giàu sang quý phái khuôn mặt thanh tú. Người còn lại nước da hơi xanh nhưng khuôn mặt rất có duyên. Hình như họ đang trao đổi một việc gì đó rất hệ trọng. Người đàn bà có nước da xanh nói giọng Bắc. Chị ta vừa quan sát khu vực chung quanh sân nhà vừa nói những câu gì đó nghe không rõ. Người còn lại hình như đang mang một tâm trạng lo lắng buồn rầu. Dạo đó khu vực nơi tôi cư trú tuần nào cũng có nhân viên của Sở đất đai Sở Xây dựng hoặc của Công ty công chính đến ngắm nghía đo đạc vẽ sơ đồ. Vì vậy sự hiện diện của hai người đàn bà không làm cho tôi quan tâm. Lại có tiếng reo mừng từ ngoài sân vọng vào buộc tôi phải hạ tờ báo xuống lắng nghe:

          - Xuân Mai- Người đàn bà xứ Bắc nói giọng run run có lẽ vì quá xúc động - em đã tìm ra cái mốc rồi. Đây nầy là cây duối ngày xưa. Tuy đã bị phạt bằng nhưng còn để lại dấu vết. Nếu không xem xét kỹ khó mà phát hiện ra chị à.

          Người đàn bà giàu sang bỗng trở nên nhanh nhẹn nét mặt tươi vui.

          Người xứ Bắc nói giọng tự tin:

          - Em nhớ rất kỹ chị à. Từ gốc duối này đi về hướng tây khoảng sáu bước sẽ gặp mục tiêu. Miệng nói chân bước rồi đột nhiên dừng lại - Đúng là chỗ này rồi chị ạ!

          Hai người đàn bà đứng lặng người bên gốc mai vàng trước cửa phòng tôi đang thời nổ rộ!

          Linh cảm cho biết có một việc gì đó hệ trọng sắp xảy ra và có ít nhiều liên quan đến tôi. Tôi khẽ khàng mở cửa rời khỏi phòng. Nghe tiếng động nhẹ hai người đàn bà quay lại bối rối chào tôi trên nét mặt còn đọng lại một niềm vui lẫn nét buồn. Nhờ mấy câu giới thiệu tôi được biết: Người đàn bà có nước da tai tái tên Quỳnh Mai quê xứ Bắc. Người còn lại tên Xuân Mai người miền Nam.

         -Chị em tôi vào sân nhà anh nhưng chưa xin phép mong anh thứ lỗi.

          Như để thanh thủ thời gian Quỳnh Mai vội đi thẳng vào vấn đề:

          - Chị em tôi đang đi tìm hài cốt của một người bạn đã hy sinh cách đây gần hai lăm năm. Với từng ấy năm cảnh vật quá nhiều thay đổi. Chị em tôi cứ quanh quẫn nơi đây đã non tuần lễ. Hôm nay mới tìm được nơi yên nghỉ của Tiểu Mai đồng đội của tôi ngày xưa.

          Mặc dù đã đoán biết được phần nào sự việc nhưng tôi vẫn rất nhạc nhiên vì hai người đàn bà lại trùng tên với người đã khuất. Hơn nữa cái tên Tiểu Mai nào đó càng làm cho tôi thắc mắc khó hiểu.

          Để tránh sự nhầm lẫn đáng tiếc có thể xảy ra tôi thuật lại nguyên nhân cải táng một hài cốt về việc phát hiện sợi dây chuyền vàng rồi khẳng định người con gái vắn số có tên Xuân Mai chứ không phải Tiểu Mai  như Quỳnh Mai đã nói. Xuân Mai nhìn tôi bằng  đội mắt mọng nước:

          - Hài cốt anh đã cải táng đúng là của em tôi là đồng đội của Quỳnh Mai trong chiến tranh. Chúng tôi vô cùng cảm động về tấm lòng nhân hậu của anh đã giúp em tôi có chỗ nằm yên ổn.

          Tôi đưa hai người đàn bà ra sau vườn viếng mộ trong tâm trạng băn khoăn khó hiểu. Ngay trưa hôm đó hai người đàn bà cho tôi biết vài nét về Tiểu Mai.

          - Chúng tôi là hai chị em song sinh giống nhau như hai giọt nước. Tôi tên Xuân Mai em tôi tên Tiểu Mai. Năm mười bảy tuổi chị em tôi thi đỗ Tú Tài phần hai. Ba tôi thưởng cho mỗi đứa một sợi dây chuyền bằng vàng tây mặt dây chuyền có khắc tên mỗi đứa. Cũng trong năm đó Tiểu Mai lên Sài Gòn theo học Văn Khoa tôi tình nguyện ở lại giúp mẹ trông nom một cửa hàng lớn trong thành phố. Trước ngày Tiểu Mai lên Sài Gòn chúng tôi  trao đổi dây chuyền cho nhau. Điều đó không có gì là lạ hồi còn bé chúng tôi thường trao đổi đồ chơi cho nhau. Cuối năm thứ ba Văn Khoa Tiểu Mai tham gia tích cực vào các cuộc biểu tình của sinh viên chống chế độ Sài Gòn. Sau đó bị cảnh sát truy nã Tiểu Mai chạy ra vùng giải phóng tham gia hoạt động cách mạng. Từ đó Tiểu Mai không trở về nữa.

          Quỳnh Mai tiếp lời Xuân Mai bằng giọng sôi nổi đôi lúc cũng đượm buồn:

          - Năm ấy đơn vị thanh niên xung phong chúng tôi được bổ sung mười sáu đoàn viên thay chỗ cho những đồng đội vừa mới hy sinh. Họ đến từ khắp mọi miền đất nước. Trong số mười sáu lính mới có Tiểu Mai. Tiểu Mai rất thông minh vui tính có học thức và rất dễ làm quen. Chỉ trong tuần lễ đầu Tiểu Mai đã chiếm được cảm tình của chị em chúng tôi đến nổi lãnh đạo đoàn phải nhìn Tiểu Mai bằng đôi mắt tị hiềm. Do cùng tên chủ yếu là cùng chung tính cách nên tôi và Tiểu Mai rất thân nhau. Tình bạn đã giúp chúng tôi vơi bớt nổi nhớ nhà tăng thêm sức mạnh để vượt qua những khó khăn gian khổ của thời chiến tranh. Có những đêm trên đường đi chiến dịch chúng tôi ngồi cạnh nhau vừa trông ánh sao trời vừa kể cho nhau  nghe về quãng đời tuổi thơ về những kỷ niệm buồn vui của thời con gái nhiều mơ mộng. Đôi lúc chúng tôi rất tự hào vì đã  cống hiến tuổi thanh xuân cho lý tưởng. Nhưng cũng có khi lại cảm thấy ngậm ngùi cho số phận vì đã trót sinh ra trong thời ly loạn. Bọn con gái Trường Sơn chúng tôi hồi ấy rất dễ buồn mà cũng dễ vui anh ạ!

          Quỳnh Mai yên lặng một lúc rồi kể tiếp bằng giọng đượm buồn:

          - Một đêm giáp tết tôi và Tiểu Mai được lệnh đưa cánh quân của ta về một huyện đồng bằng chuẩn bị cho cuộc tổng tiến công mùa xuân. Sau khi đưa cánh quân đến vị trí tập kết an toàn chúng tôi lập tức quay về đơn vị để nhận nhiệm vụ mới. Phần vì đêm cuối năm trời tối như mực phần vì kiệt sức do nhiều đêm thức trắng chúng tôi sơ ý lọt vào ổ phục kích của một tiểu đội địa phương quân. Ngay từ loạt đạn đầu của địch Tiểu Mai đã bị thương ở đùi và ở ngực. Lòng căm phẫn dâng cao tột độ khiến tôi chống trả quyết liệt để trả thù đồng đội. Mặc dù đang bị thương nặng Tiểu Mai vẫn nắm chắc tay súng lia từng loạt đạn căm thù về phía giặc. Tiểu Mai bỗng nói với tôi giọng đứt quãng: "Mày phải khẩn trương trở về đơn vị tao đủ sức chống trả bọn chúng". Tôi nhất quyết ở lại thề sống chết bên nhau. Tiểu Mai phản đối kịch liệt: "Mày không nghe tao tự vận bây giờ". Sống với nhau lâu ngày nên rất hiểu tính cách của Tiểu Mai nó rất quyết đoán và đã nói là làm. Vì vậy tôi cố nén thương đau để lại tất cả những băng đạn tôi mang theo rồi vội quay vào bóng đêm vừa tìm phương án tối ưu giải thoát đồng đội.

          Thoát khỏi tầm súng carbine của địch tôi dừng lại cũng vừa đúng lúc tiếng súng im bặt. Chắc anh thưa biết bọn lính địa phương nhát như thỏ đế nghe tiếng súng AK đã hoảng hồn. Tôi quyết định quay lại để tìm đồng đội. Đến chỗ cũ tôi bắt gặp Tiểu Mai đang ngồi dựa lưng vào một mô đất đầu ngoẹo sang một bên nhưng vẫn nắm chắc súng trong tư thế sẵn sàng chiến đấu. Không chậm trễ một giây tôi vội xốc Tiểu Mai lên vai băng qua cánh đồng. Đến một miền đất trống và tương đối an toàn tôi đặt Tiểu Mai dựa vào gốc duối. Quỳnh Mai nhìn ra góc sân - Kia gốc duối tuy đã bị phạt bằng nhưng vẫn còn vết tích. Lúc đó Tiểu Mai tỉnh lại hỏi bằng giọng mệt nhọc: "Quỳnh Mai đấy phải không?". Rồi nó cầm lấy tay tôi giọng như một cơn gió thoảng: ‘Mình thấy khó thở lắm. Hình như đạn trúng phổi. Chắc không qua khỏi. Mày hãy để tao nằm lại đây. Cầu mong cho mày bình yên. Cho tao gửi lời chia tay các bạn". Tôi ôm chầm lấy Tiểu Mai khóc nức nở. Một lúc sau nó đi luôn. Lúc này trời sắp rạng đông không khéo sẽ bị lộ. Tôi vội tìm một chỗ đất tơi xốp cách gốc duối không xa lấy mũi súng làm xà beng lấy bàn tay làm xuổng khẩn trương đào một cái hố vừa đủ chỗ cho Tiểu Mai. Chôn cất bạn xong trời cũng vừa rạng sáng. Tôi bùi ngùi đứng lên từ biệt người bạn đã từng chia ngọt xẻ bùi trong những năm tháng ở Trường Sơn đầy gian khổ. Sau ngày thống nhất đất nước tôi được chuyển về làm hộ lý tại một Trạm quân y rồi được phục viên với tấm giấy chứng nhận thương binh loại hai trên bốn. Trở về cuộc sống đời thường với vô vàn khó khăn nối tiếp nhau chồng chất hoàn cảnh neo đơn vết thương cũ cứ trở trời lại nhức nhối. Vì vậy nhiều lúc nhớ Tiểu Mai da diết nhưng cũng đành chịu. Tôi lấy làm hối tiếc. Lẽ ra tôi phải đi tìm đồng đội của mình trong những ngày mới vừa giải phóng. Tôi có lỗi! -Quỳnh Mai rút khăn tay lau mấy giọt nước mắt tiếp:

          - Một hôm tôi tình  cờ nhận ra hình ảnh của Tiểu Mai trên màn ảnh truyền hình Việt Nam trong mục "Nhắn tìm đồng đội". Hôm sau tôi thu xếp việc nhà rồi vội vã vào Nam lần thao địa chỉ tìm đến nhà Xuân Mai hóa ra chị Xuân Mai cũng có cuộc sống đơn chiếc như tôi. Chị em khẩn trương về đây tìm em tìm đồng đội.

          Tôi an ủi Quỳnh Mai:

          - Tuy có muộn màng nhưng Quỳnh Mai đi tìm đồng đội của mình bằng trái tim bằng tất cả tấm lòng thủy chung nhân hậu. Thời bây giờ không ít người nhờ sự hy sinh của đồng đội mới được lành lặn trở về với cuộc sống giàu sang sung sướng nhưng họ quay lưng lại với tất cả!

          Tôi xoay câu chuyện sang hướng khác:

          - Xuân Mai quyết định chuyển hài cốt của em về nghĩa trang liệt sĩ?.

          Xuân Mai lắc đầu.

          - Không em tôi chưa được công nhận liệt sĩ!.

          Tôi không giấu được sự ngạc nhiên sau câu nói của Xuân Mai Quỳnh Mai giải thích:

          - Sau khi Tiểu Mai hy sinh không lâu đơn vị thanh niên xung phong của chúng tôi cũng bị xóa sổ trong một trận máy bay B52 ném bom rải thảm lúc đang làm nhiệm vụ bảo vệ tuyến đường Trường Sơn. Vì vậy ...

          Xuân Mai vội cắt lời :

          - Thật lòng tôi không bận tâm lắm về việc này. Nay tìm được hài cốt của em là tôi mãn nguyện .

          Sau câu nói của Xuân Mai tôi suy nghĩ đắn đo trong giây lát rồi đưa ra ý kiến:

          - Đã từ lâu tôi xem Tiểu Mai như em gái nên thường xuyên hương khói tu tảo phần mộ hàng năm. Nếu như Xuân Mai chuyển em về nghĩa trang liệt sĩ tôi không dám cản. Nhưng đưa về để gần quê quán thì Xuân Mai và Quỳnh Mai nên để Tiểu Mai nằm lại ở đây. Hằng năm cứ vào hai bảy tết Xuân Mai và Quỳnh Mai hãy trở lại đây để cùng tôi tổ chức ngày giỗ Tiểu Mai. Như vậy cũng trọng tình trọn nghĩa. Tiểu Mai chắc cũng vui lòng. Mong Xuân Mai và Quỳnh Mau hãy suy nghĩ kỹ. Sự nhiệt tình của tôi xuất phát từ lòng quý trọng....

          Ý kiến bất ngờ của tôi hình như đã làm cho hai người đàn bà rất xúc động họ nhìn nhau rươm rướm nước mắt và không nói được lời nào. Tôi lấy sợi dây chuyền đã cất giữ gần 3 năm đưa cho Xuân Mai:

          - Đây là di vật cuối cùng của Tiểu Mai. Xuân Mai hãy giữ lấy.

          Nhìn kỷ vật ngày xưa Xuân Mai không cầm được nước mắt. Một lúc sau Xuân mai tháo sợi dây chuyền đang đeo đem so với sợi dây tôi mới đưa hai sợi dây hoàn toàn giống nhau chỉ khác một chữ trên mặt hình vuông.. Không hiểu sao Xuân Mai trao lại sợi dây chuyền cho tôi và nói:

          - Mặc dù nó mang tên tôi nhưng nó là di vật cuối cùng của Tiểu Mai. Anh đã cất giữ nó gần ba năm giờ đây anh vui lòng tiếp tục giữ lại để làm vật kỷ niệm. Anh rất nhân hậu. Tình cảm của anh dành cho chị em tôi vô cùng lớn. Không biết ngày nào chúng tôi mới đền đáp được.

          Từ đó hàng năm cứ vào hai mươi bảy tết Xuân Mai và Quỳnh Mai trở lại nhà tôi dự ngày giỗ của Tiểu Mai. Sau đó tham gia hội mai xuân diễn ra trên làng tôi. Đặc  biệt Ngọc Yến rất quý Xuân Mai và Quỳnh Mai. Có năm nó giữ họ lại cho đến mùng tám tết mới chịu chia tay

                                                                                                                                  TQL.

LỜI BÌNH CỦA NGUYỄN ĐỨC THIỆN về truyện “ Mai Trường sơn” 14.5.11

 

Mai Trường sơn” của Trần Quang Lộc là một truyện ngắn thật giản dị. Giản dị đến mức làm cho người ta tưởng đó là chuyện được tác giả sắp xếp cho nó diễn ra đúng trình tự phải có. Chuyện xảy ra trong một gia đình thích chơi hoa kiểng. Trong vườn nhà anh có một cây mai  của rừng Trường Sơn thật đẹp và sung mãn. Hoa nở đầy đặn đúng ngày và nở lâu trong những ngày xuân đến. Một ngày kia cây mai bỗng chết khô. Cũng vì tiếc cây mai quý người chủ cây mai đào lên tính làm thành một cây kiểng khô. Không ngờ bên dưới gốc mai có một bộ xương người. Chỉ khác bộ xương ấy có danh tính nhờ vào mặt chiếc dây truyền vàng được chôn theo người. Thời gian sau có người tìm đến. Cuộc gặp gỡ giữa người chủ vườn mai với những vị khách lạ đã diễn ra. Nhờ đó mà chúng ta biết người nằm dưới gốc mai kia là một nữ thanh niên xung phong đã hy sinh trong cuộc chiến đấu bảo vệ một cung đường Trường Sơn.

 

Chuyện giản dị như vậy nhưng nó đã làm người đọc xúc động bởi hiện thực cuộc sống. Ngày xưa khi đất nước còn chiến tranh có biết bao nhiêu con người đã tham gia chiến đấu một cách tự nguyện. Đánh giặc giống như một lẽ tự nhiên của con người Việt Nam. Trong cuộc chiến đấu ấy sự hy sinh của bất cứ ai cũng rất tự nhiên theo đúng quy luật khắc nghiệt của chiến tranh. Cô gái hy sinh được chôn dưới gốc mai kia cũng chịu sự khắc nghiệt ấy. Sự hy sinh ấy còn cao hơn khi chiến tranh chấm dứt bao nhiêu liệt sĩ đã được ghi công trạng còn cô vẫn chưa vì phải chịu đựng một sự thật hiển nhiên khác đó là đơn vị bị xóa sổ không ai làm những thủ tục cần thiết ghi công trạng cho cô. Bản thân cô chịu đựng tới mấy lần hy sinh hy sinh thân xác hy sinh công trạng và rất có thể còn bị bỏ quên trong rừng nếu không có một người yêu cây kiểng những đồng đội và người nhà của cô tìm đến.

 

Cuộc chiến đấu giữ nước của Việt Nam chúng ta là như vậy. Chúng ta đã làm rất nhiều việc vì những người hôm qua ngã xuống. Nhưng dù có làm bao nhiêu thì vẫn chưa đủ. Những người đã được đón về nghĩa trang liệt sĩ những người đã được ghi nhận công trạng những người đã đựợc vinh danh thành tích. Nhưng vẫn còn những người hôm nay còn nằm đâu đó trong Trường Sơn bạt ngàn cây xanh và nắng gió. Cám ơn người yêu cây kiểng cảm ơn người như Quỳnh Mai Tiểu Mai- những nhân vật trong truyện ngắn “ Mai Trường Sơn” của Trần Quang Lộc- đã làm những công việc thật ý nghĩa cho những người hy sinh trong chiến tranh. Mai trong rừng Trường Sơn dẫu không ai vặt lá lúc cuối năm nhưng nhất định vẫn sẽ trổ bông khi mùa xuân về. Nhưng Người hy sinh vì đất nước sẽ mãi mãi sống trong lòng Tổ Quốc Việt Nam. Chúng ta vinh danh họ bằng niềm tiếc thương vô hạn và nhớ đến họ mỗi khi đất nước vào xuân. Những ngừơi hy sinh như Tiểu Mai hẳn sẽ ấm lòng khi có bạn chiến đấu Quỳnh Mai có chị em Xuân Mai có người yêu cây kiểng chăm sóc phần mộ cho mình. Dẫu sao đó cũng là hành động làm ấm lòng những liệt sĩ của chúng ta../.

 

NĐT

 

 

Lời bình truyện ngắn Mai Trường Sơn của Trần Quang Lộc/15.5.2011

Nguyễn Thu Hiền

 

Đọc Mai Trường Sơn của Trần Quang Lộc ở trang đầu tiên cứ tưởng tác giả đang viết tản văn về hoa mai với những con chữ mượt mà đầy cảm xúc. Câu chuyện bắt đầu có ngã rẽ khi nhân vật tôi đi vắng và cây mai bị héo rũ. Vì gắn bó với cây mai quý nhân vật tôi quyết định đào gốc để đẽo gọt thành món đồ mỹ nghệ làm kỷ niệm. Thế rồi không ngờ lại thấy một bộ hài cốt dưới gốc mai. Nhờ chiếc dây chuyền tên cô gái được phỏng đoán. Và thật bất ngờ tên cô gái lại là Mai.

Bằng nghĩa cử của một con người nhân vật tôi đã chu tất lo liệu và hương khói cho ngôi mộ của người con gái ấy. Có những chi tiết không có trong truyện đã làm xúc động độc giả ấy là khi đối diện với bộ hài cốt không thấy nhân vật tôi lo sợ chối bỏ hãi hùng… như thường thấy trong thực tế. Thậm chí “Hình như có một sợi dây thiện cảm nào đó đang nối liền giữa tôi với người con gái đã khuất”. Rồi đến khi chu tất việc cải táng cũng không thấy nhân vật tôi so đo tính toán mình được gì mất gì. Đó gần như là việc phải làm mà lương tâm thôi thúc chứ không có tính toán vụ lợi. Đây là suy nghĩ đầy nhân ái cao cả “Sau chiến tranh kẻ còn người mất ai quan tâm đến một nấm mồ vô chủ?! Nơi cõi vĩnh hằng người con gái vắn số chắc không còn buồn tủi vì đã có mồ yên mả đẹp hương khói quanh năm. Nghĩ vậy nên lòng tôi rất thanh thản! ».

Cuối cùng như một cái kết có hậu dù chưa thật tròn trịa viên mãn vì người hy sinh nằm dưới mộ chưa được phong liệt sĩ nhưng cô gái đã tìm được người thân và đồng đội của mình sau bao nhiêu năm. Có lẽ đoạn cuối của tác phẩm sẽ khiến người đọc nhớ lâu bởi sự trớ trêu của nhân tình thế thái và tấm lòng của những con người với nhau. Hai người đàn bà - một là chị gái một là đồng đội của người đã mất trở về sau chiến tranh thì sống cảnh đơn chiếc không có một tổ ấm gia đình bình dị như tất cả những người đàn bà khác. Còn người đã mất – tìm lại được tên - Tiểu Mai cũng chưa được ghi nhận là liệt sĩ. Xuân Mai nói : « Thật lòng tôi không bận tâm lắm về việc này. Nay tìm được hài cốt của em là tôi mãn nguyện”. Vậy đấy mọi danh lợi giờ đây không phải là thứ quý giá với họ - với những người còn sống nữa. Chắc rằng sau khi quyết định để lại Tiểu Mai nơi này và cứ 27 tết mọi người lại về đây để giỗ Tiểu Mai và dự hội mai xuân thì chẳng ai có ý định chứng thực cho người đã mất là liệt sĩ mọi thứ dường như vẫn chẳng có gì thay đổi. Chỉ còn lại tấm gương dũng cảm hi sinh của người đã mất là còn mãi và sự thanh thản sẽ là nguồn an ủi sẽ nhắc nhở với chúng ta: được sống đã là hạnh phúc hãy biết nâng niu và trân trọng nó. Mọi bon chen xô bồ mọi đau khổ rồi cũng kết thúc…Như thứ hoa mai của mùa xuân cứ qua 3 mùa với vẻ thô mộc giản dị chả ai để ý tới cho đến xuân lại âm thầm kết nụ nở hoa làm mọi người nhận ra sự luân chuyển của thời gian và ngỡ ngàng trong sắc vàng rực rỡ. Chợt câu thơ: Những bông hoa vẫn cứ nở đúng mùa của Nguyễn Trọng Tạo vang lên nhà thơ viết vậy không chỉ để nói về hoa mà nói về tất cả những gì đã và đang tồn tại như sự bất di bất dịch của mọi giá trị.

Truyện ngắn Mai Trường Sơn dù không có nhiều kịch tính nhưng Trần Quang Lộc đã để lại dư âm về tấm lòng nhân hậu tốt đẹp của mỗi con người đây là điều ít thấy trong văn học hiện nay.

 

Nguyễn Thu Hiền

Báo điện tử Tổ Quốc

Số 20 ngõ 2 Hoa Lư Hai Bà Trưng Hà Nội

 

 

More...

Phạm Văn Ký - một người con Bình Định một số phận văn chương “mất nơi ở”

By Gã Phu Xe bất tử (Mai Thìn)

Phạm Văn Ký - một số phận văn chương “mất nơi ở”

 Rất ít điều về ông được biết đến ở nơi ông đã sinh ra và lớn lên. Với một tài năng văn học có những thành tựu đáng kể như ông (bốn tiểu thuyết được nhà Gallimard xuất bản cùng với giải thưởng lớn của Viện Hàn lâm Pháp là mơ ước không chỉ của một nhà văn nhập cư bình thường mà còn là khát khao của nhiều nhà văn Pháp) ông đáng được biết đến nhớ đến nhiều hơn thế.


Theo ký ức của nhà văn Phạm Hổ - người em trai thứ hai của ông trong một gia đình đông đến 13 anh em - ông Ký là một người lặng lẽ và khép kín. Ông viết khá nhiều. Những tác phẩm của ông mà gia đình được biết và còn giữ được bằng tiếng Việt có: Kiếm hoa (tiểu thuyết) Con đường thiên lý số 1 (tiểu thuyết - chưa xuất bản) Đường về nước (tập thơ); bằng tiếng Pháp: Một tiếng trên đường (tập thơ) Thành Ốc (kịch) Huế vĩnh cửu (tập thơ) Vợ chàng Trương (truyện) Người sẽ ngự trị (tiểu thuyết) Những đôi mắt giận dữ (tiểu thuyết - tiếng Pháp) Anh em ruột thịt (tiểu thuyết) Người làm nên các vì sao (tiểu thuyết) Mất nơi ở (tiểu thuyết) Hồi ức một hoạn quan (tiểu thuyết) Thơ trên lụa (tập thơ) Sự thách thức của VN (bút ký - chưa xuất bản).


Trước khi ra đi khỏi VN vào năm 1939 Phạm Văn Ký từng là chủ bút của một số tờ báo ở Bình Định Huế Sài Gòn như Impartial (Vô Tư) Gazette de Hue; ông cũng là người đầu tiên viết lời giới thiệu cho tập Gái quê của Hàn Mặc Tử bản in năm 1936.


Trước đó Hàn Mặc Tử vẫn làm thơ theo lối thơ Đường đến Gái quê ông chuyển hẳn sang một con đường thơ khác và theo nhà thơ Tế Hanh “chính sự cổ vũ nhiệt tình của Phạm Văn Ký trong lời tựa đầu tiên ấy đã góp phần khẳng định việc Hàn Mặc Tử gia nhập trường phái thơ mới là đúng lúc”.


Con đường mưu sinh và sáng tạo của một nhà văn nhập cư trong một thế giới có thể coi là cởi mở và cũng cực kỳ xa lạ như con đường của Phạm Văn Ký trong nền văn học Pháp là một câu chuyện rất dài và có nhiều uẩn khúc. Nhà văn Phạm Sông Hồng - con gái của nhà văn Phạm Hổ - rất thận trọng và nhẹ nhàng nói:


“Bác tôi có quá nhiều nỗi buồn và càng buồn hơn vì ông không nói ra được. Năm 1970 khi cùng phái đoàn Việt kiều yêu nước về thăm quê lần đầu tiên sau 31 năm xa cách ông đã rất muốn ở lại nhưng Thủ tướng Phạm Văn Đồng một người bạn thân của ông (thú thật là tôi cũng không biết hai ông thân nhau từ bao giờ nhưng tôi biết chắc họ cực kỳ yêu mến nhau vẫn giữ liên lạc thường xuyên với nhau và gia đình tôi được bác Thủ tướng quí mến cũng là nhờ tình thân từ ông bác ruột) đã nói với ông: “Anh ở nước ngoài thì có lợi hơn cho VN”.

Có lẽ bác tôi hiểu rằng Thủ tướng Phạm Văn Đồng muốn có một “đại sứ văn hóa” của VN như bác tôi ở nước ngoài. Ông đã quay về Pháp và sống đến cuối đời ở đó không còn dịp nào về VN nữa”.


Nhà văn Phạm Hổ trong lời bạt cho cuốn Đường về quê xuất bản tại VN 1993 sau khi Phạm Văn Ký mất cho biết: “Từ sau chuyến về thăm Tổ quốc đến lúc mất các NXB có tên tuổi đã không chịu in cho anh tôi một quyển sách nào. Ngay tập tiểu thuyết mà NXB Gallimard đã ký hợp đồng với anh tôi trước lúc về nước lúc sang lại NXB cũng tìm cớ để xóa hợp đồng”. Ông Hổ cũng dẫn lời ông Võ Văn Sung cựu đại sứ VN tại Pháp:


“Tôi hiểu và thương anh Ký lắm thương như một người anh ruột. Anh là một con người chân thật hết sức trong sáng. Anh Ký tâm sự với tôi: “Tôi thấy tôi có lỗi quá tôi chưa đóng góp được gì cho đất nước cả”. Anh thèm được đóng góp như để bù lại những năm tháng sống xa quê hương... nhưng tính anh khí khái chỉ muốn tự mình lo liệu tự mình đóng góp không muốn nhờ vào ai. Trong lúc đó thì Sự thách thức của VN các NXB đều gửi trả lại anh và khuyên anh đừng viết như thế nữa. Thế là muốn đóng góp mà không được. Nỗi buồn riêng của anh tôi hiểu rất rõ là như vậy”.

Tuổi già ông sống trong lặng lẽ và ra đi mà không có một người thân nào bên cạnh. Người vợ Đức của ông - một diễn viên điện ảnh khá tên tuổi - đã chia tay với ông trong tình bạn họ không có con cái.

Phạm Văn Ký có một sức viết rất dồi dào nhà văn Phạm Sông Hồng nói: “Một người bạn Pháp của gia đình tôi chuyên nghiên cứu về các tác phẩm của bác tôi nói rằng ông còn rất nhiều bản thảo đã in và chưa in hiện được lưu trữ tại thư viện Arsenal ở Paris. Gia đình đã rất cố gắng liên hệ để có thể mang được số bản thảo đó về VN nhưng đáng buồn là chúng tôi không chứng minh được quan hệ huyết thống của mình với bác tôi.



Trong khi giấy tờ của bác tôi ở Pháp rất đầy đủ thì 12 người em còn lại ở VN của ông - kể cả cha tôi và nhạc sĩ Phạm Thế Mỹ em út của ông cũng không còn ai giữ được giấy tờ gì chứng minh họ là con đẻ của ông bà nội tôi cả.

Chiến tranh thiên tai những cuộc di chuyển vất vả đã làm thất lạc hết giấy tờ trong khi phía Pháp chỉ cần những giấy tờ hợp pháp tối thiểu. Ba tôi đang ốm nặng. Ông vẫn không bao giờ hết buồn vì chưa mang được di cảo của bác tôi về VN”.

Theo Tuổi trẻ

 

Mất nơi ở là cuốn tiểu thuyết được viết hoàn toàn bằng tiếng Pháp về nước Nhật trong những năm cuối thế kỉ XIX. Đại uý Hizen nhận nhiệm vụ chỉ huy việc xây dựng một đường tàu hỏa cùng với những người kỹ sư nước ngoài. Thế rồi người vợ của anh đã bị một trong những người kỹ sư đó quyến rũ con anh đi theo Thiên Chúa giáo. Bản thân anh quân hàm và chức vụ cũng rơi vào tay người em ruột Âu hóa… Hizen đã mất đi tất cả những thứ quan trọng của cuộc đời mình chỉ trong một thời gian ngắn. Và hơn thế nữa anh đã mất đi đất nước của tâm hồn minh mất đi nơi trú ngụ của thế giới tinh thần và trở thành một kẻ cô đơn lạc lõng và bơ vơ ngay trên mảnh đất quê hương. 

 

More...

"Tôi đã viết Giấc mơ hoa ban trắng như thế”

By Gã Phu Xe bất tử (Mai Thìn)

"Tôi đã viết Giấc mơ hoa ban trắng như thế”

 

Bài thơ Giấc mơ hoa ban trắng nhà thơ Mai Thìn viết về các chiến sĩ Điện Biên. Hình ảnh hoa ban trắng rợn ngợp khắp các ngả đường Tây Bắc đã được ví như các liệt sĩ Điện Biên thức dậy mang mùa xuân về với quê hương. Bài thơ đã được đăng trên tạp chí Văn nghệ quân đội và Báo Văn nghệ (Hội Nhà văn Việt Nam). Nhân kỷ niệm 57 năm Ngày chiến thắng Điện Biên Phủ (7.5.1954-7.5-2011) PV Báo Bình Định đã gặp gỡ tác giả bài thơ.

 

Nhà thơ Mai Thìn tâm sự:

 Giữa tháng 3.2009 tôi tham gia chuyến đi thực tế do Hội nhà báo tỉnh tổ chức và được tham quan một số di tích lịch sử ở vùng Tây Bắc như: Hòa Bình Sơn La Điện Biên Lai Châu Yên Bái Vĩnh Phú… Lần đầu tiên tôi được đến với Nhà ngục Sơn La cây đào Tô Hiệu; rồi Điện Biên Phủ với những địa danh đã đi vào sử sách như: Đồi A1 Cánh đồng Mường Thanh Hầm Đờ-Cát dòng sông Nậm Rốm đèo Pha Đin đèo Lũng Lô cùng những thắng cảnh: sân mây Sa Pa sông Đà và đặc biệt là rừng hoa ban mùa xuân trùng trùng trắng muốt…

 

Đêm ở lại Điện Biên sau cuộc gặp mặt với một số anh em văn nghệ sĩ địa phương tôi biết được về những ngôi mộ không tên ở nghĩa trang liệt sĩ và rất nhiều hài cốt vẫn còn rải rác trong thành phố do sau khi an táng bị cơn lũ lớn cuốn trôi. Trong đầu tôi luôn cảm thấy hình ảnh các anh vẫn còn đâu đây họ lại tiếp tục chịu nhiều mất mát khổ đau dù đã hơn nửa thế kỷ trôi qua dù  nỗi hy sinh to lớn của các anh đã được cả thế giới ngưỡng mộ.

Và thế là bài thơ Giấc mơ hoa ban trắng  ra đời.

 

GIẤC MƠ HOA BAN TRẮNG

 

biết bao nhiêu liệt sĩ Điện Biên

các anh nằm. không. đứng ở khắp nơi

quá mỏi suốt 55 năm trong những ngôi mộ có tên và không tên

 

súng vẫn trên vai cơm vắt vẫn bên người

các anh đứng dọc sông Đà Nậm Tao Nậm Rốm…

nhìn nước xuôi thương nhớ bấy quê nhà

 

dẫu đời lính thì phải vì Tổ quốc

nhưng tóc các anh xanh giờ đã trắng bên đồi

mơ ước một lần về phép

thăm mẹ già đi dưới hàng cau

 

55 năm. như đã lâu rồi

viên đạn bắn các anh nằm quên trong bảo tàng chứng tích

máu thịt con người đâu cũng đỏ mà thôi

 

dọc Tây Bắc đi tuyến đường nào cũng thấy

các anh giăng dây kéo pháo qua đèo 

trắng và trắng từng cánh hoa bạc trắng 

bời bời

một giấc mơ.

 

MAI THÌN

 Nguồn: Báo Bình Định số ra ngày thứ Bảy 7/5/2011

More...

Nhà thơ Đinh Lăng & bạn bè tại tư gia

By Gã Phu Xe bất tử (Mai Thìn)

More...

BẾN NƯỚC KINH CÙNG/ 3925/ 7/5/2011

By Gã Phu Xe bất tử (Mai Thìn)

BẾN NƯỚC KINH CÙNG/ 3925/ 7/5/2011

Truyện ngắn của Nguyễn Lập Em                        

 Ấy là nơi con sông Cái chia nhánh chảy vào. Con kinh chảy hoài mải miết vào đồng sâu. Con kinh chảy đến doi đất ngang nhà cô Hai Cà tưởng cùng nhưng không. Dòng nước hiền lành lại mở lối tiếp tục băng đồng len lách quanh co mãi cho đến khi nối được cùng sông Cái ở một nhánh khác. Vậy mà người ta cứ gọi xứ ấy là xứ Kinh Cùng. Cô Hai Cà vẫn nhớ lời của cha cô ông Ba Thời giảng giải:

                - Có lúc nó cùng như vậy nên người ta mới lấy đó mà đặt tên. Tạo hóa sắp bày khéo lắm! Cùng sao được mà cùng!

               Cô Hai Cà nghĩ là cha cô nói đúng; Nếu không con kinh này đâu có tạo thành khúc quanh để chảy xuống cuối vàm ngang qua nhà anh Út Chót. Cô tin vào bàn tay của tạo hóa như cha của cô đã tin. Tạo hóa kỳ diệu đã cho cô và con Kinh Cùng của cô mỗi năm có một mùa bằng lăng loài cây mọc hai bên bờ kinh nở bông tím ngát. Lòng cô mãi thương cảm khi vào lúc tiết trời ấy mỗi sáng cô nhìn thấy cánh bằng lăng đã nở chiều qua rơi rụng xuống dòng kinh bồng bềnh theo con nước lớn đổ vào cuối vàm; Rồi vào buổi xế trưa cô lại nhìn thấy cũng chính những cánh hoa tàn phai ấy theo con nước ròng trôi ngược ra sông Cái Lớn. Quê xứ của cô vốn đã hiu quạnh và buồn; Thêm cảnh tượng ấy càng thêm buồn man mác. Vì sao quê của cô Hai Cà buồn? Ở đây xóm làng thưa thớt xa xa mới có một hai căn nhà cất cặp bờ kinh. Vài vườn cây trái được cư dân trồng ở sân trước hè sau; Còn lại quanh nơi ấy bao la đồng ruộng. Ở đây lúc này chưa có đường bộ; Vả chăng đường bộ ở đây không thuận tiện bằng đường sông. Phương tiện đi lại duy nhất ở xứ này lúc bấy giờ là xuồng ghe di chuyển trên kinh rạch. Mỗi nhà tự lập ra bến nước dành cho sinh hoạt gia đình và giao tiếp với thôn lân. Trong hoàn cảnh như vậy có lẽ người ta sẽ thấy quạnh hiu hơn khi nhà ít người vắng khách.

                  - Xứ mình buồn tênh! Đàn địch ca hát mà khuây lãng!

                  Ông Ba Thời giải thích về ngón đàn điệu nghệ của ông khi ông đưa vợ con theo đất ruộng về nơi này định cư lập nghiệp. Trong hành trang của gia đình mang theo trong cuộc di cư người ta thấy ông mãi nâng niu cây đàn phím lõm loại nhạc cụ mà ông quen chơi qua các điệu hò bản vắn sáu câu vọng cổ với bè bạn giang hồ. Cây đàn phím lõm với sáu câu vọng cổ mới chơi nghe vui nhưng khi người ta chơi lâu hoặc quen nghe thì thấy nó buồn da diết. Cha con của cô Hai Cà càng cảm thấy như vậy nhất là từ khi mẹ cô Hai Cà từ trần vì bạo bệnh; Bà đã bỏ lại trần gian mái ấm gia đình cùng với nỗi buồn sâu lắng của ba cha con ông Ba Thời con gái Hai Cà và con trai Uùt Thế.

                 Thời gian dần qua. Bấy giờ Uùt Thế đã mười sau tuổi. Cô Hai Cà đã ở tuổi hai mươi. Nỗi buồn mất người thân của cha con ông Ba Thời cũng dần nguôi ngoai theo năm tháng. Oâng Ba Thời không đi bước nữa. Oâng lấy việc gieo trồng ruộng rẫy và nuôi dạy các con lớn khôn làm trọng mà nương tựa sống qua ngày. Những lúc nông nhàn rảnh việc hoặc giỗ đám của gia đình hay của láng giềng ông ba Thời thường đem cây đàn phím lõm của ông đến chơi đánh đàn ca hát cùng anh em hàng xóm. Kẻ đàn người hát dễ kết tri âm. Ông Ba Thời kết  thầy trò với Uùt Chót là duyên cầm ca như vậy. Những lúc trà dư tửu hậu thầy đàn trò hát rất xứng cặp xứng đôi; Hoặc là những lúc rảnh việc hay chợt buồn ông Ba Thời  bảo Uùt Thế bơi xuồng xuống vàm đón Uùt Chót lên nhà ông  để cùng ông đờn ca xướng hát. Khi ấy không gian của nhà ông thật ấm áp vui vầy. Đó là cảnh nhà yên ấm; Ở nhà trên có ông Ba Thời Uùt Chót Uùt Thế và có thể có vài người láng giềng nữa đàn ca; Dưới chái bếp cô Hai Cà đôi  khi có thêm một vài cô gái hàng xóm nữa lục đục nấu cháo gà cháo vịt cháo lòng heo… để lát nữa bưng lên cho cả hội đàn ca ở nhà trên ăn uống nhấm nháp cùng rượu đế. Niềm vui của cô Hai Cà là được làm việc ấy. Cô cảm thấy như vậy nhà của cha con cô đỡ quạnh vắng hơn. Trong khi đó bài ca vọng cổ qua giọng ca của anh Uùt Chót mùi thật là mùi. Giọng ca của anh Uùt Chót càng mùi  thì cô Hai Cà càng thấy thích và thấy vui. Những lúc cha cô bận việc đồng áng   hơi lâu ông không tổ chức đàn ca tại nhà nên anh Uùt Chót không có dịp đến chơi thì  cô Hai Cà lại thấy buồn buồn nỗi buồn không tên không tuổi.

                 Cứ như vậy cô Hai Cà thấy đời đáng yêu và đáng sống. Đôi khi cô nghĩ vu vơ rồi tự thấy thẹn thùa. Cứ như vậy mỗi lần ra bếùn nước trước nhà nhìn những cánh bằng lăng trôi giạt trên dòng kinh cô Hai Cà thấy bâng khuâng buồn thấy lòng như mong đợi. Cô Hai Cà biết mình mong đợi một chiếc xuồng quen.

                                                                     * 

               “Tính …tính…tang…tang…tình…” Cô Hai Cà nghe tiếng đàn dạo của cha mình. Giọng ca của anh Uùt Chót cất lên:

               “Ngọc Hà ơi! Mắt của nàng đã gây nên sóng gió… để khổ đau tràn ngập mấy tâm tư…Ngọc Hà ơi! Thôi từ đây gió đưa vầng mây đến phương trời xa gót chân quan hà nghìn thu vĩnh cách. Anh nói không thành câu nuốt lệ thầm câu tiễn biệt người yêu… cất bước theo chồng!”

                 Cô Hai Cà nghe Uùt Chót ngân dài bốn chữ “ Cất bước theo chồng” thật là mùi rệu. Không gian như lắng xuống. Khoảng lặng và ngân rung của câu ca ở khúc này như dài rộng ra. Cô Hai Cà bùi ngùi nhìn ánh lửa trong bếp bập bùng. Trời à! Nếu cô là Ngọc Hà trong bài ca ấy cô sẽ khóc sẽ buồn không biết đến bao lâu. Cô Hai chờ đợi tiếng anh Uùt Chót tiếp theo bằng câu vọng cổ quen thuộc mà anh đã tập với  cha của cô suốt mấy tối rồi. Bỗng cô Hai Cà nghe tiếng trầm đục của cha mình:

                 - Giỏi! Uùt Chót! Mầy ca mùi không thua gì kép Bảy Cao hồi đó đâu!

                  - Thiệt hông chú Ba?

                  - Thiệt!

                  Im lặng. Cô Hai Cà nghe tiếng củi nổ tí tách trong  bếp lò. Giọng anh Uùt Chót bỗng hạ xuống thấp như thì thầm tâm sự:

                  - Chú Ba thấy con… coi có được hông?

                  Cô Hai Cà nghe hồi hộp lạ thường. Mặt của cô bỗng dưng đỏ rựng. Tiếng ông Ba Thời nạt nhẹ.

                  - Thằng này! Mày hỏi chú   được với không được là sao?

                  Uùt Chót nói giọng có vẻ ngượng ngập:

                - Thì chú nhìn coi … con có xấu trai lắm hông?

                - Chi vậy mày nhỏ?

                Cô Hai Cà chợt thấy tức cười nhưng nụ cười của cô chỉ hiện lên trong ánh mắt. Nếu như người ta thương mình thì là người ta thương tánh nết với giọng ca mùi mẩn của mình chớ ai mà so đo chuyện đẹp trai hay xấu trai bao giờ! Cô Hai vừa nghĩ vừa nhón tay giở nắp vung nồi nước luộc gà đang sôi ùng ục. Cô nghe giọng nói của anh Uùt Chót hơi khang khác.

                - Thì… chú liệu dùm con coi…!

                -  Liệu coi cái gì mày nhỏ! Tiếng của ông Ba Thời gắt nhẹ.

                - Thì chú coi… con như vầy mà có theo gánh hát được hông?

                Tiếng ông Ba Thời sửng sốt:

                -  Trời đất! Mày… tính đi làm kép hát hả?

                - Dạ!

                Cô Hai Cà nghe như có gì đó vừa đổ vỡ. Cái nắp vung trên tay của cô vuột xuống trên miệng nồi đánh xoảng. Tiếng khua ấy có thể ở nhà trên cha của cô nghe thấy nhưng anh Uùt Chót thì không.  Cô biết anh Uùt vẫn cứ vô tình! Cô Hai Cà ngồi phịch xuống vạt tre gần bếp bần thần. Lâu lắm cô Hai Cà mới nghe tiếng của cha mình nói rất chậm rãi ở nhà trên:

               - Đừng! Uùt Chót! Cái nghiệp cầm ca bạc lắm! Tao sợ…

                Uùt Chót hơi nôn nóng:

               - Sợ gì chú Ba?

               Lại im lặng. Cô Hai Cà nghe thời gian dằng dặc trôi qua.

               - Tao sợ… đường đời nhiều nỗi… Chỉ e… mày nhỏ chẳng giữ được mình!

               Cô Hai Cà nghe tiếng anh Uùt Chót cười lớn:

               - Chú Ba nói kỳ chưa? Con sẽ là thằng Uùt Chót của cái xứ Kinh Cùng này cho đến bạc đầu mà!

               Tiếng ông Ba Thời ậm ừ:

               - Tại tao lo xa… quá xa…! Tao già rồi! Người già nào cũng vậy! Mày đừng lấy đó mà mích lòng nghen! Thôi! Mày lấy giọng lại đi! Tao rao trước! Mày tập ca lại bài hồi nãy nghen!

               “ Tình… tang… tính… tình… tình…tang…” Cô Hai Cà nghe tiếng đàn của cha mình sao mà rời rạc và buồn bã. Tại tiếng nhạc buồn hay buồn là tiếng của lòng cô. Cô Hai Cà lại nghe giọng của Uùt Chót cất lên:

              - “ Ngọc Hà ơi! …”

          

                                                                          *

 

              Ba mươi năm. Tất cả vẫn như in trong ký ức cô Hai Cà buổi tối mà anh Uùt Chót mơ làm kép hát. Trong cuộc đời mỗi người cũng có lúc tâm hồn của người ta có những phút giây bay bổng như vậy nhưng qua giây phút ấy rồi thôi. Anh Uùt Chót khác hơn. Anh đã lao theo và sống trọn vẹn với những gì mà anh mơ ước. Đúng như vậy! Sau đó ít lâu gánh hát của ông bầu Tèo về hát cúng đình rồi đi cùng  với sự ra đi của anh Uùt Chót. Út Thế bảo với cha mình và chị Hai Cà là  anh Uùt Chót có rủ cậu cùng đi nhưng cậu đã từ chối; Bởi vì cậu biết rằng việc ruộng rẫy của gia đình vẫn cần có cậu hơn. Vả lại tuy là mê coi hát cải lương nhưng trong thâm tâm mình cậu thấy ngán cái cảnh lang bạt kỳ hồ mà cậu vẫn thường nghe mấy đào kép trong gánh hát của ông bầu Tèo than thở và ca cẩm. Ừ! Đi giang hồ ai muốn như vậy cũng phải có máu  mới đi được. Cô Hai Cà nghe em trai nói thở dài. Cô mừng vì cậu Út Thế đã không nghe theo lời của anh Ú Chót rủ rê. Nhưng… cô buồn vì anh Uùt Chót đã bỏ xứ mà đi lại không nói với cô dù nửa lời từ giã. Anh không biết đến cái tình của cô đã dành cho anh. Anh không biết khi vắng anh cô sẽ nhớ sẽ buồn…

              Đằng đẵng bao năm anh Uùt Chót ra đi mà không thấy trở về. Gánh hát của ông bầu Tèo mấy mùa cúng đình ở làng này đều trở lại Kinh Cùng; Chỉ bóng dáng của anh Uùt Chót là bặt tăm nhàn cá. Cô Hai Cà ngày này qua ngày khác ngóng ra bến nước trước cửa nhà mình mong đợi hình bóng của anh Uùt Chót. Cô mường tượng là anh Uùt Chót sẽ bước lên bờ với gương mặt tươi cười rạng rỡ như xưa. Anh sẽ nói với cô Hai Cà với kiểu nói hơi pha chút màu sắc của tuồng hát cải lương vì anh đã có thời làm kép hát mà! “ Thôi! Từ đây tôi đã giũ áo phong sương dừng bước giang hồ về đây tìm kiếm người mà tôi đã nhớ thương”. Aáy vẫn chỉ là nỗi niềm ước mơ thầm lặng của cô Hai Cà. Cuộc đời  đã diễn ra khác hẳn. Oâng bầu Tèo mấy lần đưa gánh hát về hát cúng đình ở làng Kinh Cùng đã kể lại với Ba Thế đủ điều. Ba Thế nghe xong giấu biệt không dám kểâ lại cho chị Hai Cà nghe gì cả. Câu chuyện kể rằng: Anh Uùt Chót sau này đã thay đổi nhiều lắm! Anh đã đổi tên Uùt Chót thành tên Trường Giang. Anh tập ca hát tập diễn tuồng trong gánh hát của ông bầu Tèo chưa được trọn năm. Vai diễn của anh vừa quen nước quen cái thì anh đã bỏ gánh hát của ông bầu Tèo theo cô đào nổi danh Mộng Ngọc qua hát cho gánh khác. Họ kép hát Trường Giang và cô đào Mộng Ngọc sống chung với nhau như vợ như chồng dù tuổi đời của kép Trường Giang kém hơn cô đào Mộng Ngọc nhiều lắm. Uùt Thế nghe nói cô đào Mộng Ngọc rất mê kép Trường Giang. Cô buộc bầu gánh phải cho Trường Giang đóng cặp đôi với cô. Có lẽ trước tiên cô muốn nâng đỡ kép trẻ Trường Giang; Sau nữa cô muốn thỏa tình với anh cả trên sân khấu.

                Thành danh nghệ sĩ Trường Giang là chuyện không quá khó khăn đối với chàng trai của xứ Kinh Cùng. Các bầu gánh hát đua nhau mời mọc chiều chuộng anh. Các hãng dĩa nhựa thu thanh sẵn sàng trả thù lao rất cao để giọng ca của anh có trong danh sách ca cổ nhạc của họ để họ chào mời thính giả. Anh Uùt Chót kép Trường Giang một thời là giọng ca ăn khách ở các đoàn hát lớn ở Sài Gòn đi lưu diễn khắp cả miền Tây. Cô đào Mộng Ngọc sau đó lần hồi xuống sắc qua thời. Kép trẻ Trường Giang bỏ người bạn tình già của mình chạy theo cô đào khác trẻ đẹp và duyên dáng hơn đào Kim Ba. Anh và đào Kim Ba lại đóng cặp đôi cùng đứng hát chung. Họ lại sống với nhau như chồng như vợ. Út Thế nghe ông bầu Tèo kể và nhận xét: “ Rồi tụi nó lại cũng bỏ nhau cho mà xem!”. Út Thế nghe ông bầu Tèo kể mà thấy ngán ngẫm và thấy buồn. Cậu xét lại mình. Cũng may là cậu giờ đây đã có vợ con rồi. Vợ chồng cậu và các con cùng sống với cha cậu và chị Hai Cà trong một mái gia đình yên ấm. Cậu hài lòng với niềm hạnh phúc đời thường của mình chẳng ao ước được những gì gọi là vẻ vang danh tiếng như là anh Uùt Chót. Cậu chỉ thương xót cho chị Hai Cà. Chị đã sang tuổi “ băm” rồi mà bao nhiêu đám đến dạm hỏi chị làm vợ chị vẫn  lắc đầu chẳng ưng lấy ai cả. Uùt Thế không ngờ mối tình thưở xuân xanh mà Uùt Chót gieo cho chị Hai Cà tưởng nhẹ nhàng mà lại sâu nặng đến vậy. Như vậy mới biết cái lưới tình thật không chừng đỗi mỏng manh với người này mà quá bền chặt với người kia! Có phải vì tình cảm của chị Hai Cà là mối tình chân chất  của người thôn nữ quê mùa? Còn tình cảm của anh Uùt Chót trải qua là tình trên sân khấu mà người ta quen như biểu diễn? Uùt Thế càng nghĩ càng thấy thương chị của mình. Vậy mà chị Hai Cà vẫn cứ mong ngóng đợi chờ vẫn cứ thương tưởng hình bóng của anh lực điền Uùt Chót ngày xưa.

                                                                          * 

                Ba mươi năm. Người xưa của cô Hai Cà đã lầm lũi trở về. Cô Hai Cà vẫn còn ở vậy. Con Kinh Cùng vẫn ngày đêm với con nước lớn ròng với bao mùa bông bằng lăng tím nở để rụng rơi theo dòng những cánh hoa màu tím tàn phai trôi giạt. Bến nước của nhà cô Hai Cà vẫn vậy. Anh Uùt Chót giờ đây chợt thấy thân thương và quen thuộc như  thưở nào thưở một thời trai trẻ của anh. Ba mươi năm anh đã rời xa nơi này để sống  đời làm kép hát có lúc cuộc sống không phải là của mình có lúc không giữ được lòng mình. Cho đến bây giờ anh mới nhận ra điều đó! Giờ đây Uùt Chót hay nghệ sĩ Trường Giang đang hết thời còn nghiện ngập. Giờ đây anh liêu xiêu tìm về bến nước quê nhà tìm về để gặp lại người khán giả đầøu tiên trong cuộc đời mình cô Hai Cà người của thưở anh còn ca hát tập tành với  lão nông lại là thầy đàn Ba Thời   ở cái xứ Kinh Cùng heo hút này.

             Giờ đây có lần anh Uùt Chót đến tụ điểm ca hát của trung tâm văn hóa huyện xin được ca vài bản để góp vui và kiếm tiền. Anh xưng tên nghệ sĩ Trường Giang tên tuổi của một thời vàng son của anh. Người phụ trách chương trình bảo rằng  họ đã từng mến mộ giọng ca và tên tuổi của anh nhưng họ không có chỗ để xếp anh vào chương trình biểu diễn. Anh tự thấy hổ thẹn vì biết người ấy từ chối  anh do bộ dạng quá ư tiều tụy vì nghiện ngập á phiện của anh. Anh thấy oán giận mình hơn là oán giận thái độ phủ phàng của người phụ trách đội văn nghệ huyện. Anh ta còn bảo nếu như anh Uùt Chót cần tiền thì  độâi văn nghệ của anh ta sẽ giúp cho chút ít; Chứ họ không thể để cho giọng ca rè của anh Uùt Chót  phá hỏng chương trình ca hát của họ đêm này. Sỉ nhục! Anh Uùt Chót  đã nguyền rủa chính mình. Đáng đời mày chưa tên nghệ sĩ hết thời nghiện ngập! Vậy mà ngày xưa ngày mà mày còn ở trên đỉnh vinh quang mày đã từng là thằng bội bạc! Mày đã phụ rẫy ai? Con Kinh Cùng xứ này đã làm chứng chuyện này!

               Đó là dịp cúng đình của làng này vẫn với gánh hát nghèo của ông bầu Tèo gần mấy mươi năm về trước. Oâng bầu Tèo nghe tin có nghệ sĩ Trường Giang về quê giỗ quảy liền cho người bơi xuồng đi rước anh. Anh Uùt Chót đã cười lớn nói với người đi rước mình.

            - Ông bầu Tèo tưởng tao còn là thằng Uùt Chót hồi nẳm đi hát kiếm cơm không dám hỏi tiền cữ sao? Về đi! Nói lại với ổng là tao mắc nhậu!

             Ông thầy đàn Ba Thời đã già cũng có mặt trong bữa giỗ ấy vỗ vai người học trò cũ của mình:

             - Uùt Chót! Mày không thích ông bầu Tèo thì mày hãy vì tao đi! Mày ra hát giúp cho gánh của ổng để bầu đoàn của ổng kiếm chút ít cơm gạo mà sống qua ngày. Một đêm này thôi chớ mấy đêm mà mày lo! Chẳng qua là ổng muốn mượn tên tuổi của mày để quảng cáo đặng bán vé cho sung. Với lại dịp này cũng là dịp cúng đình xứ mình có mày về hát giúp hội cũng làm cho bà con xứ mình nở mày nở mặt!

          Uùt Chót đã giãy nảy:

          - Trời! Chú biểu ngặt   không? Con bây giờ mà đi hát cho gánh của ông bầu Tèo hát đám cúng đám cưới… sợ thiên hạ đồn rùm beng   con bị  bể tiếng chết! Thôi! Nhậu đi chú Ba ơi! Đời còn thiếu gì chuyện để lo!

           Oâng thầy đàn Ba Thời chợt buồn. Oâng ăn uống qua loa rồi ra về. Cây đàn phím lõm mà ông cầm theo định đờn ca cho vui lại được cầm về không được khảy một tiếng nào. Lão nông Ba Thời lặng lẽ buồn. Oâng đã quá già ; Người già vốn kiệm lời. Oâng đã không nói những điều muốn nói cùng Uùt Chót. Hôm ấy Uùt Chót không xem việc của ông thầy đàn của mình ngày xưa buồn bỏ về làm trọng. Anh nhậu nhẹt xong lại  ra đi rời khỏi xứ Kinh Cùng cũng chẳng ghé qua để gửi người thầy đàn cũ của mình lấy một lời chào. Trong cách cư xử ấy của anh Uùt Chót đối với ông Ba Thời có chút gì  đó vô tình và bạc bẽo. Từ ấy đến nay đã hơn cả chục năm rồi. Khi anh Uùt Chót nghĩ lại biết rằng mình cư xử như vậy là có lỗi với thầy thì người thầy đàn năm xưa đã không còn sống trên cõi đời này nữa. Giờ đây anh ân hận cũng đã quá muộn màng! Anh muốn đến nhà thầy Ba Thời để thắp một nén nhang tạ tội cùng thầy…

              Cây đàn phím lõm của thầy Ba Thời còn treo trên vách kia. Di ảnh của thầy Ba Thời với ánh mắt khoan dung như dành riêng cho Uùt Chót. Cô Hai Cà vẫn ở vậy. Cô đã tròm trèm ở tuổi năm mươi. Cô đang bước vào tuổi già như anh; Chỉ ánh mắt của cô nhìn anh vẫn như ánh mắt của cô hồi thời còn son trẻ. Đó là ánh mắt ngợi khen anh thay cho những tràng vỗ tay tán thưởng như năm xưa khi anh hạ giọng xuống xề. Anh Uùt Chót nhớ…Năm xưa cô Hai Cà đã ngồi đó ở góc bộ ván ngựa này nghe cha cô đàn và anh hát sau khi nấu xong nồi cháo vịt bưng lên. Bây giờ cô Hai Cà vẫn ngồi đó nhìn anh lặng lẽ. Anh ngồi xuống ở đầu này của bộ ván ngựa. Anh muốn nói gì đó với cô nhưng không biết bắt đầøu từ chỗ nào:

              - Tới bây giờ sao cô Hai còn ở vậy?

              Im lặng. Anh Uùt Chót  đọc trong ánh mắt của cô Hai Cà một lời trách nhẹ nhàng. Anh biết mình đã có lỗi với cô Hai Cà suốt một đời người suốt mấy mươi năm. Vậy mà cô Hai cà vẫn ngồi đó nhìn anh với cái nhìn khích lệ như năm xưa cô đã dành cho anh lúc anh còn tập hát tập đàn. Không! Anh không còn xứng đáng với tình cảm bao dung và trong sáng của cô Hai Cà. Anh Uùt Chót đứng lên. Giọng nói của cô Hai Cà vẫn cứ nhẹ nhàng:

            - Gấp gì mà về anh Uùt?

            - Bến nước Kinh Cùng này bây giờ còn có chỗ cho tôi sao?

 NLE

LỜI BÌNH CỦA NGUYỄN ĐỨC THIỆN

Nơi những câu chuyện  Nguyễn Lập Em cho xảy ra là một mảnh đất heo hút nghèo và tưởng như tận cùng của một vùng quê. Người ta gọi nó là đất Kinh Cùng ý muốn bảo đó là tận cùng của một con kinh. Nhưng nước đã chảy đến đó đâu có chịu ngừng lại. Nó mở đường chảy tiếp và cũng đổ ra sông Cái như bao dòng nước khác thôi. Vì vậy mà cùng với con kinh là sự tồn tại cái xóm nghèo với những người nghèo. Không chỉ thế cùng với ăn mặc họ còn có cả cuộc sống văn hóa vốn có của người nghèo. Đó là chiếc ghi ta phím lõm của một ông già và những câu ca cải lương hằng sống vơi những quê nghèo và người nghèo. Nên những người nghèo vẫn tồn tại sống và để ước mơ. Sự tồn tại một ông già vui thú với ca cổ và nhưng người hát ca cổ là lẽ đương nhiên ở Kinh Cùng. Cùng với những câu ca cổ là cuộc sống nhất thiết phải sinh sôi. Mới có cô gái xinh đẹp có cái tên nhà quê: Hai Cà. Và có cả anh chàng nhà quê có cái tên mộc mạc: Út Chót. Cũng như bao xưa khác nhưng con người ở mảnh đất nghèo khó này cũng có những ước  mơ. Ước mơ của cô Hai Cà thật giản dị: có một người yêu có một người chồng cùng mình lam lũ trên mảnh đất này. Nhưng cũng có người có mơ ước viển vông xa với hơn như anh chàng Út Chót. Có tí khả năng ca hát anh muốn bay đi xa hơn muốn nổi tiếng thành danh. Và anh ta đã bỏ Kinh Cùng mà đi. Anh ta thành danh thực. Cái tên Út Chót không hợp với danh tiếng của anh ta nên mới dổi thành Cái tên nghe hoa mỹ hơn: Trường Giang. Anh ta không ngờ cuộc đời anh bị người ta lợi dụng dạy cho anh ta biết lợi dụng người khác rồi chính những lợi dụng trong cuộc sốngg ấy biết anh ta thành kẻ vị kỷ chỉ biết có mình thôi. Cho đến một ngày kia anh ta nhận ra rằng: tất cả chỉ là phù phiếm với một con người nhất là con người không có đất làm điểm tựa cho sự tồn tại đời mình. Đến lúc đó anh mới hiểu vì sao một ông già lại thích cây gha ta phím lõm và chỉ hát cho những ngưới quen thân nơi mình ở nghe câu ca cổ nhiều khi ai cũng thuộc lòng. Đến lúc đó anh ta mới hiểu vì sao cô gái mộc mạc có cai tên giản dị Hai Cà kia lại có lòng chung thủy một lòng với tình yêu của mình.

Truyện ngắn Bến Nước Kinh Cùng của Nguyễn Lập Em là một câu chuyện đầy xúc động về phép đối nhân sử thế của con người với mảnh đất mình đã sinh ra và lớn lên. Mảnh đất ấy dù nghèo vẫn có những con người sống nhân hậu bao dung. Nếu mỗi người sống thủy chung son sắt với đất quê mình thì cũng nhận được từ nơi này một tình yêu chung thủy sắt son. Thật xúc động khi đọc những dòng cuối của câu chuyện:

“  Vậy mà cô Hai cà vẫn ngồi đó nhìn anh với cái nhìn khích lệ như năm xưa cô đã dành cho anh lúc anh còn tập hát tập đàn. Không! Anh không còn xứng đáng với tình cảm bao dung và trong sáng của cô Hai Cà. Anh Út Chót đứng lên. Giọng nói của cô Hai Cà vẫn cứ nhẹ nhàng:

            - Gấp gì mà về anh Út?

- Bến nước Kinh Cùng này bây giờ còn có chỗ cho tôi sao?”

NGUYỄN ĐỨC THIỆN

 

 

 LỜI BÌNH TRUYỆN NGẮN BẾN NƯỚC KINH CÙNG CỦA NGUYỄN LẬP EM/ 7/5/11

Lê Hoài Lương

 

“Có lúc nó cùng như vậy nên người ta mới lấy đó mà đặt tên. Tạo hóa sắp bày khéo lắm! Cùng sao được mà cùng!”- đó là lời giải thích của ông Ba Thời với con gái cô Hai Cà về con kinh trước nhà tưởng như là cùng mà vẫn còn mấy nhánh nhỏ len lách quanh co chảy mãi rồi vào lại sông Cái. Và đây cũng là cái lõi cái tứ chính của truyện: cuộc sống dẫu biến thiên dâu bễ hay tận cùng bế tắc hiểm ngặt vẫn có lối ra đâu đó nếu con người còn hy vọng.

Đó là chàng trai theo đàn hát cùng ông Ba Thời mấy lúc nông nhàn chàng đã bỏ xứ theo các gánh hát. Từ gánh nhỏ ông Bầu Tèo đến các gánh to ở Sài Gòn và thành kép Trường Giang nổi tiếng sống cặp đôi với nhiều cô đào thay đào già chọn đào trẻ sống như vợ chồng. Được chiều chuộng được nhiều tiền bạc một ngày về lại quê nhà giỗ quảy ông bầu Tèo cho người tới rước hát cho bà con ở quê kép Trường Giang đã không thèm cộng tác anh giờ là người của những đêm diễn sang trọng tầm cỡ. Và người con gái quê cô Hai Cà dù biết cô vẫn suốt bao năm có tình ý và lặng lẽ chờ anh Út Chót Trường Giang nào có bận lòng. Đúng là Trường Giang tên anh giờ là con sông dài rộng chứ đâu còn là con kinh bé nhỏ quê nhà.

Rồi cái gì đến cũng đến ba mươi năm sau cuộc hư hỏng của Út Chót có đoạn kết: anh về quê cũ nghiện ngập mất giọng xin hát ở Trung tâm văn hóa huyện lớp trẻ không cho vì ngại hình ảnh xấu của anh tác động không tốt đến thanh niên. Anh đến đốt hương tạ tội với thầy Ba Thời gặp ánh mắt cũng vẫn dịu dàng bao dung của cô Hai Cà. Truyện kết cũng ở bến nước Kinh Cùng với câu hỏi đầy hối lỗi sau bao sai trái của Út Chót: “Bến nước Kinh Cùng này bây giờ còn có chỗ cho tôi sao?”

Cái tứ truyện đâu đó gần gũi như cuộc sống quanh ta những thay lòng đổi dạ khi có may mắn đổi đời những “ham phú phụ bần” “có đó bỏ đăng có trăng quên đèn”… Nhưng chính dụng ý thật nhân văn ở chỗ không hề là kiểu “gieo gió gặt bão” mà là vẫn còn một bến quê bao dung thuần hậu chở che. Những nhánh nhỏ luôn còn dù len lách dù quanh co chảy miết để nối được với dòng chính. Cuộc sống vừa sòng phẳng vừa bao dung như không có kinh cùng không bao giờ là hết lối.

Đó cũng là chất nhân hậu nhiều nữ tính của nhà văn Nguyễn Lập Em. Trên nền cảnh sông nước và rượu đế kinh rạch và đờn ca chị đã dựng nên câu chuyện khá gần gũi dung dị với ngôn ngữ phong hóa rất Nam Bộ. Và trên hết là ý nghĩa kín đáo nhiều dụng công quanh chi tiết kinh cùng trường giang. “Bến nước Kinh Cùng” là cái bến đẹp kín đáo minh triết và đầy tính nhân văn của một truyện ngắn.

LHL

 

 

 

 

 

More...

BÀI THƠ TRÊN CÁNH DIỀU & Lời bình của N G Ư T Trương Tham

By Gã Phu Xe bất tử (Mai Thìn)

alt 

BÀI THƠ TRÊN CÁNH DIỀU

 

 Mai Thìn

 

 

Mong một lần về lại ngày xưa

thuở bạn bè rủ nhau thả diều trên đồi cỏ

rồi lớn lên thành trai gái hội làng.

 

 

Bài thơ tôi viết trên cánh diều ngày ấy

lỡ đứt dây em bắt được mang về

mấy mùa mạ xanh ruộng cày ruộng sạ

cánh diều tôi căng phỗng nón bài thơ.

 

 

Bạn bè bảo em giữ hoài chiếc nón

mẹ cha khuyên chẳng chịu nhận lời

rồi sớm sớm chiều chiều cuối bãi

em nghiêng vành đọc lại mấy câu thơ…

 

 

Ngày ấy bây giờ xa hun hút

tôi trở về tìm lại cánh diều xưa

nhưng chỉ gặp chợ làng đầy nón trắng

bài thơ buồn tôi viết tiếp nơi nao.

  

 

Lời bình của NGƯT Trương Tham

 

         Có những nẻo đường đi qua không một lần trở lại nhưng một nỗi nhớ gì trong chốn xa xối ấy vẫn níu giữ mỗi người trong cuộc sống hôm nay. Từ tập Đồng quê ( NXB Hội nhà văn 1998) đến nay Mai thìn đã ra tiếp mấy tập thơ nữa. Những tập thơ sau này cũng như nhiều bài thơ đăng trên các báo trong nước gần đây Mai Thìn viết theo lối thơ hiện đại. Nhưng dù viết về vấn đề gì viết theo loại thơ nào thơ Mai thìn vẫn gắn với một miền quê một mối tình đầu đời không thể nào quên. Vì vậy đọc thơ anh trong sâu xa vẫn man mác cái hồn quê như những dòng hoài niệm tha thiết vấn vương.

 

          “Bài thơ trên cánh diều” mở đầu cho tập Đồng quê. Với một tứ thơ quen quen như kiểu “nhân diện bất tri hà xứ khứ” hay “cây đa bến cũ còn lưa”… Bài thơ được viết theo lối mượn cảnh tả tình. Với lối viết này nhà thơ đã liên kết được những hình ảnh của quê hương mộ thời. Từ cảnh bạn bè tuổi thơ thả diều trên đồi cỏ đến ngày hội làng gái trai hăm hở. Rồi "những mùa mạ xanh ruộng cày ruộng sạ”… từng hình ảnh đều gợi lên chút hồn quê thấp thoáng trong ký ức của mỗi người.

 

          Hình ảnh trung tâm của bài thơ là hình ảnh người con gái với chiếc nón. Chiếc nón vẫn là hình ảnh quen thuộc gắn bó làm tôn vẻ đẹp của người phụ nữ Việt Nam. Chúng ta từng biết chiếc nón đan bằng những sợi dang đặc sản của quê hương Việt Bắc. Chiếc nón bài thơ xứ Huế “cô gái thẫn thờ vê áo mỏng./  Nghiêng nghiêng vành nón dáng chờ ai” (Tố Hữu)… Nữ sĩ Anh Thơ từng viết:

                            

                             “Cô gái Việt Nam ơi

                             Chiếc nón theo ai suốt cuộc đời”

                                                                                                                                                                                                                                  (Chiếc nón)

          Nón Gò Găng nổi tiếng của Bình Định. Chiếc nón trong bài thơ là đặc sản của Mai Thìn. Chiếc nón không chỉ được chằm bằng lá nón mà còn xen vào đó một mảnh của cánh diều có mấy câu thơ vụng dại của một thời học sinh. Người con gái giữ chiếc nón ấy để rồi bao người chạm ngõ ba mẹ khuyên: “ chẳng chịu nhận lời” để rồi:

 

                      “Rồi sớm sớm chiều chiều cuối bãi

                      Em nghiêng vành đọc lại mấy câu thơ…”

 

          Thơ là vậy. Những chuyện tưởng chừng như bâng quơ ấy mà tiềm ẩn vấn vương đến lạ lùng. Bởi nó chứa đựng bên trong bao yêu thương – nhung nhớ không sao nhìn thấy được nên gọi người tìm đến.  Nhà thơ trở về chốn cũ tìm lại cánh diều xưa. Biết không bao giờ có thể trở lại không bao giờ có thể tìm thấy nữa nhưng vẫn trở về. Làm sao anh có thể tìm thấy chiếc nón ấy nơi phiên chợ làng đầy nón trắng hôm nay. Một chiếc nón không có trong đời. Nhà thơ hãy nhìn thẳng vào chính mình vậy.

 

                                      (Trích từ tuyển tập "Thơ & Bình thơ NXB HNV 1-2010 của NGƯT Trương Tham)

 

More...

NHỚ TÀO MẠT

By Gã Phu Xe bất tử (Mai Thìn)

NHỚ TÀO MẠT

                                                Vũ Ngọc Liễn

          Khoảng tháng 5 tháng 6 năm 1984 năm Giáp Tý năm tuổi của tôi Tào Mạt đột ngột xuất hiện ở Quy Nhơn. Gọi là đột ngột vì không có thư báo trước. Anh tâm sự: một nửa của mục đích chuyến đi này là vào thăm Liễn xem mấy năm về quê sống ra sao?

          Những ngày ở Quy Nhơn hai chúng tôi lộn trái ruột gan mà sống với nhau. Vì biết rằng từ đây cơ hội gặp nhau không dễ chút nào!

          Trước lúc chia tay Tào Mạt để lại cho tôi một bài thơ chữ Hán:

      Huyết cốt thâm giao sổ thập niên

      Thi đàm Vị Thủy dĩ tương liên

      Bi hoan kỷ độ tâm do tráng

      Đại tiếu văn chương bất vị tiền.

Nghĩa là:

      Đã hàng chục năm kết bạn xương máu

      Nước đầm Thi Nại và sông Vị đã liền nhau

      Bao bận vui buồn lòng vẫn khỏe

      Cả cười văn chương chẳng vì đồng tiền.

          Thế rồi dịp tết Nguyên Đán năm sau năm Ất Sửu (1985) trời Quy Nhơn bỗng xuất hiện mưa phùn rất đẹp thường gọi là mưa xuân hiện tượng thiên nhiên hiếm có ở xứ sở này. Tôi mở ti vi chợt thấy kênh truyền hình Trung ương đang chiếu vở chèo “Ỷ Lan nhiếp chính” của Tào Mạt. Vì xúc động vội viết mấy dòng (cũng chữ Hán) gửi ra cho Tào Mạt:

         Tân xuân cựu vũ ức Tào quân

         Điện thị đả khai khán Ỷ Lan

Tưởng khỉ tích niên Tào Lỗ tướng.

Nhất huy đoản kiếm cứu giang san

Nghĩa là:

    Năm mới mưa cũ nhớ bạn Tào

    Mở ti vi xem vở chèo Ỷ Lan

                Nghĩ đến thuở xưa vị tướng nước Lỗ cũng tên là Tào Mạt

              Chỉ vung gươm ngắn mà cứu được đất nước của ông ta.

          Chữ  “mưa cũ” mà tôi dùng ở đây với hàm nghĩa là tình bạn cố giao như câu thơ của Đào Tấn “Kỷ hồi Nam Phố xuân ba lục - Thử nhật Ba Sơn cựu vũ tình” (Mấy lần sóng xuân xanh sông Nam Phố - Ngày nay tình mưa cũ ở núi Ba Sơn).

          Tào Mạt là bút danh của Nguyễn Đăng Thục. Anh sinh năm 1930 ở Xã Hữu Bằng huyện Thạch Thất Sơn Tây. Tạ thế năm 1993 hưởng dương 64 tuổi. Thuở nhỏ Nguyễn Đăng Thục từng ở đợ cho một “danh gia vọng tộc” ở Hà Đông dòng họ Dương (Dương Khuê Dương Lâm). Chính môi trường này là điều kiện đào tạo anh từ thuở hàn vi đã tiếp xúc với kinh điển Thánh hiền bằng chữ Hán viết thư pháp chữ Hán khá chuẩn mực.

          Sau Cách mạng tháng Tám Nguyễn Đăng Thục gia nhập quân đội rồi lấy vợ ở Nam Định anh chọn dòng sông Vị làm quê hương cho đến năm tháng cuối cùng. Câu thơ anh viết cho tôi: Thi đàm Vị thủy dĩ tương liên” nghĩa là nước Đầm Thi Nại (quê tôi) và nước sông Vị (quê anh) nhập vào nhau như con kênh đào dọc theo chiều dài của đất nước mà Tào Mạt là công trình sư.

          Cuộc đời binh nghiệp của Nguyễn Đăng Thục gắn liền với cuộc đời hoạt động nghệ thuật sân khấu Chèo qua bút danh Tào Mạt. Cái bút danh mà thiên hạ quen thuộc đến mức nhiều người quên béng cái tên gốc rễ của anh.

          Tào Mạt vốn là tên gọi một vị tướng rường cột của nước Lỗ thời Đông Chu liệt quốc (Trung Quốc)

          Nước Tề hùng cường nước Lỗ nhược tiểu. Ỷ chúng hiếp cô cậy cường bức nhược hình như là thuộc tính của kẻ mạnh của loại người cướp bóc chém giết để sống trên đầu thiên hạ xưa nay đều thế. Tề xâm lược Lỗ vua Tề buộc vua Lỗ phải tổ chức Hội Thề đầu hàng không điều kiện làm chư hầu nước Tề. Bằng không thì Tề sẽ tiêu diệt Lỗ vua Lỗ không còn chút đất chôn thây. Không còn đường nào khác giữa tiệc Hội Thề Tào Mạt bất ngờ vung lưỡi kiếm ngắn (dấu kín trong người) tóm cổ vua Tề mà rằng: “Ngươi hãy rút hết quân đội ra khỏi nước Lỗ trả lại đất đai đã chiếm cho vua dân nước Lỗ. Nếu không ta và ngươi cùng chết”. Thế là mọi thủ tục pháp lý được giải quyết chóng vánh. Hội Thề làm thân trâu ngựa biến thành Hội Mừng toàn vẹn lãnh thổ. Câu thơ của tôi gửi Tào Mạt “Nhất huy đoản kiếm cứu giang san” có nguồn gốc như vậy. Còn Nguyễn Đăng Thục thì mê tít thò lò cái nhân vật kỳ cục này trong Đông Chu liệt quốc nên lấy đó làm bút danh làm thần tượng của đời mình.

          Có một tối khoảng 7 giờ hơn Tào Mạt xuất hiện phòng ở của tôi (47 Lê Văn Hưu – Hà Nội) mang theo một bi đông rượu mà rượu của Tào Mạt thì mùi thơm bát ngát. Thường ngày anh ghé vào nhà cụ Thế Lữ trước rồi mới đến nhà tôi. Lần này thì từ Cục Chính trị ra đi thẳng tới gặp tôi còn nói rằng đêm nay tôi ngủ lại đây. Tôi chạy ra chợ Hôm mua mấy miếng đậu rán đem về chúng tôi bắt đầu đàm đạo.

          - Còn chừng hai mươi hôm nữa là ngày giỗ đầu của Chu Nghi. Tôi nghĩ bọn mình phải làm gì để có ít tiền đưa cho vợ nó làm giỗ chứ? Tào Mạt tâm sự.

          Tôi không quen Chu Nghi. Chỉ biết Chu Nghi qua Tào Mạt. Chu Nghi hy sinh ở mặt trận Khe Sanh. Tôi trả lời ngay chuyện đó dễ giải quá: “Ông và tôi kéo thêm Đình Nghi và vài đứa nữa góp mỗi người một ít thì thừa sức làm giỗ…” Tôi nói chưa xong bị Tào Mạt cắt ngang:

          - Thế thì có đáng gì phải bàn với ông? Điều mà tôi muốn bàn là làm giỗ xong còn thừa lại ít tiền mua cho con nó vài bộ quần áo một số sách vở để cháu nó đi học vợ nó giữ ít tiền lo việc hương khói về sau. Tôi nghe lọt tai nên cũng vội cắt ngang.

          - Vậy ông có phương án gì chưa?

          - Đây này Tào Mạt vừa nói vừa chìa bản thảo cho tôi. Thằng Chu Nghi ra đi còn gửi lại tôi một bản thảo kịch ngắn vở Đồng Chí nếu được dàn dựng ngay bây giờ thì kịp cúng giỗ nó đấy.

          Đêm hôm đó nhờ có mấy miếng đậu rán mà đưa đẩy bi đông rượu đến cạn kiệt. Hết rượu Tào Mạt nằm ngủ trên chiếc võng sợi ni lông mắc theo chiều dài của căn phòng bảy mét vuông; còn tôi nằm ở tấm ván mễ kê ngang dưới võng thức đọc cho xong kịch bản của Chu Nghi.

          Trời sáng Tào Mạt vội về Đoàn Chèo Tổng Cục Chính trị; tôi chạy ra nhà hát lớn tìm Ngọc Phương (Trụ sở Kịch nói Trung ương làm việc nơi này).

          Nghe tôi tường thuật đầu đuôi Ngọc Phương trố mắt hét to: Trời ơi! “Buồn ngủ gặp chiếu manh”. Tôi đang loay hoay không biết tìm đâu ra một kịch ngắn nữa cho đủ bộ ba để hình thành chương trình đêm kịch “Anh Bộ Đội”. Đây quả là trời xui đất khiến.

          Hồi đó tôi đang là Phó phòng Nghệ thuật Sân khấu của Cục Nghệ thuật Biểu diễn kiêm nhiệm Thư ký Hội đồng Nghệ thuật Sân khấu của Bộ Văn hóa. Còn Ngọc Phương là đạo diễn giữ chức Trưởng đoàn (hay giám đốc tôi quên) Kịch nói Trung ương nên các động tác phối hợp của chúng tôi vừa khít với yêu cầu của Tào Mạt.

          Nói cho công bằng bản gốc vở Đồng chí của Chu Nghi còn thô thiển gầy gò quá. Nhờ có bàn tay của Tào Mạt nhúng vào mà xương thịt của tác phẩm hiện lên đầy đặn da dẻ hồng hào. Ví dụ bản của Chu Nghi không có nhân vật Trung sĩ I Nốc; nhân vật này xuất hiện trong tác phẩm Đồng Chí rất sinh động là do Tào Mạt đẻ ra và đắp vào. Tôi rất thích nhân vật này nên các bài phiếm luận của tôi đều ký bút danh Trung sĩ I Nốc là để tưởng nhớ bạn.

          Vở kịch ngắn “Đồng Chí” do Ngọc Phương đạo diễn sau khi công diễn cũng có những tiếng ra tiếng vào bởi sự xuất hiện nhân vật Trung sĩ I Nốc. Tiếng ra tiếng vào ấy được dẹp yên khi đồng chí Trường Chinh xem kịch rồi gật đầu cười. Và tôi đã phải viết một bài “Đồng Chí - Một vở kịch hay”.

          Nếu tôi không lầm thì trước khi là anh bộ đội Cụ Hồ Tào Mạt đã từng là nhà sư tu ở chùa làng. Hãy nghe nhà sư Tào Mạt thuyết pháp:

          Lý Đạo Thành: Đội ơn Hoàng phi! Hoàng phi là người sùng Phật lại giỏi về trị nước an dân chẳng hay Hoàng phi có lúc nào nghĩ đến Phật là thế nào hay không?

          Ỷ Lan: Thưa quan Thái sư! Như cháu học hành ít ỏi trộm nghe rằng Phật là vô thủy vô chung tự nhiên như trời đất nên có câu kệ rằng:

Thu vừa tới cúc vàng thơm ngát

Xuân ấm về Oanh hót cành mai

Vừng dương rạng chiếu nơi nơi

               Dịu hiền ánh nguyệt chung soi muôn nhà.

          Lý Đạo Thành: Vậy thì gốc của Đạo là ở đâu?

          Ỷ Lan: Phật đã là vô thủy vô chung thì đạo cũng là hằng sinh hằng diệt. Như cháu học hành còn ít mà bàn về đạo thì có khác gì…

Điếc tai bình tiếng đàn cầm

Mắt lòa mà ngắm trăng rằm khen tươi

          Gốc của Đạo Phật là ở chữ Giác. Là người hữu hình nên ai nấy đều muốn biết:

Muốn biết vì sao có núi có sông?

Muốn biết vì sao mà có giống có dòng?

Muốn biết vì sao mà có hoa có lá?

Muốn biết vì sao mà có cây có quả?

Bởi thế Phật là nghìn mắt nghìn tay

Cháu chưa biết có phải Quan Âm nghìn mắt nghìn tay

Nhưng cháu thấy mọi việc ở đời đều nhờ  bàn tay con mắt

Con mắt bàn tay là cho vải vóc đầy nhà lúa ngô đầy đất.

Còn như chữ Giác phải nhờ ở muôn người

(Đọc kệ)   Núi lớn do tích từ hạt bụi

Biển sâu nhờ hợp mọi dòng con

Bàn tay biến cải nước non

Làm nên mọi vẻ vuông tròn gần xa

          Trên đây là một đoạn đối thoại giữa Thái sư Lý Đạo Thành và Hoàng phi Ỷ Lan trong vở chèo Ỷ Lan nhiếp chính mà thực chất là vở chèo chống tham nhũng. Cấp độ tham nhũng ở đây từ cung đình mà ra cho nên theo tác giả cần phải cậy đến chữ Giác của đạo Phật sự giác ngộ của muôn người mới mong “Làm nên mọi việc vuông tròn gần xa”.

          Cuối năm 1984 Tào Mạt gửi tiếp cho tôi một bài thơ “Tự vịnh” bằng chữ Hán:

Tào Khả mạt hồ phong vị nhuệ

Vinh Khô dĩ tứ thập niên dư

Dương quang nhất trịch thôi xuân sắc

Gia tốc thiên luân bức tuế trừ.

                                                Giáp Tý Xuân

          Nghĩa là:

Vịnh về mình.

Có thể nào bị xóa nhòe khi mũi nhọn của chàng Tào còn chưa bén

Hơn bốn mươi năm sang hèn đã trải

Khi ánh dương tắt thì sắc xuân xơ xác

Bánh xe trời tăng tốc thì tuổi đời cũng bớt đi

                                                Mùa xuân năm Giáp Tý

          Như vây bài “Vịnh về mình” anh viết cùng năm tháng anh vào thăm tôi. Đọc câu mở đầu bài thơ tôi thấy hơi ngờ ngợ đọc hết bài thơ tôi cảm nhận hình như đây là lời trăn trối. Tôi viết thư hỏi anh: Như có điều gì anh còn giấu tôi?

          Anh trả lời tỉnh bơ rằng: Không có gì phải giấu thích thì viết thế thôi. Nhưng là người cầm bút tôi làm sao tin vào lời giải đáp ấy. Ắt hẳn lúc bấy giờ (1984) anh đã cảm nhận được cơ thể anh đang có hiện tượng không bình thường rồi. Cái thằng bạn tồi là tôi biết bạn đau bệnh mà không biết làm gì để giúp bạn.

          Ngày Tào Mạt ra đi tôi không ra tiễn anh được. Viết bài này để khóc anh tạ lỗi với anh.

 

          Quy Nhơn 17 – 4 – 2011

     V.N.L   

 

 

Chú thích ảnh: Chu Nghi (tác giả vở Đồng Chí) trước khi lên đường đi B    

More...

MÙA BIỂN VẮNG / 3705/phát 9/4/2011

By Gã Phu Xe bất tử (Mai Thìn)

MÙA BIỂN VẮNG / 3705/phát  9/4/2011

 

Truyện ngắn . NGUYỄN THÁI SƠN

 

Tôi hết sức bất ngờ trước lời đề nghị của Thứ anh rể tôi. Bất ngờ vì lần đầu tiên ở làng Ngòi một làng đồng bằng Bắc bộ thuần nông làm lụng quanh năm chỉ đủ ăn lại có người dám làm cái việc mà hầu hết những người nông dân coi là xa xỉ dửng mỡ.


- Cậu sắp xếp công việc cơ quan đi. Thứ bảy này mời cậu vào Sầm Sơn nghỉ mát với anh chị một chuyến.


Tôi không tin vào tai mình hỏi lại:


- Anh bảo em đi Sầm Sơn?
- Thế cậu tưởng tôi đùa à?
Tôi làm phép tính nhanh. Đi ngắn nhất ba ngày hai đêm mỗi người cũng phải tiêu hết tiền triệu. Quy ra thóc phải bằng công cầy cấy cả vụ một sào ruộng “nhất đẳng điền”. Không muốn anh chị mình tốn kém thêm tôi viện lý do:


- Hôm ấy cơ quan em có cuộc hội thảo em không đi được đâu.
- Nếu bận hội thảo thì vợ chồng tôi hoãn lại chờ cậu.
Anh Thứ nói chắc như đinh đóng cột dồn tôi vào thế chân tường. Tôi đành phải nhận lời.


Bốn giờ sáng thứ tư ngày kỷ mão tôi anh Thứ chị Lệ có mặt ở bến xe đi Thanh Hóa. Thấy chỉ có ba người tôi hỏi:


- Sao anh chị không đưa đứa cháu nào con thằng Thực đi? (Thực là con trai duy nhất của vợ chồng anh Thứ nó đã có vợ và hai con. Hiện hai vợ chồng công tác ở Sở nội vụ tỉnh).


- Ối dào đưa nó đi ai mà dỗ được khi nó quấy khóc dai như đỉa đói - Chị Lệ than phiền.


Xe chạy hết ba tiếng đồng hồ thì đến thị xã Sầm Sơn. Chuyển hành trang vào phòng nghỉ chị Lệ phải đi nằm ngay vì say xe. Anh Thứ xem đồng hồ thấy vẫn còn sớm rủ tôi ra bãi biển. Biển vắng. Bãi tắm hun hút thấp thoáng những bóng người. Ở phía xa nơi hàng dương xanh có những con thuyền xếp hàng cằn cỗi như chúng được sinh ra từ cát và ở đó đã rất lâu rồi. Vài cặp trai gái đùa giỡn với lớp lớp sóng xô sạt xòa bọt trắng xóa theo cung bậc xì xào đã được mặc định. Gió ào ào vẽ lên mặt cát hàng trăm hàng ngàn đường kẻ vòng vèo song song tăm tắp. Hàng quán trơ ra những dãy ghế không người những ánh mắt ông chủ bà chủ hờ hững nhìn mặt biển đang vồng lên thăm thẳm. Hai chúng tôi đến cái mỏm núi nhô ra biển có những phiến đá lô xô và một bãi cát nhỏ tịnh không một bóng người. Anh Thứ đưa chân xuống làn nước biển:


- Mát lắm cậu ạ. Hai anh em “truổng cời” tắm một cái đi tắm thế cho thoải mái.
Anh nhìn tôi ánh mắt như cầu khẩn như sai khiến. Tôi gật đầu. Sóng biển dập dềnh anh Thứ ngụp lặn như trong ao nhà mình rồi tô hô đi lại. Anh leo lên một phiến đá vuốt mái tóc lưa thưa về phía sau:


- Này cậu vào đây tôi bảo.


Nghe anh gọi tôi bơi vào vẫn ngồi dưới cát nhìn lên.


- Cậu thấy tôi thế nào? Anh hỏi.


Tôi nhìn thoáng qua. Anh vẫn thế. Thấp đậm bụng hơi xệ gương mặt góc cạnh không có một sợi râu nên nhìn như trẻ hơn tuổi năm mươi chín. Lần đầu tiên tôi thấy anh ở trạng thái trần như nhộng mới biết anh có làn da trắng quá. Tôi đáp:


- Anh vẫn thế. Nhưng cái bụng hình như to ra thì phải.


- Có thế thôi à?


Tôi không hiểu anh định nói gì gật đầu:


- Vâng.


Anh quay người đối diện cố ý để lộ cái bộ phận của đàn ông ngay trước mắt tôi.
- Cậu thấy gì chưa?


Tôi xấu hổ quay mặt đi nhưng không cưỡng lại được sự tò mò liếc nhìn. Trời ơi! Bộ phận sinh dục của anh gần như không có. Nó bé tý tẹo như con ốc vặn như cái núm vú cao su bình sữa của trẻ sơ sinh.


- Tôi chưa bao giờ thực sự là đàn ông. Tôi không thể có con cậu ạ.


Anh nói thế rồi vội vàng mặc quần áo. Gương mặt đỏ như trái gấc chín phăm phăm anh bước lên bờ. Tai tôi ù đi.


*
*     *


Cả buổi trưa tôi đứng ở ban công nhìn ra biển lòng dạ nôn nao hàng trăm câu hỏi vẫn chưa tìm được lời giải. Sự thật mà anh Thứ cho tôi biết không phải chỉ biết một sự thật. Bởi có thế thôi thì cần gì phải đi hàng trăm cây số đến tận nơi này để nói. Tôi đoán già đoán non. Đây mới là khởi đầu câu chuyện khởi đầu của những điều bí mật đã được vợ chồng anh Thứ giấu giếm mấy chục năm qua. Nhìn đồng hồ đã ba giờ chiều tôi nôn nóng gõ cửa phòng vợ chồng anh. Anh Thứ vẫn ngủ chị Lệ đã dậy đang ngồi vuốt phẳng những đồng tiền có mệnh giá năm trăm một ngàn nhăn nheo mốc mác.
- Chị ơi đi dạo biển với em - Tôi mời chị Lệ.


- Ừ. Chị cũng đang định sang bảo cậu.


Chị đứng lên búi tóc. Tóc chị muối nhiều hơn tiêu lưa thưa nhìn rõ cả da đầu. Năm tháng khắc nghiệt chị tôi già đi nhanh quá đuôi mắt đã phủ đầy những nếp nhăn.
Tôi dẫn chị đến cái mỏm núi nhô ra biển lô xô những phiến đá nơi sáng nay tôi và anh Thứ tắm. Chị tháo dép ngồi xuống một thân cây phủ đầy rêu khô mốc nhìn những con thuyền dật dờ ngoài xa buồn rười rượi. Thấy thế tôi không dám hỏi thẳng mà lân la:
- Sáng nay em và anh Thứ tắm ở đây. Anh Thứ bảo: anh ấy không phải là đàn ông.
Chị Lệ bỗng òa khóc tức tưởi hai tay bíu lấy vai tôi:


- Đúng anh ấy không phải là đàn ông. Đã ngót ba chục năm rồi anh chị cố tình giấu kín chuyện này nhưng không hiểu sao thời gian gần đây anh Thứ cứ hối thúc chị phải nói ra sự thật. Thứ bảo: nói ra sự thật để có cớ đi tìm cha đẻ cho thằng Thực để thằng Thực có cội có nguồn. Chị nhất định không nghe chị ngại xới tung sự yên ấm mà mình đang có. Nhưng bây giờ chính anh Thứ đã nói ra chuyện ấy thì chị chẳng còn gì mà phải giấu cậu nữa.


Chị Lệ xoay người ngồi hướng về nơi những con thuyền nằm trên bãi cát. Gió lấn lướt. Mặt nước có đàn cá nhỏ lấp lánh như sợi thủy tinh nhao lên ngụp xuống rồi mất hút trong lòng đại dương mênh mông.


- Vậy thì thằng Thực là con của ai? - Tôi hỏi trong sự nôn nóng không kìm hãm được.
Giọng chị Lệ như vọng về từ nơi rất xa xôi:


- Đầu năm 1970 quê mình có trại điều dưỡng thương binh gọi là đoàn N96 cậu còn nhớ không?


Chị hỏi nhưng không đợi câu trả lời của tôi nói luôn:


- Thương binh ở trại toàn người miền Nam phần lớn đều mang những vết thương trầm trọng. Trong số ấy có một người bị thương ở vùng sọ não anh tên là Huấn cán bộ an ninh Sài Gòn - Gia Định. Nghe nói trong đầu anh vẫn còn một viên đạn lấy ra thì chín mươi chín phần trăm là chết. Vì vậy phải để nguyên viên đạn trong đầu. Huấn bị bệnh tâm thần phân liệt mất trí nhớ hoang tưởng. Hộ lý chỉ sơ sểnh là anh bỏ đi lang thang chưa khi nào biết đường về trại. Anh có thể đi thâu đêm suốt sáng nhặt được cái gì dọc đường sẽ đến nhà ai đó gần nhất để cho. Huấn hiền gặp ai cũng cười hạn hữu lắm mới nói một vài từ không rõ nghĩa.


Chị Lệ dừng lại bứt một sợi dây leo cười mơ hồ:


- Năm ấy chị hai mươi nhăm tuổi nhân viên cửa hàng mua bán xã. Hai mươi nhăm tuổi ở quê thuộc diện gái ế gái đã về già. Một đêm tháng chạp rét cắt da sương muối rơi nhí nhách hàng Tết về nhiều phải gói buộc chia ra thành từng túi khuya chị mới đi ngủ. Đúng lúc đó có tiếng gõ cạch cạch ngập ngừng nhìn qua khe cửa chỉ thấy một mầu đen đặc. Chị hỏi: “Ai đấy”? Không có tiếng trả lời. Sợ tháng “củ mật” bọn trộm cắp lưu manh rình rập chị lấy chiếc ghế băng chẹn thêm vào cửa. Ngày ấy cửa hàng chỉ là nhà tạm dưới những bức vách đất có khe hở chị thấy một cánh tay đẩy những chiếc lờ chiếc đó bẹp rúm vào. “Cá cá đấy”. Người đó nói. Chị nghĩ chắc đây không phải người lạ liều ra mở cửa. Nhờ ánh đèn sáng hắt ra chị thấy một người đang ngồi co ro quần áo ướt nhếnh loáng chắc anh ta vừa từ dưới đầm thả cá lên. Anh rét run bần bật chị nghe thấy cả tiếng hàm răng va vào nhau. “Vào nhà đi ngồi đấy để chết rét à”? Chị kéo áo anh ta. Anh ta đứng lên ngoan ngoãn vào nhà. Lúc ấy chị mới nhận ra người đó chính là Huấn. Đêm khuya cửa hàng xa nhà dân vả lại Huấn là thương binh không còn cách nào khác chị phải cởi bộ quần áo ướt của Huấn ra bắt anh ta lên giường đắp chăn cho khỏi bị cảm lạnh. Chị nhủ thầm để cho anh ta ngủ còn mình sẽ ngồi gói hàng chờ trời sáng.


Nói đến đây mặt chị Lệ bỗng đỏ bừng giọng ngắc ngứ:


- Cậu ạ. Từ lúc đó chẳng hiểu sao chị cứ như người say rượu. Gói hàng đến đâu hỏng đến đó. Vồng ngực… cái mùi đàn ông của Huấn làm chị váng vất người cứ bừng bừng như lên cơn sốt. Nơi bàn tay Huấn đặt lên vai lên cổ chị lúc cởi bỏ bộ quần áo ướt nóng rãy… Có một đám cháy rừng rực trong mắt Huấn…

 
Sáng. Lúc ấy sương đã tan. Có tiếng gọi của anh Thứ cửa hàng trưởng chị mới giật mình bừng tỉnh hoảng hốt mặc quần áo và nhìn xem Huấn đang ở đâu? Không thấy Huấn không thấy cả bộ quần áo nữa. Anh ta đã dậy đi từ lúc nào. Chị thở phào nhẹ nhõm.


Sau tiếng thở phào ấy không lâu chị phát hiện ra mình có thai. Chị làm đủ mọi cách trong dân gian để tống bằng được nó ra nhưng hình như càng làm càng thấy cái thai trong bụng mỗi ngày một to lên. Đến tháng thứ ba thì chị thất vọng suy sụp hoàn toàn. Không có cách nào chứng minh đứa con trong bụng mình là con của người thương binh tâm thần. Nói ra có khi người ta lại nghĩ: mình lăng loàn rồi lợi dụng anh Huấn tâm thần để đổ vấy mong thoát tội. Như thế thì càng khốn nạn hơn. Chị chưa thấy ai bị cắt tóc bôi vôi thả bè trôi sông nhưng chị đã chứng kiến cô Thóc làng ta chửa hoang bị họ hàng ruồng bỏ dân làng ghẻ lạnh. Chị nhủ thầm nếu mình như thế thà chết còn hơn.


Cái thai bước sang tháng thứ tư. Những vòng dây quấn quanh bụng trở nên bức bối khó chịu khiến chị lúc nào cũng vã mồ hôi. Một đêm đi xem đoàn chèo Trung ương biểu diễn vở Quan âm thị Kính hình ảnh của Thị Mầu làm chị run lên. Chị cảm giác hình như đang có rất nhiều cắp mắt nhìn vào cái bụng của mình. Chị thấy lại hình ảnh cô Thóc đẻ con trong cái lều vó hoang năm nào hình ảnh bố mẹ cô cúi đầu bước đi trước những lời nói bóng gió của dân làng mà thấy lạnh cả người. Mình không thể để như cô Thóc được. Không còn lòng dạ nào để xem hết vở chèo chị về cửa hàng viết một lá thư để lại rồi chạy như người điên ra sông Đáy. Dạo ấy mưa xuân lay phay hoa xoan rụng trắng hai ven đường. Mưa đã làm cho chị tỉnh táo can đảm hơn lên. Chị đến cái cống điều tiết nước thủy nông ngồi trên bức tường bê tông sát mép nước khóc như mưa như gió. Có một con thuyền đi về hướng biển chị nhìn thấy cánh buồm trắng mờ mờ. Chị quyết định khi đợi con thuyền ấy đi qua sẽ lao mình xuống. Đúng lúc đó có một bàn tay đặt lên vai chị. Giật thót cả người chị quay lại. Bàn tay ấy là của anh Thứ cửa hàng trưởng. Thứ bảo: “Em hãy nghe anh về đi. Chuyện của em anh không tường tận nhưng anh cũng đoán ra được phần nào qua cái buổi sáng có anh thương binh tâm thần từ cửa hàng đi ra. Vì chính anh đã đưa người thương binh ấy về trại điều dưỡng”. Anh Thứ nâng bổng chị lên đặt xuống đất. Chị òa khóc nói với anh Thứ: “Anh ơi anh hãy cứu em”. Thứ bảo: “Cứ về nhà đã rồi anh sẽ tính”. Thế là ngay ngày hôm sau cứ chiều tối Thứ lại đạp xe kèm chị đi hết ông lang này đến bà lang khác tìm cách cho cái thai ra. Hai bà lang đều bảo: “Thai to quá rồi phá thất đức lắm”. Họ không làm. Chị như kẻ cùng đường quỳ xuống van xin anh Thứ: “Hay anh nhận làm cha đứa bé”. Anh Thứ bảo để anh suy nghĩ mấy hôm. Ba hôm sau anh nhận lời.


Chị Lệ nhìn tôi cười trên gương mặt vẫn nhạt nhòa nước mắt:


- Hồi ấy cậu còn đóng quân trong Nam có nhận được thư báo tin chị và anh Thứ làm lễ cưới không?


Tôi cố nhớ lại bởi đã mấy chục năm rồi. Đúng là có nhận được một lá thư của chị. Tôi gật đầu.


*
*     *


Buổi tối chúng tôi ngồi trên cát sát nơi những làn nước của sóng biển tràn lên. Cả một vùng trời nước mênh mông mở ra trước mắt. Ở nơi rất xa có những ánh đèn nhấp nhánh. Ánh đèn không chỉ mang đến cho tôi cảm giác xa xăm huyền bí mà còn len lỏi nỗi niềm cô đơn nỗi buồn vời vợi. Gió lồng lộng thổi dọc hàng dương. Chị Lệ bảo:


- Rét lắm tôi phải về trước hai anh em về sau nhé.


Còn tôi và anh Thứ. Anh rót thêm rượu vào chén:


- Chiều qua chị Lệ đã nói gì với cậu?


- Chị Lệ kể với em về đám cưới của anh chị.


Anh Thứ cười tiếng cười khô rời rạc và buồn bã:


- Tính đến nay tôi và Lệ cưới nhau đã được hai mươi chín năm bảy tháng sáu ngày. Cậu biết rồi đấy: tôi người chẳng ra người. Nên đám cưới chỉ là sự đánh đổi bi kịch này lấy bi kịch khác. Khi tôi đưa chị cậu đi ba bốn nơi tìm cách phá thai mà không được chị cậu đã xin để tôi nhận làm cha đứa bé. Thực sự lúc ấy trong thâm tâm tôi vô cùng sung sướng. Vì làm cha đứa bé nghĩa là tôi cưới chị cậu. Tôi sẽ là người chồng người đàn ông thực sự. Giả đò để mấy ngày suy nghĩ nhưng tôi chẳng phải nghĩ ngợi gì cả.


Ngay đêm đầu tiên đêm tân hôn tuy chị cậu đã biết kìm nén cảm xúc bàng hoàng thất vọng vì tôi không chỉ là chồng mà còn là ân nhân nhưng nước mắt vẫn tuôn ra ướt đầm chiếc khăn phủ gối. Những đêm sau đó không phải chỉ là tiếng khóc âm thầm mà còn là sự vật vã kìm nén. Tôi đã nhiều lần thấy Lệ trước khi đi ngủ  ăn cả nẹn rau răm. Khi Lệ sinh thằng Thực da dẻ thay đổi hẳn. Chị cậu còn xinh đẹp hơn cả tuổi dậy thì rực rỡ hừng hực. Tôi bất lực không thể làm gì được trước sắc đẹp ấy nên trở thành kẻ độc ác từ lúc nào không biết. Tôi ngấm ngầm theo chân vợ như thằng việt gian. Ghen và nghi kỵ với tất cả những thằng đàn ông giận dữ thì lao vào cắn xé. Tôi luôn luôn nghĩ rằng mình được quyền làm điều đó vì mình đã cứu một người khỏi điều tiếng xấu xa.Vợ chồng hạnh phúc là gì hở cậu? Theo tôi chỉ cần tình yêu là đủ. Nhưng tình yêu phải là tình yêu trai gái tình yêu giữa giống đực và giống cái giữa âm và dương giữa đất và trời. Tôi và chị của cậu không được như thế. Nó chỉ là sự kết hợp của hai số phận mang những bi kịch trái ngược nhau và giống nhau là cùng muốn che đậy.


Anh Thứ dừng lại uống liền hai chén rượu. Tôi ngỡ ngàng trước những lời nói đầy tính triết lý của anh. Triết lý của người trong cuộc.


- Này cậu giá mà ngày ấy cưới Lệ được một hai năm chúng tôi ly dị thì hay biết bao – Anh Thứ dúi chén rượu vào tay tôi.


- Sao anh lại nói thế? Gia đình anh chẳng đang rất yên ấm đấy sao?


Anh Thứ lắc đầu:


- Không phải gia đình yên ấm chẳng qua vì chị cậu cam chịu. Chị cậu trả ơn tôi. Còn tôi thì cứ lợi dụng sự cam chịu ấy để cố tình che đậy giữ cái hãnh diện là thằng đàn ông của mình. Gần ba mươi năm ấy là gần ba mươi năm chịu đựng lẫn nhau.
- Vậy bây giờ anh tính sao?


Câu hỏi của tôi có lẽ là câu hỏi mà anh Thứ chờ đợi. Anh ngồi hẳn dậy:
- Bây giờ mình phải là mình. Anh đã tính kỹ rồi tất cả phải nhờ đến cậu. Việc thứ nhất: Cậu là nhà báo nhà văn quan hệ rộng vào Nam ra Bắc liên tục bằng cách nào đấy hãy tìm anh thương binh ở đoàn N96 cho thằng Thực có cha có cội có nguồn. Việc thứ hai: Việc này tôi chưa bao giờ nói với Lệ và xin cậu cũng đừng nói. Việc ấy là: Sau khi tôi đi rồi cậu hãy chọn một dịp thuận lợi. Tốt nhất là khi tìm được tung tích người cha của Thực để đưa lá đơn ly hôn này cho chị Lệ. Ly hôn là giải pháp tốt nhất để giải phóng cho chị cậu và cả cho tôi. Bây giờ tuy muộn nhưng còn hơn cứ sống mà phải che đậy mãi thế này.


Tôi như người giẫm phải lửa vội đẩy cánh tay anh Thứ đang cầm tờ giấy ra:
- Không. Không thể như thế được. Tìm cha cho thằng Thực em sẽ làm còn cầm lá đơn ly dị này thì không bao giờ. Anh không được làm thế.


Thấy tôi kiên quyết quá anh Thứ dịu giọng:


- Ừ thì cậu chỉ giúp anh một việc tìm cha cho thằng Thực cũng được.


*
*      *


Đêm. Tôi thức nằm lắng nghe tiếng sóng biển xì xào. Câu chuyện nỗi lòng của anh Thứ làm tôi lo lắng không yên. Tôi không muốn mất anh mất một người hiền từ mà cả nhà tôi ai cũng quí.


Sáng. Tôi vùng dậy đẩy cửa. Biển vẫn còn mù sương. Thấy có chiếc phong bì ai đó để trên bàn tôi cầm lên. Đơn ly hôn của anh Thứ. Rụng rời hốt hoảng tôi chạy sang phòng anh. Cửa mở chị Lệ đang đứng ngoài ban công. Gương mặt vẫn như muôn thủa rười rượi phảng phất buồn. Tôi hỏi anh Thứ đâu? Chị Lệ bình thản:
- Anh cậu ra bến xe từ lúc bốn giờ. Anh ấy bảo tranh thủ vào Lâm Đồng thăm bố mẹ các em cuối tháng sẽ về.


Người tôi bỗng nhiên rã rời bải hoải. Trong tâm tưởng tôi hiện lên hình dáng anh Thứ mặc bộ đồng phục nhân viên bảo vệ khoác chiếc ba lô cóc bạc mầu đang lầm lũi cô độc đi trên con đường mòn vào những triền đồi cao của khu kinh tế mới Bảo Lộc Lâm Đồng. Tôi chị Lệ cả nhà đã mất anh. Nước mắt tôi ứa ra. Không thể để chị Lệ biết tôi quay ngoắt về phòng. Có tiếng chị với theo:


- Anh đi rồi ở  đây có hai chị em mùa biển vắng buồn lắm. Chiều ta về đi.


- Vâng – Tôi trả lời. Chị đâu có biết tôi buồn hơn cả chị.


Thế là chuyến đi biển chỉ có hai ngày chúng tôi đã về nơi xuất phát. Về đến làng Ngòi nhìn lên dấu tích của trạm điều dưỡng N96 ở quê tôi những năm bảy mươi đến nay chỉ còn là rừng cây xanh mướt. Chỉ còn những câu chuyện kể về các anh các chị thương binh dần như huyền thoại.


Tôi viết những dòng này trong một đêm ở biển mong ai đó đọc nhắn giùm tới anh Huấn tới những người thân yêu của anh Huấn rằng: Chị Lệ cháu Thực và cả anh Thứ nữa đang đi tìm anh.

 

NTS

 

NguỒn: VN Q Đ

 

NGUYỄN ĐỨC THIỆN BÌNH truyện MÙA BIỂN VẮNG

 

 

MÙA BIỂN VẮNG trong truyện ngắn cùng tên của Nguyễn Thái Sơn thực ra chỉ là cái vắng lặng thường tình tự nhiên như người bình thường nhìn thấy. Nơi ấy có thể vắng bóng người vắng những con thuyền trên biển vắng cả những cánh hải âu bay lượn trên mặt nước bao la.  Một không gian thật yên tĩnh. Nhưng những nhân vật xuất hiện ra ở đó không hề yên tĩnh một một chút nào. Những cơn bão đang trỗi dậy làm tan nát cõi lòng mỗi con người. Đó là một người đàn bà. Vào lúc nhuận sắc nhất một đời người lẽ ra phải được yêu và yêu thật say đắm. Phải được ngã vào lòng người đàn ông mà mình yêu thương và được hiến thân một cách trân trọng và tha thiết nhất. Thế mà một phút yếu mềm cô đã chấp nhận một cuộc tình vụng trộm và nhanh chóng với một người thương binh bị tâm thần. Cuộc tình vụng trộm đầy nữ tính ấy khiến cô mang thai. Bắt đầu từ đó cô phải chấp nhận một cuộc sống không thật với chính mình.

 

Nhân vật thứ hai là một người đàn ông. Đến với biển vắng nhưng trong anh lại nổi cơn bão lòng thật dữ dội. Bao nhiêu năm nay bắt đầu từ sự cảm thông độ lượng của người đàn ông chấp nhận một người đàn bà đã có thai làm vợ dang cánh tay nhân ái ôm vào lòng mẹ con người đàn bà bất hạnh. Nhưng anh không lường được sự bắt đầu nhân hậu đó lại cũng bắt đầu một chuỗi bất hạnh kéo dài. Anh ta không phải là đàn ông cái thứ làm cho đàn ông đàn bà siết lại với nhau kia không làm được cái việc mà Adam và Eva làm thời xa lắc xưa mà nên chuyện di truyền nòi giống con người. Thiếu nó mà anh ta trở nên hèn nhát ghen tuông tỵ hiềm và người đàn bà phải chịu đựng tất cả những cái đó từ anh. Người đàn bà không được hưởng hạnh phúc làm vợ nhưng vẫn cứ chịu đựng mà sống chung. Bên ngòai cuộc sống bình yên của hai người mãi rồi cũng không che đậy được những bức bối bên trong của chính cuộc sống ấy. Dù thật đau khổ người đàn ông bỗng muốn trở lại sự nhân ái ban đầu để có thể giải phóng cho người đàn bà. Biển vắng chứng kiến sự thú nhận của anh ta. Biển vắng cũng là chứng nhân để anh ta gửi gắm sự gồng mình của anh ta khi thực hiện việc chia tay với người phụ nữ là vợ mình. Để chị có thể đi tìm được cha cho đứa con của mình và nếu có thể tìm được người có thể làm chồng!

 

Nhưng thật đáng buồn hành động của anh ta tưởng như là nhân đạo tưởng như là vị tha kia lại là hành động thật cay nghiệt với người đàn bà. Bao nhiêu năm nay bằng sự hàm ơn chị đã thủy chung làm vợ dù không thể làm vợ như bao nhiêu người vợ khác. Có nghĩa là cuộc sống vẫn có thể diễn ra bình thường. Bây giờ đây chị phải chịu đựng thêm một lần nữa sự mất mát của cuộc đời. Thật cay ngiệt. Xin cùng ngừơi đàn bà kia buông một tiếng thở dài.

 

NGUYỄN ĐỨC THIỆN

 

 Lời bình: “ MÙA BIỂN VẮNG”/ 9/4/11

 Nguyễn Mỹ Nữ

Đọc xong truyện ngắn "MÙA BIỂN VẮNG” tôi đã phải chùng lòng đã buồn lắt lay đã phải ngẫm ngợi và không thể không ngậm ngùi.

 

Sao mà trớ trêu đến thế một số kiếp đàn bà như là chị Lệ. Là chị ruột của người kể chuyện nhân vật xưng Tôi trong: “ Mùa biển vắng” của nhà văn Nguyễn Thái Sơn. Sao mà oái ăm đến thế một thân phận người như là anh Thứ chồng của chị Lệ. Họ đã có một cuộc hôn nhân ổn định một mái nhà yên ấm trong mắt mọi người hằng mấy chục năm trời. Dư luận thì thấy thế cộng đồng thì nghĩ thế nhưng chỉ họ mới thấm thía và đắng đót đến dường nào cái sự chung sống này cái gia đình này. Ngay cả nhân vật Tôi cũng chỉ vừa mới biết rõ sự thật mới hay được bi kịch của anh chị mình trong một lần cùng nhau ra biển. Thu xếp một chuyến đi nghĩ mát ở Sầm Sơn cho cả ba là ý muốn của người anh rể. Để có điều kiện được kể lại chuyện xưa để mong một thu xếp và có được sự giải quyết hợp lý cho tất cả.

 

Anh Thứ sao có thể làm chồng khi anh ấy không là đàn ông một cái từ: “đàn ông” theo cái nghĩa thật thà và đúng đắn nhất. Vậy thì anh đâu phải là bố của con trai mình một đứa con được dòng tộc và xã hội thừa nhận hẳn hoi. Không làm nổi chức năng của một người chồng đối với chị Lệ nên nghe ra anh đã rất đau đớn khi thấu cảm đến tận cùng đời sống lứa đôi qua  lời tâm sự với em vợ: “…Vợ chồng hạnh phúc là gì hở cậu? Theo tôi chỉ cần tình yêu là đủ. Nhưng tình yêu phải là tình yêu trai gái tình yêu giữa giống đực và giống cái giữa âm và dương giữa đất và trời. Tôi và chị của cậu không được như thế. Nó chỉ là sự kết hợp của hai số phận mang những bi kịch trái ngược nhau và giống nhau là cùng muốn che đậy…”

 

Sự che đậy ở anh Thứ ngoài những điều đã kể trên còn là một đám cưới với chị Lệ cách đây những hai mươi chín năm bảy tháng sáu ngày. Một đám cưới với những đánh đổi là sự ngầm hiểu giữa hai người. Những dàn xếp tưởng chừng là thông cảm là sẻ chia nhưng thực chất thì cũng chả sòng phẳng gì bởi anh Thứ đâu đủ can đảm thú nhận với chị. Thật Ê chề với người vợ ngay trong đêm tân hồn khi mọi thứ đều được phơi bày. Nhưng chấp nhận ê chề để tránh được cái nhục không chồng mà có chửa để con của mình có cha trong một cuộc hôn nhân hợp pháp.

 

Họ đã bắt đầu cuộc sống chung bằng chính những bi kịch như thế đó! Bi kịch riêng hóa thành bi kịch chung khi thành vợ thành chồng thêm với Thứ vai trò là ân nhân của vợ. Thêm với chị Lệ vai trò người mang ơn cần phải trả. Một người thì phải cam chịu và một người lại lạm dụng sự cam chịu này để thể hiện cái trên trước đàn ông. Kinh khủng thật! Khi họ đã sống bên nhau theo cái cách ấy đằng đẵng gần ba chục năm trời.

 

Thật may rồi anh Thứ cũng đã quyết định như thế. Một quyết định giải thoát cho cả hai khỏi những dằn xé dằng dặc của đời mình. Và giúp cho đứa con của chị Lệ còn có cơ hội để tìm ra người cha ruột thịt. Một quyết định quả thật rất khó khăn và muộn màng. Nhưng dẫu có trễ tràng cách mấy thì cũng phải một lần cho tất cả để họ còn có thể được sống nhẹ nhõm và bình yên. Thật sự tôi thích: “ Mùa biển vắng” có một kết thúc như vậy dẫu buồn. Một nỗi buồn không đặc sệch nặng trĩu mà mênh mang mênh mang.

 

Nguyễn Mỹ Nữ

   

 

More...

TIẾNG LỤC LẠC/3163/ 30/4/2011

By Gã Phu Xe bất tử (Mai Thìn)

altTIẾNG LỤC LẠC/3163/ 30/4/2011

NGUYỄN QUANG LẬP


Quá nửa đời người anh chị mới gặp nhau. Âu đó cũng là chuyện thường tình. Sau hai mươi mốt phát đại bác vang trời báo tin ngày toàn thắng có hàng ngàn cặp vợ chồng cách biệt hàng chục năm đã tìm lại nhau. 

Chồng Bắc vợ Nam chồng vợ trong ngoài song sắt nhà tù Mỹ - Ngụy trên rừng d­ưới biển… ôm nhau mừng mừng tủi tủi. Thế là may mắn lắm rồi còn bao nhiêu cặp vợ chồng cách nhau một thước đất mà gọi hoài có nghe tiếng nhau đâu!

Anh tìm chị ở Nha Trang không có ở Phan Thiết không có. Ra Đà Nẵng mất mười ngày long đong tất tả ngược xuôi thì gặp chị ở khu tập thể Ban quân quản phường Minh Hiếu. Chị đang đứng giữa sân tay ôm một đứa bé lên hai. Hình như­ chị đang nói gì với nó.

Anh đứng sững lại ở cổng ngực nh­ư bị kim châm hỏa đập mạnh. Ngày anh chị xa nhau hai người nào đã có con…

Nhưng anh đã bước lên - từng bước chậm và chắc “Tiến lên đi không có gì đáng sợ cả” đó là khẩu hiệu của riêng anh suốt ba mươi sáu năm mặc áo lính. Chị chưa nhận ra anh- “Lại một ông nào đến ban quân quản đề nghị hợp đồng trách móc kiện cáo chi đây”. Anh thấy chị rõ lắm. Chao ôi chị vẫn trẻ trắng xanh thế kia.

-Lành! - Anh kêu khẽ.

Chị mở to mắt nhìn. Chị lúng túng đặt đứa bé xuống đất vừa sửa lại mái tóc vừa nhìn anh chằm chằm. Anh dừng lại cúi xuống sửa lại quai dép. “Khỉ! Tại sao mình lại làm cái trò này nhỉ?” - Anh ngước lên.

-         Ơ! Trời!

-             Chị nhận ra anh kêu lên và đứng ôm mặt khóc. Anh chạy bổ tới dang rộng tay ôm ghì lấy chị. Chị bỗng giật mình đẩy mạnh anh ra. Anh kinh ngạc ngẩn ngơ… Chị ngẩng lên: “Ơ chồng mình kia mà chồng mình đó chớ ai!”. Thì ra đó là phản ứng tự vệ bản năng của chị - hai mươi mốt năm ròng có ai ôm ấp chị đâu!

-             Chị sà vào ngực anh nấc lên: “Anh ơi!’ Sao lâu…thế?…” Ngày chia tay anh hứa với chị chỉ hai năm là gặp nhau thôi mà…

-             Anh đưa chị về khu gia binh s­ư đoàn. Anh là đại tá tham mưu trưởng sư­ đoàn. Còn chị ròng rã hai mươi mốt năm xa anh chị vẫn là một cấp dưỡng của các binh trạm 17 26 34… Tin anh tìm được chị chỉ một ngày sau tất cả cán bộ chiến sĩ trong sư­ đoàn đều biết đến chúc mừng.

 Sư­ trưởng Hùng người đã cùng anh chiến đấu mười năm nay đến chơi liên tục chín mười tối liền ông không giấu diếm tình cảm đặc biệt của mình đối với vợ chồng người cán bộ cấp dưới này. Một lần ngần ngừ mãi ông hỏi anh: “Hỏi thực chị vẫn còn có thể… có con chứ?”. Anh mỉm cười: “Còn anh ạ. Cũng lạnhà tôi đã bốn sáu tuổi rồi!”. Sư trưởng nắm hai bả vai anh lắc lắc: “Tốt quá? Tốt quá!”

-             Chị vẫn còn sinh nở được nhưng yếu sức lắm rồi.

Mư­ời sáu năm ở rừng chị nhiễm bệnh sốt rét kinh niên. Da chị xanh nhọt tóc rụng nhiều vàng ợt. Đêm đêm anh ôm chị vào lòng. Chị lắng tai nghe nhịp tim anh còn khỏe không. Anh cũng đã già rồi năm nay đã năm bảy tuổi chứ ít đâu.

Rất nhiều lần chị ngước lên thấy kề sát mình khuôn mặt già nua của anh những nốt sần của tuổi già cùng với mồ hôi cộm lên…Chị ôm anh sờ thấy da lưng anh trơn khô - những lớp tế bào chết ngày mỗi dày thêm. Chị thở dài chỉ một năm nữa nếu anh chị không có con coi như­ hết. Tuổi sinh nở của phụ nữ mấy ai tới được tuổi năm mươi!

Sáu tháng trôi qua vẫn chẳng có dấu hiệu gì báo cho anh chị rằng sẽ có một đứa con. Anh mỏi mệt nhìn chị mỏng như­ tờ giấy ngủ khó nhọc. Một đôi lần: chị kêu chóng mặt buồn nôn. Và nôn thật. Nôn thốc tháo. Anh cuống lên nhưng cũng khấp khởi mừng thầm…

-Không phải đâu anh ạ. - Chị buồn rầu nói: - Em đã sáu lần ngộ độc chất độc hóa học của Mỹ thả dạo em còn ở “xanh” từ đó em vẫn hay bị thế này!

Cổ họng anh nghẹn tắc.

Sư trư­ởng Hùng vẫn đến thăm anh chị thư­ờng xuyên. Ông hay nói về những bài thuốc bắc “kéo dài tuổi trẻ hạn chế tuổi già”. Ông tự tay đánh xe ra viện 17 mời trung tá bác sĩ Lê Giàu bạn chiến đấu của ông thời kháng Pháp một chuyên gia có tiếng về khoa sản vào khám bệnh cho chị.

Bác sĩ Giàu là một người hiền lành đa cảm. Nghe sư trưởng kể lại hoàn cảnh của anh chị ông vui vẻ nhận làm một “bác sĩ riêng” cho chị. Ông tỉ mỉ kê đơn tất cả các loại thuốc có thể có trong thành phố này để chị uống gia tăng thêm sức khỏe. Anh cầm thư­ giới thiệu và đơn thuốc của bác sĩ đi lùng khắp nơi và kiếm được không thiếu một thứ thuốc gì trong đơn kê kể cả những thứ thuốc quý hiếm nhất.

Đêm đêm anh vẫn ôm chị vào lòng. Mỗi đêm trôi qua chị càng thấy sự bất lực của hai người trước hy vọng của mình. Có đêm chị đã để tay lên mũi anh cố tình đánh thức anh dậy rồi chị lại nằm ôm anh khóc. Chị đâu nỡ đày đọa anh như­ thế nếu trước khi chia tay anh kịp để lại cho chị một dứa con.

Một đứa con! Thiếu nó mà nỗi nhớ thương xa xót của chị về anh suốt bao nhiêu năm đã tăng lên gấp bội. Những ngày ở rừng cứ nghe tin có một đoàn cán binh nào sắp đi qua là chị lại thấp thỏm mong chờ. Mong chờ và ngồi khóc với bếp lửa rừng.

Có một lần dạo chị còn cấp dưỡng ở binh trạm 26 nghe tin anh đang nghỉ chân ở binh trạm 34 chị gói cơm một mình cắt rừng đi suốt hai ngày đêm. Đến nơi chị kiệt sức và xỉu đi vì người đàn ông tên Chi đó không phải chồng chị. Anh ấy đã cầm tay chị nói một câu mà chị không thể quên được: “Thôi chị về đi. Vui vẻ mà về chị ạ. Chị cứ coi như­ chị đã gặp anh ấy rồi. Và tôi tôi cũng coi như­ đã gặp vợ tôi rồi. Chị ơi! Trong chiến tranh đôi khi cũng phải có những giả sử huyễn hoặc như­ thế để mà sống để mà trụ vững được…”.

Chị về cố gắng níu kéo cái niềm vui “giả sử” ấy để vượt qua 39 cây số rừng. Khu rừng chị đi qua vừa bị chất dốc hóa học dội xuống lá rừng bắt đầu rụng. Chị chạy sấp ngửa và ngã sấp bên một con suối. Tỉnh dậy chị gặp ngay ánh mắt người binh trạm trưởng: “Có… gặp không?”. Chị ứa nước mắt khẽ gật đầu: “Gặp rồi”. Mới đó đã mười một năm… Có lẽ vì chất độc ma quỷ ấy mà chị không có con chăng? Câu hỏi đột ngột ập đến cuối ký ức của chị làm chị bất ngờ ngồi dậy mồ hôi ướt đẫm.

Nhưng cuối cùng chị đã mơ hồ nhận thấy hạnh phúc đã về với anh chị. Khi đó chị ngước lên vẫn khuôn mặt già nua của anh lấm tấm mồ hôi. Chị rơm rớm nước mắt. Tự nhiên chị khẽ rùng mình. Một cảm giác mát rượi chạy từ gót chân lên môi chị. Chị níu anh xuống hôn đến nghẹt thở và chị òa khóc. Một chút ngơ ngác của anh. Mặc kệ. Chị rúc đầu vào nách anh mỉm cười.

Hạnh phúc đã thực sự đến với chị. Nhưng chị chưa thông báo cho anh hay. Chị phấp phỏng chờ đợi cho đến khi nó hoàn toàn chắc chắn. Một tháng sau chị vén áo lên thấy hai núm vú của mình đã chuyển màu tím sẫm. Chị ngắm say sưa bầu vú của chị đang căng dần… lúc đó chị mới nở một nụ cười mãn nguyện.

 Chị đ­ổ bệnh nôn và nhiệt độ tăng cao. Anh phải nghỉ việc một ngày. Trong sự mệt mỏi nhức nhối của cơn bệnh chị nhận ra đứa con thân yêu của chị đang thành hình. Đến ngày thứ ba chị tỉnh dậy ngồi tựa vào lưng anh thì thầm:

- Em… đã… có… mang…


Anh rú lên ôm chặt chị hỏi:


- Có đúng không? Xem nào!


- Xem gì kia? Vô duyên. - Chị đỏ mặt đẩy anh ra. Anh ngượng nghịu ngồi bên ôm vai chị lắc lắc:

- Đúng thế hả em?


Chị không trả lời lặng lẽ hôn lên đôi gò má cao gầy của anh. Đêm đó anh ngồi hút thuốc cho đến sáng chị giục anh mấy chục lần anh cũng chẳng chịu chợp mắt.


…Cuối buổi giao ban hàng ngày anh quay sang nói với sư­ trưởng:


- Anh Hùng này vợ tôi… có thai rồi?


Sư­ trưởng Hùng ngửa người ra sau:


- Thế hả? Có chắc không? Anh đã kiểm tra chưa?


Anh cười gãi đầu:


- Tối biết thế nào mà kiểm tra. Vợ tôi nói thế… chắc đúng. Một tháng năm ngày rồi…

 

Ông Hùng đưa tay giật giật cổ áo mỗi lần xúc động ông thường làm thế


-Tốt quá! Tốt quá rồi!

Ông quay sang thông báo “tin mới nhận được trong ngày” cho các sĩ quan dự giao ban

-         Tin mới toanh: Đại tá Chi sắp có con!

Mọi người ồ lên. Bắt tay. Bắt tay. Bắt tay. Cười. Cười râm ran. Anh cười… ứa nước mắt.

          Ngày sau đó khu gia binh râm ran chuyện vợ chồng đại tá Chi sắp có con. Vợ các sĩ quan kéo đến chia vui với chị. Chị ngồi lặng lẽ nghe các chị đã có con bày vẽ cho cách giữ gìn thai: ăn thứ gì kiêng thứ gì đi đứng ngủ ngáy ra sao. Chị nghe rồi mường tựa thấy đứa con của mình: khôi ngô bụ bẫm nó chập chững lần thành gi­ường đi về phía ba nó. Chợt nó kêu: “Pa! Pa!” và vẫy vẫy tay nhờ ba nó dắt qua một quãng khó điTiếng người nói quanh chị nhỏ dần quyện lại bồng bềnh trôi mơ màng như­ một bản nhạc nhẹ nhàng êm dịu…

          Đêm khuya khi chị đã chợp mắt được một lúc tỉnh dậy thấy anh đang lục lọi va li riêng của mình. “Tìm gì vào lúc này nhỉ?”. Chị nghiêng người nhìn anh. Anh ngẩng lên hớn hở:

-         Đây rồi!

Anh chìa cho chị xem tấm ảnh của anh thời còn bé:

-         Thằng con của chúng ta sẽ giống nh­ư tôi… như thế này.

Chị lườm anh:

- Biết là “thằng” hay “con” mà đã…

Anh ngẩn người “ờ nhỉ! ” rồi cười xòa.


- Nhưng thế nào nó cũng giống tôi.

Tháng sau tháng sau nữa… Chị bắt đầu đi lại khó khăn. Da chị đã xanh càng tái xanh hơn. Anh tích cực bồi dư­ỡng cho chị. Sư­ trư­ởng Hùng tặng chị một lít mật ong trộn rư­ợu trắng với lòng đỏ trứng gà. Bác sĩ Giàu vẫn thường xuyên đạp xe đến thăm thai cho chị. Chị đang sống trong thời kỳ sung mãn nhất của hạnh phúc thì đột nhiên đổ bệnh. Lần này nặng hơn đến nỗi sư trưởng Hùng có đêm phải thức trắng với anh ngoài hành lang phòng hồi sức. Bác sĩ Giàu trực tiếp chạy chữa cho chị ông nhận thấy khát vọng của chị đã trở thành nhiệm vụ khắc nghiệt đối với ông.


Bệnh của chị khá trầm trọng. Không chỉ suy dinh dưỡng thiếu máu vì tuổi già như­ một số ca bệnh thường gặp chị còn có một căn bệnh đáng sợ hơn đấy là chất điôxin của chất độc màu da cam đã ngấm toàn thân chị. Tất cả các bảng phân tích hóa nghiệm về chị đã cho ông khẳng định như vậy. Cố nhiên điều này thì ông giấu mọi người ông bình tĩnh chống trả quyết liệt với căn bệnh nguy hiểm của chị. Tin tưởng vào tay nghề của mình không bao giờ ông mất hy vọng.


Và rồi chị cũng đã khỏi bệnh. Chị ra viện tuy có yếu hơn vàng vọt hơn. Khi sắp đến ngày sinh nở hầu nh­ư chị đi lại không vững nữa. Anh dành tất cả thời gian rảnh ở bên chị. Anh trở thành cái nạng chống thực sự của chị. Chị mỗi ngày mỗi mệt nhọc uể oải hơn nhưng trên nét mặt vẫn không hề giảm đi niềm hân hoan của một phụ nữ đến cuối kỳ sinh nở bỗng nhiên có một đứa con.


Đêm anh vén áo chị lên ghé tai nghe tiếng đập của con mình. Anh nghe một cách nghiêm túc và kiên nhẫn. Rồi anh nằm xuống ngó lên cái lục lạc treo ở trần nhà. Cái lục lạc đã theo anh mười bốn năm nay khắp tất cả các chiến trường. Một người bạn chiến đấu trước lúc hy sinh đã trao lại cho anh: “Cứ mỗi lần thắng trận mày lại rung lên cho tao nghe thấy tao mừng”. Anh dã làm theo lời dặn đó chưa lúc nào quên.


Cái lục lạc làm bằng sừng dê được chuốt chạm trổ bằng bàn tay nghệ nhân mỗi lần rung lên nghe nh­ư tiếng trẻ con cười. Sau ngày toàn thắng nó được treo ở trần nhà. Ngày mai thằng con anh - không hiểu sao anh cứ nghĩ đó là “thằng” - lớn lên chỉ cần một tuổi thôi là anh đã giao lại cái lục lạc cho nó rồi. Nó có nghĩa vụ phải giữ gìn cái lục lạc cho hết đời mình. Để khi bố mẹ nó đã yên nghỉ dưới “suối vàng” mỗi lần thành công được một việc gì nó phải rung lên cho bố mẹ nó mừng…


Anh lại nhổm dậy vén áo chị ghé tai nghe tiếng con mình.


- Thôi mà!- Chị dịu dàng phản đối: - Anh làm phiền con quá.


Anh không chịu:


- Yên nào! Để anh xem con nó có ý kiến gì không?


Chị phì cười. Rồi chị cũng tự nhiên tò mò.


- Nó có “ý kiến” gì không?


Anh ngẩng lên đáp tỉnh khô:


- Không. Nó nhất trì hoàn toàn. Nhưng tại sao anh lại nghe “te- è te- è”… hay nó đang thổi kèn?

 Chị đập khẽ vào vai anh:


- Ông già ơi… ma bắt ông đi cho rồi.


Anh cười khà:


- Ngày mai anh sẽ giao cái lục lạc cho nó nó khỏi cần phải thổi kèn mệt


Và anh ôm hôn chị.


- Lão già này sẽ hỏi vợ cho thằng con lúc nó mười sáu tuổi.


- Lại “thằng”.


Nhất định là “thằng”lão già này đã nằm mơ thấy lão và con lão đến nhà bố vợ nó rồi!
***
Ngày đứa trẻ ra đời đã đến.

Chị run rẩy bước vào phòng hộ sinh. Hai nữ y tá dìu chị từng bước một lên bậc tam cấp. Bác sĩ Giàu đứng chờ ở cửa ông trực tiếp đỡ đẻ cho chị bởi vì ông biết chắc đây là một ca đẻ khó. Sau lưng chị là anh sư­ trư­ởng Hùng và gần sáu mư­ơi sĩ quan cùng s­ư đoàn. Họ hồi hộp ngóng theo bóng chị. Bác sĩ Giàu khép cửa ông giơ tay chào ra hiệu cho mọi người “cứ yên tâm”.

Một giờ… hai giờ… ba giờ .. Anh đã uống liền mấy cốc nước đầy. Sư­ trưởng Hùng thỉnh thoảng lại đưa tay rung rung cổ áo. Một vài sĩ quan ghé tai vào khe hở căn phòng chờ nghe tiếng trẻ khóc. Bốn giờ… năm giờ… một nữ y tá mở cửa bước ra lập tức chị bị giữ lại:

- Ra sao rồi?


- Chị Lành sinh rồi. - Chị y tá mỉm cười nói run run - Con trai


- A! Hoan hô!

Mọi người nhẩy lên. Sư­ trưởng Hùng ôm lấy anh lắc rất mạnh. Anh quay cuồng trong niềm vui sướng tột độ. Chợt anh nghĩ đến cái lục lạc mà anh nhớ mang theo khi đem chị vào vào viện…

Trong phòng hộ sinh. Chị nằm lịm đi sau khi đã hỏi “trai hay gái” và mỉm cười sung sướng được bác sĩ Giàu cho biết: con chị là con trai. Đứa bé đã được đưa sang phòng hồi sức thai nhi. Người hộ sinh già đang “tắm” cho thai nhi trong bể nước hấp nhiệt. Bác sĩ Giàu đứng dựa vào tủ thuốc thở dốc. Điều mà ông cố gạt đi trong tiềm thức có lý của ông đã đến… Đứa bé là một con người dị dạng! Chân trái cháu bị bẻ gập ra sau cứng ngắc. Mặt cháu bị bóp méo đến ghê gớm: mí mắt trái phình ra rất lớn kéo xuống bịt kín toàn bộ gò má. Môi dư­ới cháu cũng phình to trệ xuống quá cằm.

 Không! Tạo hóa không tàn nhẫn như vậy. Chỉ có chất độc màu da cam đã ngấm với nồng độ rất cao trong cơ thể người đàn bà tội nghiệp kia mới gây ra như­ thế.

Người hộ sinh già làm việc với một thái độ điềm tĩnh kỳ lạ. Tự nhiên ông thấy ghét người hộ sinh kia. Ông cảm thấy bức bối khó thở:

-         Nước! Cho tôi ly nước.

-         Ông kêu to. Một trợ tá từ phòng trực vội vàng cầm ly nước bước vào. Đi ngang qua đứa bé chị đứng sững lại giật lùi… Choang! Ly nước vỡ tan tành. Chị ngồi thụp xuống lặng lẽ ngước lên nhìn bác sĩ Giàu.

Ông không nói gì khẽ thở dài đi về phía cửa sổ. Ông mở hé cửa nhìn ra. Ngoài sân mấy chục người lính đang quay tròn bên bố của đứa bé mới sinh. Anh đang giơ cao cái lục lạc rung rung nói như­ reo:

-         Tôi sẽ hỏi vợ cho nó lúc mười sáu tuổi.

Tiếng lục lạc vang lên nghe như tiếng trẻ con cười./.


Huế tháng 10 năm 1984

/N.Q.L
(12/4-85)Nguồn:http://tapchisonghuong.com.vn/index.php?main=newsdetail&pid=5&catid=47&ID=7523&shname=Tieng-luc-lac

 

 

Lời bình truyện  “ Tiếng lục lạc”. 30.4.11

 

Nguyễn Mỹ Nữ

 

Tôi đọc truyện ngắn này lần đầu cách đây trên chục năm. Đọc cũng những ngày cuối tháng tư như thế này và giờ cũng thời điểm đó được đọc lại vẫn rất buốt lòng vẫn thật xót xa. Nhận ra những cảm xúc mình có hồi đó chưa hề bị xóa nhòa mất hút. 

 

Anh chị chỉ mới được gặp lại nhau sau khi chiến tranh kết thúc “…Thế là may mắn lắm rồi còn bao nhiêu cặp vợ chồng cách nhau một thước đất mà gọi hoài có nghe tiếng nhau đâu…”  Chấm hết một đời riêng cũng có nghĩa là mở ra một đời chung với cuộc sống lứa đôi nhiều yêu thương sẻ chia và không hiếm những lo toan hệ lụy những khát khao hy vọng. Ước mơ có một đứa con được anh chị ấp ủ nuôi dưỡng dằng dặc cả một thời gian dài mà bởi chiến tranh nên không thể và giờ bùng cháy mãnh liệt. Những năm tháng đó họ còn trẻ và khả năng làm cha làm mẹ rất dễ dàng thì lại phải cách xa. Còn bây giờ: “…Rất nhiều lần chị ngước lên thấy kề sát mình khuôn mặt già nua của anh những nốt sần của tuổi già cùng với mồ hôi cộm lên…Chị ôm anh sờ thấy da lưng anh trơn khô những lớp tế bào chết ngày mỗi dày thêm…” Sự có thể đã không còn thuộc về con người nữa rồi. Có cảm giác anh chị đang chạy đua với thời gian mà đối thủ này mới đến là khốc liệt chứ! Sự thua cuộc gần như đã rõ và điều này khiến không chỉ riêng anh chị quắt lòng mà cả nữa sư trưởng Hùng cùng hết thảy cán bộ chiến sĩ trong sư đoàn. Những tình cảm mà mọi người dành cho anh chị nào chỉ bởi anh là tham mưu trưởng sư đoàn. Là tình đồng đội là tình người là tất cả…

 

Cuối cùng niềm ước mơ cũng đến với họ như một sự đền bù. Chị có thai và cả khu gia binh như bùng vỡ sự xúc động và niềm vui. Anh chị đã mường tượng về quãng đời trước mặt. Đã thấy đứa con mình khôi ngô bụ bẫm chập chững tập đi tập kêu ba gọi mẹ. Họ chìm ngập trong hạnh phúc trong sự chia sẻ và lo toan của biết bao đồng đội. Đáng kể nhất vẫn là sư trưởng Hùng. Hồi chị chưa đậu thai thì ông mách chỉ họ những bài thuốc bắc rồi nhờ một bác sĩ giỏi trực tiếp giúp đỡ. Còn khi biết chị đã có em bé và sức khỏe rất tệ thì ông đem đến cho chị các thứ để bồi dưỡng và cùng san sớt với anh những âu lo khó nhọc trong việc chăm sóc người bệnh.

 

Ngày còn chiến tranh chị đã bị ngộ độc chất độc hóa học của Mỹ đến sáu lần. Đã có lúc bi quan là có thể bởi đó mà mình không thể làm mẹ. Chị: một cấp dưỡng của các binh trạm chỉ có thế nghĩ được đến thế nhưng bác sĩ riêng của chị bác sĩ Giàu thì sao có thể đơn giản một cách nhận định như vậy. Ông biết chất điôxin đã ngấm toàn thân chị qua các bảng phân tích hóa nghiệm và như thế là khát vọng làm mẹ của chị đã trở thành nhiệm vụ hết sức nặng nề của ông. Điểm nhấn của truyện ngắn này tất nhiên là chiếc lục lạc: “ Cái lục lạc đã theo anh mười bốn năm nay khắp tất cả các chiến trường. Một người bạn chiến đấu trước lúc hy sinh đã trao cho anh: “ Cứ mỗi lần thắng trận mày lại rung lên cho tao nghe thấy tao mừng…” Lâu này kỷ vật này vẫn được anh treo trên trần nhà. Đó sẽ là món đồ đầu tiên anh giao cho con và dặn nó giữ gìn suốt cả cuộc đời mình. Để khi bố mẹ không còn mỗi lần thành công phải nhớ rung lên cho bố mẹ biết để mừng. Chị rồi cũng sinh được con trai như mong đợi của anh. Và hẳn là một đứa bé dị dạng. Đó là điều họ chưa kịp biết nên niềm vui vẫn choáng ngập tâm hồn người mẹ và người bố đứng giữa mấy chục người lính vây quanh mình chúc mừng đã sung sướng đến tột cùng khi cầm cái lục lạc trong tay và rung lên từng hồi.

 

Những tiếng rung không còn nghe như những tiếng cười trẻ con như vốn ra nó phải thế mà nghe như tiếng khóc. Tiếng khóc chất chứa bi lụy rồi đây sẽ ám vào đời họ bám riết lấy họ siết chặt họ cả quãng đời còn lại. Dẫu chiến tranh đã đi qua. Cuộc chiến đã kết thúc nhưng chưa bao giờ là kết thúc những bi kịch trong từng số phận con người. Thế nên niềm ẩn trắc đẫm gắt những đắng cay mà: “ Tiếng lục lạc” đã gợi ra và gieo vào tâm hồn chúng ta sẽ mãi còn nguyên đó.

…………………………………………………………………….

Nguyễn Mỹ Nữ

 

 

LỜI BÌNH TRUYỆN NGẮN TIẾNG LỤC LẠC CỦA NGUYỄN QUANG LẬP

Lê Hoài Lương/ 30-4-2011

 

Câu chuyện như đang hiện ra trước mắt ta sống động và chân thật từng chi tiết. Đến mức cứ ngỡ mọi câu chuyện ra đời của những đứa bé là hoài thai ảnh hưởng chất độc da cam đều phải đâu đó có hoàn cảnh na ná như vậy. Đó là cuộc gặp nhau của đôi vợ chồng khá muộn sau chiến tranh. Ở đây là đại tá tham mưu trưởng sư đoàn Chi và vợ chị Lành. Họ cố tranh thủ chút cơ hội còn ít ỏi của chị để được làm cha làm mẹ những cố gắng rất đời thường giản dị mà xúc động. Cố gắng chạy đua bù lại xa cách đằng đẵng của chiến tranh bổ sung cho hoàn hảo một mô hình gia đình thời hòa bình. Sự cố gắng của vợ chồng anh chị là mối quan tâm của cả sư trưởng Hùng của các sĩ quan bạn bè sư đoàn. Và cuối cùng khi chị có thai thêm một người nữa quan tâm: bác sĩ trung tá Giàu người bạn thân của sư trưởng giỏi nghề trực tiếp chăm sóc sức khỏe cho chị. Riêng bác sĩ Giàu biết chị đang nhiễm trong mình chất độc da cam ông dùng tất cả kinh nghiệm thuốc men có thể để giúp chị. Rồi đến ngày chị chuyển bụng. Lúc bác sĩ Giàu đưa chị vào phòng sinh anh sư trưởng Hùng cùng hơn sáu mươi sĩ quan sư đoàn chờ tin vui bên ngoài. Anh không quên cầm theo cái lục lạc kỷ vật của một người bạn đã ngã xuống anh giữ mười mấy năm qua. Cái lục lạc làm bằng sừng dê rung lên nghe như tiếng trẻ con cười “mỗi lần thắng trận mày lại rung lên cho tao nghe thấy tao mừng!”- lời trăn trối của bạn anh định sẽ trao lại cho con sau này có gì vui cứ rung cho cha mẹ dưới suối vàng nghe vui theo. Cái lục lạc mấy tháng nay anh đã rung cho nó đứa con nghe từ trong bụng.

 

Có hai trường đoạn như trong phim thường thấy: bên trong bác sĩ Giàu và ca đỡ đẻ khó bên ngoài là anh với cái lục lạc sư trưởng và mấy chục sĩ quan. Chị đã sinh. Sau năm giờ căng thẳng. Con trai theo lời chị y tá. Cuộc mừng vui tưng bừng bên ngoài của mấy chục con người với tiếng lục lạc rung lên không ngớt của anh. Bên trong chết lặng vị bác sĩ giỏi nghề bên đứa bé dị dạng sự lo lắng chống chọi lâu nay của ông đã vô ích trước sự nghiệt ngã tàn nhẫn có tên đi-ô-xin!

 

Như không phải nhà văn Nguyễn Quang Lập viết truyện “Tiếng lục lạc” mỗi khi rung lên nghe như tiếng trẻ con cười đã sống động như một nỗi ám ảnh một sầm tối oan uất một tội ác ghê gớm con người có thể tạo ra. Tiếng lục lạc báo tin vui cũng là tiếng lục lạc của ngớp thở của sẫm mặt trước sự tàn nhẫn của số phận.

 

Tiếng lục lạc đã thành biểu tượng sừng sững sống động của sáng tạo của văn tài. Tiếng lục lạc của Nguyễn Quang Lập!

 

LHL

More...

Gửi về tháp cổ/2706/23/4/11

By Gã Phu Xe bất tử (Mai Thìn)

                 Gửi về tháp cổ/2706/23/4/11

                                                  Huỳnh Thạch Thảo * Truyện ngắn.

 

Chú yêu thương.

Khi chú nhận thư này thì cháu đã về lại quê nhà khá lâu. Đang đi làm và mọi việc dần bình thường trở lại sau chuyến đi đầy thú vị lẫn ngỡ ngàng. Xuất phát từ một dòng sông để trở về bên một dòng sông quen thuộc sau khi đi qua bao dòng sông mà hướng về phương Nam. Chặng đường đến Tuy Hòa thật nhiều đèo núi thung sâu nhiều cánh đồng bãi soi dọc theo đường cái quan và kể cả những chất giọng của mỗi vùng nghe cứ ngồ ngộ thoảng qua trong nắng gió của đất miền Trung.

 

Vào Tuy Hòa trong một mùa gió ào ạt lộng thổi của nam mái nam cồ trên những con đường rộng thênh chang nắng; nóng oi bức ngột ngạt thêm cái gió hanh hao khô se người cứ rin rít vì mồ hôi vì những hạt bụi len lỏi vào người. May mà khách sạn sát ngay thềm biển tạo vẻ êm dịu cho mọi người. Nhớ lúc xe đi dọc đèo Cù Mông thì cảnh vật lặng im qua Sông Cầu mát rượi của biển Tuy An thì đường gập gềnh ổ voi ổ gà lỏng chỏng cứ nghĩ vùng đất này sẽ chẳng gì vui nó nằm lọt thỏn giữa hai đèo Cù Mông và đèo Cả thắt chặt lại cô đơn cho một vùng đất. Ôi dào nghe ai cũng bảo cứ nghỉ tạm mai lại vào Nha Trang. Nghe ai cũng bảo cái gió Tuy Hòa là hung dữ là cuộn sôi sùng sục đầy ngang tàng; nó làm con người chao đảo khi gặp gió mệt nhoài vì gió bởi nó phóng túng đi ngang đi dọc.

 

Vậy mà khi gặp chú được đặt hẳn đôi chân trên đất Tuy Hòa có vòng cung biển nghe rõ cả tiếng sóng rì rào vỗ bờ cháu đã choáng ngợp trước một con người chứ không phải choáng ngợp bởi gió. Lạ thiệt. Cũng như bao người khác nhưng có tiếng nói ngồ ngộ xứ Nẫu cái cười nửa miệng và đôi                          mắt nheo nheo luôn chớp cũng kỳ kỳ là mái tóc dần bạc trước tuổi. Hiếm lắm nghe chú. Có người cố xua đi tuổi già bằng cách đi nhuộm có người để bạc thêm cho ra vẻ đạo mạo ta đây là người lớn tụi mi thứ con nít. Còn chú tỉnh rụi thả lòa xòa trước trán để tóc tràn qua tai tung bay theo gió như một việc mặc nhiên như không cần quan tâm đến nó. Vậy mà cháu vẫn chăm chú nhìn bởi hình như cháu đã từng gặp chú đâu như từ một tiềm thức thì phải; nó như cái thời của cháu khi bắt đầu biết yêu một chàng trai nơi bờ sông lộng gió nơi tháng tư vừa đến mang theo dư vị của đầu mùa gió lào khô se tràn ngập vườn cũ phía quê nhà.

 

Chú yêu thương.

          Tháp Nhạn mà chú kể rồi đưa đoàn lên ấy thật đẹp và lãng mạn bởi sự cô liêu trầm mặc của núi của cây của đất mọc lên giữa lòng thành phố. Đêm lung linh ánh điện bên dưới còn trên này độ cao của gió rít như gợi về thời chămpa cổ gợi nhớ các điệu múa Apsara một thời được khắc trên bốn bức tường gạch cao vọi. Tháp cổ trầm mặc rêu phong cho Tuy Hòa hiền dịu. Tháp cổ trong lòng thành phố để phố ôm lấy dáng núi hình mu rùa mà mặc tưởng; cho dù buổi sáng lung linh nắng cho dù buổi chiều hoàng hôn tím nhạt tỏa lên dòng sông bên dưới. Ngạc nhiên hơn khi từ cao nhìn xuống là một vòng cung con đường lên tháp cong cong cây cầu cong cong bờ biển cong cong con sông Ba từ Tây nguyên đổ về làm nên một dòng sông dài cong cong… Chú cười với cả đoàn bảo: Cổ tháp thiêng lắm đôi tình nhân nào từ nơi xa đến hãy úp lòng bàn tay cả hai vào tường gạch gan gà sẽ có hạnh phúc. Và  cháu nhẹ đặt bàn tay mình lên bức tường gạch đặt một mình khi bên kia hai người trong đoàn đang len lén chồng tay lên nhau. Tự nhiên trong sâu thẳm cõi lòng cháu cần bàn tay của chú kề cận.

 

Biển Tuy Hòa không đẹp nó vẫn còn hoang sơ cùng những lều quán tạm bợ dù những khách sạn trên đường Độc Lập mọc lên nhiều đủ hình dáng cao thấp. Cát mìn mịn dưới chân sóng xô tràn bờ và những con dã tràng chạy dọc ngang. Nơi kia là hàng dương và cát cứ trải dài cho rau muống biển tha hồ mọc. Bên này là cái dáng cao cao mái tóc bị gió xáo tung như vừa bị người yêu trêu chọc vần vò cổ áo không cài nút trên cũng bị gió thốc vào lộ ra một màu đỏ với vòm ngực rộng. Chú bảo còn hai năm nữa nơi này sẽ thoáng đãng vì có một quảng trường những công trình đang xây dựng để đất này đón 400 năm hình thành tỉnh lỵ. Bốn trăm năm là bao đời người là bao biến đổi trôi qua. Nhưng trong ý nghĩ riêng khiến cháu cười tủm tỉm một mình là chỉ có hai người và ngôi cổ tháp đậm nét thời gian.

 

Đêm. Chỉ có hai người trước biển lúc mọi người vượt lên đi trước cháu ngước mắt kiễng chân vì nhỏ con quát trong gió lộng vào tai chú: tay chú đâu? Chú nheo mắt cười. Hình như lúc ấy trên con đường có nhiều người qua lại tò mò nhìn cả hai và cũng hình như lúc ấy cháu chợt nhớ ông Khái Hưng viết truyện Trống Mái có hai nhân vật Vọi - Hiền gặp nhau trên biển. Nhưng không thể được Vọi đi biển và mãi mãi không về và cũng không thể được câu chuyện xảy ra ở Sầm Sơn chứ không phải ở Tuy Hòa. Tuy Hòa là cháu đi bên chú đây. Cổ tháp lung linh ánh điện có cháu đi bên chú đây. Và hai người đang ở hai thành phố dù khác nhau và xa vời vợi. Một nơi có gió hiu hắt với những bến sông cùng hàng cây in bóng và một nơi là gió đi ngang đi dọc; nhưng giờ cái gió nơi này sao nhẹ tênh sao ấm áp khác xa sự đồn thổi.

Ra gành Đá Đĩa thật xa và nắng nóng kinh người nhưng thật đẹp. Từng lớp đá hình đĩa  xếp chồng lên nhau cao vút và bên dưới sóng xô bờ ào ạt những cánh chim biển dang rộng bay vụt khi thấy bóng người. Viện lý do đi giày cao gót nên bắt chú đi cạnh và nắm tay cháu vượt qua những bãi đá. Mặt chú tỉnh bơ như đêm trên núi Nhạn cháu phải tìm nắm tay chú để xuống con dốc cong cong. Còn nơi đây cháu vẫn nắm tay chú nắm chặt đến run rẩy bởi khung cảnh đẹp rực rỡ và thảng thốt nhận ra rằng con người này tạo cho ta một cảm giác yên bình đã từng có đã vụt mất đi và giờ trở lại và cũng nghẹn ngào nhận ra rằng có một khoảng cách địa lý quá xa một lứa tuổi quá xa có bao người ở quanh bên chú. Ghen thật tình. Nhưng lúc này trong biển xanh ngăn ngắt kia gió lộng tràn trề kia chú bên cạnh đây hiện hữu ở ngay đây thì cứ xem là chộp được khoảng khắc hạnh phúc đã.

 

Chú yêu thương. Ngồi mà nhớ lại vào đêm Tuy Hòa yên ả. Thành phố về đêm dịu mát đường Hùng Vương rộng thoáng với cây xanh đường Nguyễn Huệ trầm lắng vì thành phố gì mà mới chín giờ tối đã vắng hoe mùa mưa chắc càng thê thảm. Hèn chi chú hút nhiều thuốc hút hoài nghe mưa rơi rả rích phải không? Hèn chi chú hay cười nhẹ bởi gió đã lấn át phải không? Thành phố gì mà đi một đoạn lại có ruộng có hai ngọn núi bốn cây cầu lớn khi mà Tuy Hòa như bàn tay nắm lại đã hết. Thành phố của gió và nắng và mưa sụt sùi bởi hai mùa rõ rệt. May sao còn có cổ Tháp bên dòng sông rộng dài bãi biển Long Thủy để có chỗ mà khoe Đá Bia mà ngắm Chóp Chài mà nhìn. Nhưng nhìn chú nheo mắt nói là đủ thấy đẹp. Đẹp và thương như những ly nước mang ra cháu đánh bạo cho ống hút vào ly chú để thử. Phát hiện ra nó dở òm. Chú cười vuốt tóc cháu sao chú không thể hiện một vòng tay ôm nhỉ? Hẳn nhiên sẽ ngọt ngào cho chú và ấm áp cho người đi xa.

 

Tuy Hòa của chú có hai công viên nhỏ như lỗ mũi của cháu. Một cái ở ở đầu vào thành phố bên chân núi Nhạn một cái ở cuối thành phố sát mé biển lúc nào cũng đông người; hàng ăn thức uống bày la liệt khói bay la liệt bàn ghế la liệt như khu chợ chồm hổm ngoài cháu. Nghe chú nói không phải hai mà có rất nhiều nằm rải rác từng khu vực nội ô. Nhưng cần gì công viên phố có đồng có biển có sông có núi đã hơn nhiều thành phố khác. Nhưng  cháu muốn nói có công viên thì chú sẽ dẫn cháu ra đấy mà tìm chiếc ghế đá vắng người dưới vòm lá thấp cháu sẽ kể câu chuyện người từ phương Bắc đã qua bao dòng sông tìm về như người từ trăm năm người qua sông rộng...Hình như chú đoán biết gỗ đá đâu mà không đoán biết ông nhạc sĩ Trịnh còn có ca từ cực hay là ngày sau sỏi đá cũng cần có nhau kia mà nên chú hẹn vào tối sẽ dẫn cháu dạo biển.

Tối chú vào khách sạn gọi người bạn thân đi trong đoàn và kêu cháu ra biển cho mát và để ngắm sao. Sao gì mà sao làm như chỉ Tuy Hòa có sao một mình chắc. Ngoài quê cháu sao còn rực rỡ hơn trong này nhiều. Mà cắc cớ chi phải đi ba người chỉ một đôi cho đẹp vì biển nơi nào cũng vậy vào tối là dành cho các cặp tình nhân. Thôi dằn dỗi nhưng trong lòng thì ngập tràn yêu thương. Đi thì đi đi để lắng nghe người bạn khen nhà chú có vườn cảnh đẹp mùa này vào thu hoa cúc vàng nở rộ trên lối đi. Chú cười mái tóc vờn bay theo gió trông như gã nghệ sĩ nửa mùa và cháu đã bảo ông bạn chú đi ra phía ngoài để cháu có dịp vô tư nắm tay chú mà dung dăng dung dẻ. Cháu hỏi “Giống gì chú?” - “Cha và con và bạn bên cạnh!”. Ừ thì cha con cũng đặng. Cháu le lưỡi ngước nhìn chú rồi quàng tay chú mà dài chân bước.

 

Người bạn chú bảo hai người cứ đi dạo rồi xin kiếu về phòng. Chú đưa cháu ra biển. Dãy đèn đánh cá phía xa hắt vào ánh sáng mờ ảo nơi khuôn mặt trầm tư của chú. Đêm nhàn nhạt trong mênh mông gió cát trong cô tịch bủa vây. Hình như cháu nhón chân thở nhẹ sát chú hình như chú đã cúi xuống hình như trong gió có nụ hôn thoảng qua thật nhẹ và mềm mại. Và kia rồi cháu đã thấy những vì sao lấp lánh rồi thấp mãi thấp mãi rồi vỡ òa tràn đầy tinh tú. Không phải đó là ánh sáng từ tháp cổ soi rọi đó là hai bàn tay cháu ấp chặt vào lòng đôi tay của người thiếu nữ trẻ trung nhí nhảnh chứ không phải hai bàn tay của hai người áp vào cổ tháp để mơ về khoảng trời xanh. Lâu sau có  tiếng  thở  dài “Thôi mình về” cháu ngoan ngoãn theo về lặng im cách chú một vòng tay không nhí nhảnh không bám víu không ngước mặt mà sao cứ run rẩy co ro như cả người vừa trải qua một cơn mê mộng mị có và không như một đợt mưa nhỏ vừa chao nghiêng qua người và trôi đi vội vã.

 

Chú yêu thương. Rồi cũng phải ra đi. Cả đoàn tíu tít chia tay người Tuy Hòa. Cháu lên xe sau chót để đợi vòng tay ôm giã biệt vòng tay ôm như một cử chỉ thân thiện mà chú dành cho mọi người không phân biệt một ai và quay đi nơi khác chỉ còn thấy mái tóc bồng bềnh chớm bạc trong nắng tháng bảy khô se hừng hực nóng rải trên đất Tuy Hòa. Lại biển lại những con đường thoáng rộng dưới các vòm cây lại Tháp cổ cánh đồng dòng sông. Tuy Hòa dần xa sau lưng khiến cháu muốn bật khóc. “Sao chú không đi cùng cháu?”; một bước chân là chú đã vào xe và bước nữa đã nhẹ nhàng ngồi bên cháu. Dịu dàng ấm êm biết bao. Tháp cổ kia rồi xe vẫn chạy trên vùng đất có những con đường ngắn rộng đi đâu cũng thấy tháp nên đi đâu cũng ước mơ về một miền hạnh phúc.

 

 Cháu đã đi qua các vùng đất miền Trung rồi ngược lên Tây nguyên gió ngàn với hoa dã quỳ trải dài đẹp rực. Nhưng cháu xoay lưng tất cả chỉ dõi về miền đất có ngôi tháp cổ dù nơi ấy nó còn hoang sơ tĩnh lặng nhưng vô cùng đằm thắm. Nơi ấy dung dị như nụ hôn theo gió của chú nơi ấy là những gì thoáng qua nhưng vô cùng sâu đậm từ một bước chân trên biển một bàn tay trên tháp cổ một cái nhìn dõi theo con nước từ một vòng cung dòng sông... Khi trở về nơi mình ra đi cháu luôn nghĩ đến một con người những bước chân trên cát ngày cũ dấu chân ấy sẽ còn mãi để một ngày nào đó cháu tìm về trong nỗi nhớ đong đầy. Khi ấy sẽ gọi chú bằng một vế khác gần hơn trìu mến hơn và cả chú cũng vậy chú nhé sẽ có hai bàn tay đặt nhẹ trên viên gạch tháp cổ trong gió lộng cùng với yêu thương ngập lòng.

 

Buổi sáng nơi công viên bệnh viện thành phố phía Nam. Người đàn ông ngồi trên ghế đá dưới vòm cây lần giở từng trang giấy viết tay đã nhòe mực đã sờn các nếp gấp rồi nheo nheo mắt đọc rồi vu vơ cười mỉm một mình. Ngày mai ông sẽ rời nơi này về lại Tuy Hòa khi mà các bác sĩ đã lắc đầu từ chối…Ông sẽ quay về với biển xanh cát trắng nắng vàng với những cơn gió nam non nam mái nam cồ. Mùa này hoa cúc vàng đã rộ trong vườn như lúc cô gái ấy đặt chân trên tháp cổ vào một mùa thu hoa cúc. Đã quá lâu cô ấy không vào để dạo chơi trên cát có sóng vỗ bờ. Và nó cũng đã khác trước chỉ còn những đợt gió trôi qua từng mùa. Ông sẽ choàng vai cô ấy mà nâng nhẹ cho một gót chân son đặt vào làn nước biếc như ước mong của cô và cả người mềm mại còn lại sẽ ngập tràn vào ông. Ông biết đã lỗi hẹn cho ngày gặp lại dù ngày mai ông có trở về vùng đất có ngôi cổ tháp mọc giữa lòng thành phố miền Trung…

 

                                                                                                       H.T.T

 

Huỳnh Thạch Thảo

Tạp chí Văn nghệ Phú Yên

15 Độc Lập – Tp.Tuy Hòa - tỉnh Phú Yên.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

LỜI BÌNH Truyện ngắn GỬI VỀ THÁP CỔ

NGUYỄN ĐỨC THIỆN

 

 Truyện ngắn GỬI VỀ THÁP CỔ của Hùynh Thạch Thảo như những tiếng gõ thật nhẹ vào cách cửa tâm hồn của con người. mong rằng sau tiếng gõ thì cánh cửa đời cánh cửa người sẽ mở ra và ở đó là một vùng cổ tích hoang sơ hoang hoải và thần bí. Hoang sơ hoang hoải bởi lòng người không phải ai cũng hiểu hết thần bí bởi ở đó cất dấu một tình cảm thật mặn nồng chan chứa mà không phải lúc nào cũng dãi bày ra được. Huỳnh Thạch Thảo đã làm được việc đó trong truyện ngắn của mình. Anh có thể kể cho người nghe những chuyện mà chỉ có vùng đất Tháp cổ mới có. Đó là con đường gập ghềnh đèo dốc là những căn nhà góc phố gắn bó với con người. Là nơi có thể lớn nhất hòanh tráng nhất nhưng   cũng có thể bé nhỏ trong con mắt người đời nhưng dù thế nào nó cũng là nơi dành cho con người tình cảm đằm thắm nhất và con người tự nhiên thôi cũng phải dành cho nơi ấy một tình cảm chân thành chan chứa nhất. Tác giả đã dành sự yêu thương trìu mến cho một mảnh đất mà mình nhớ đến nhức nhối lòng.

 

Điều đáng nói hơn trong truyện ngắn GỬI VỀ THÁP CỔ là ở một góc khác có vẻ như một sự cô đơn. Sự cô đơn ấy bắt đầu từ một kẻ xa Tháp cổ và của một người sắp trở về tháp cổ. Người đi xa nhớ về  tháp cổ với một vẻ đắm đuối lạ thường đắm đuối đến mức phải nói ra phải viết ra mới trải được lòng mình. Muốn lắm một sự thủy chung nhưng cuối cùng vẫn là kẻ rời xa và cách xa vời vợi. Khi bàn tay áp lên bờ thành cổ mong cuộc sống hạnh phúc mà chỉ một bàn tay thôi. Khi chia tay mong chờ một vòng tay ôm giã biệt. Còn người quay về là người đang phải đến với nơi về thực sự một đời người. Nhưng trước khi về nới ấy hãy về Tháp cổ để được thấy quê mình trong cảnh sắc đằm thắm yêu thương mênh mông trời nước và thắm đượm tình người.

 

Đến đây thì phải nói rằng Hùynh Thạch Thảo đã dụng công khá sắc nét để hòa chung hai con người người đi xa và người sắp về thành một để thể hiện thật sâu sắc tình cảm của mình với một vùng quê. Có ai không yêu quê mình khi phải bươn chải nơi đất khách quê người. Cá ai mà không tha thiết yêu quê khi sắp sửa phải đến cõi vĩnh hằng nhất là nơi ấy còn có bóng dáng người yêu không một lần được cùng áp tay vào thành cổ để cùng mong hạnh phúc bên nhau.

 

Bởi thế GỬI VỀ THÁP CỔ của Hùynh Thạch Thảo càng đọc càng thêm xúc động và không thể không rưng rưng khi đọc: "Ông sẽ quay về với biển xanh cát trắng nắng vàng với những cơn gió nam non nam mái nam cồ. Mùa này hoa cúc vàng đã rộ trong vườn như lúc cô gái ấy đặt chân trên tháp cổ vào một mùa thu hoa cúc. Đã quá lâu cô ấy không vào để dạo chơi trên cát có sóng vỗ bờ. Và nó cũng đã khác trước chỉ còn những đợt gió trôi qua từng mùa. Ông sẽ choàng vai cô ấy mà nâng nhẹ cho một gót chân son đặt vào làn nước biếc như ước mong của cô và cả người mềm mại còn lại sẽ ngập tràn vào ông. Ông biết đã lỗi hẹn cho ngày gặp lại dù ngày mai ông có trở về vùng đất có ngôi cổ tháp mọc giữa lòng thành phố miền Trung…"

 

 

NGUYỄN ĐỨC THIỆN

 

 

LỜI BÌNH TRUYỆN NGẮN GỬI VỀ THÁP CỔ CỦA HUỲNH THẠCH THẢO

Lê Hoài Lương/ 23/4/11

 

Gọi “Gửi về tháp cổ” là truyện ngắn cũng được khi gần đây những chấp nhận khá phong phú về hình thức các thể loại. Nói vậy vì dù qua cách kể chuyện bằng thư của một cô gái trong một chuyến đi tình cờ đã gặp đã yêu mến một người đàn ông lớn tuổi mà cô cứ xưng hô là chú cháu đã yêu luôn vùng đất Phú Yên thành phố Tuy Hòa của người đàn ông kia và rồi cô hẹn ngày trở lại sẽ có thể nhiều hơn cái hôn gió tạm biệt sẽ thay đổi cách xưng hô… Đoạn cuối ngoài thư cho thấy cơ hội ấy không còn khi người đàn ông chẳng thể còn đến ngày gặp lại cũng là một cái kết quen thuộc để tạo nên chút nuối tiếc chút ngui ngút dịu êm một giấc mơ chưa trọn một bài thơ chưa trọn một lời yêu dang dở. Nhưng thực ra với hình thức với nội dung trên bảo “Gửi về tháp cổ” là trang tản văn tùy bút ngợi ca quê hương qua hư cấu chuyện cô gái khách xa đến gặp đất gặp người Phú Yên- Tuy Hòa để niềm yêu được tha hồ tung tẩy cũng đúng.

 

Hình thức thể hiện này khá thoải mái để cảm xúc miên man trôi về tình đất tình người một nét văn cơ bản của Huỳnh Thạch Thảo. Văn đẹp đẫm cảm xúc về nắng gió Tuy Hòa về tháp cổ và ước vọng về tình yêu khi hai bàn tay người nam người nữ chồng lên nhau Về sông Ba duyên dáng Về biển đẹp Về phố xá yên bình. Và tất nhiên cái nét lãng mạn chính của hai con người một chú một cháu vượt ngoài mọi khuôn khổ thông thường từ gặp gỡ và xao động rồi chia xa đã tạo một thiên diễm tình nhiều mơ mộng thường gặp trong tiểu thuyết nhiều hơn ngoài đời. Đó như một cuộc ve vuốt trái tim vốn ưa thích chiều nịnh Như chút tự huyễn thơ mộng.

 

Đúng vậy thành công nhất của truyện ngắn này là văn đẹp dù tin hay không cuộc mơ màng ve vuốt trái tim cuộc thơ mộng hóa đời sống trên tổng phổ đầy yêu thương về quê hương về tình người. Cũng là sự kiên trì với nét văn quen thuộc với bạn đọc của nhà văn Huỳnh Thạch Thảo khi nhiều người luôn tìm tòi những cách viết mới. Đọc Huỳnh Thạch Thảo chợt nhớ mấy không gian đẹp vô ngần của An-phông Đô-đê hoặc Mô-pát-xăng những truyện ngắn “Những vì sao” “Dưới ánh trăng”…

 

Vậy là luôn có cái lý cho những lựa chọn con đường của mình trong văn chương khi gặp lại chút thoảng nhẹ nhàng và buồn đẹp từ tháp cổ của Huỳnh Thạch Thảo../.

 

LHL

 

More...