MỘT CUỐN SÁCH THÚ VỊ VÀ BỔ ÍCH

By Gã Phu Xe bất tử (Mai Thìn)

MỘT CUỐN SÁCH THÚ VỊ VÀ BỔ ÍCH

(Đọc tập “Làm chủ bản thân” NXB Trẻ 2010- Trà Ly tuyển dịch)

Tuyết Nhung

 Sách gồm 55 câu chuyện nhỏ nhiều tác giả do dịch giả Trà Ly tuyển dịch nằm trong tủ sách “Sống đẹp” quen thuộc của Nhà Xuất bản Trẻ. Kênh sách này cũng đã có từ lâu kiểu những tủ sách “Học làm người” “Túi khôn muôn đời”… những kho tàng tri thức những mẩu chuyện hay kim cổ về kinh nghiệm sống về hành xử gương tốt về những bài học rèn ý chí tu dưỡng đạo đức lối sống.

 

Năm phần “Phẩm cách” “Thành công” “Xử thế” “Quan niệm sống” “Bài học cuộc đời” là cách chia chủ đề có tính tương đối mỗi câu chuyện của cuốn sách về căn bản đã hàm chứa những nội dung trên. Điều thú vị là chuẩn bị vào “thế giới” mỗi phần luôn có một đúc kết cô đọng sâu sắc kiểu “lời hay ý đẹp”. Cách trình bày này khiến sự chuẩn bị về tâm lý cho người đọc thêm trang trọng và do vậy ý nghĩa mỗi câu chuyện ít nhiều được dẫn dụ hoặc gợi mở khám phá hoặc có tính đúc kết như một minh triết. Ví dụ cùng đọc và ngẫm phần đề dẫn cho “Bài học cuộc đời”: “Có người làm việc lúc đầu thì cẩn trọng sau lại cẩu thả. Có người làm việc lớn việc khó thì cẩn thận ngược lại làm việc nhỏ việc dễ thì lại xem thường. Vậy nên phải làm việc một cách miệt mài cẩn thận dù đó là việc lớn hay việc nhỏ việc khó hay việc dễ không so đo tính toán mà hãy toàn tâm toàn ý với điều mình muốn làm. Đó là bài học lớn nhất mà cuộc đời muốn dạy chúng ta”. Và mỗi câu chuyện sẽ tiếp tục củng cố sẽ sống động những kiến giải. Trước mắt người đọc là những bức tranh cuộc sống sinh động mọi thời những lát cắt cô đọng giàu tính khơi gợi hay đúc kết. Có thể kể tên thật nhiều những mẩu chuyện thâm thúy lý thú trong tập sách như: Diêm vương phán sinh tử Người ăn xin chuyển gạch Bán lược cho hòa thượng Hạnh phúc là gì Nếu được sống lần nữa Thiên đường hay địa ngục “Phật tổ” và “người hầu”…

 

Có những truyện giản dị mà sâu sắc như: Quét lá sân chùa Chết có phải là tất cả…;   có truyện nhiều thâm trầm ngẫm ngợi như Hai người mù Người đàn bà xấu tính…. Sách tuy chia phần theo chủ đề nhưng chuyện đa dạng người và vật xưa và nay đẫm hương vị thiền hay ý nhị nụ cười dân gian.

 

Chính vì vậy cuốn sách còn thoải mái ở cách đọc: có thể giở ra tình cờ mẩu chuyện nào hoặc đọc tuần tự người già và trẻ đã đi làm hay còn đi học mọi thành phần lứa tuổi đều thấy thú vị.

 

Đây là cuốn sách dịch thứ 10 của dịch giả tiếng Trung Trà Ly kể từ cuốn đầu tay của ông in năm 1986: “Những điều kỳ lạ ở đất nước Ô-dơ”. Đều đặn từ ấy đến giờ cứ vài năm ông công bố một cuốn sách mới dịch khi là truyện thiếu nhi lúc sách rèn luyện kỹ năng rèn trí thông minh khi truyện ngắn khi tiểu thuyết có cuốn trăm trang có cuốn nghìn trang. Cần mẫn cẩn trọng cái tên Trà Ly hoặc Phan Trọng Cầu đã khá quen thuộc với mảng dịch thuật các báo tạp chí văn cả nước. Cũng là một góp phần đáng ghi nhận cho vườn văn Bình Định sum xuê đa sắc.

 

TN

 

 

 

 

 

More...

Thư viện của Người hát rong trên cõi tạm

By Gã Phu Xe bất tử (Mai Thìn)

 

Kỷ niệm 10 năm ngày mất nhạc sĩ Trịnh Công Sơn nhà văn Trương Văn Dân từ Italia đã gửi cho maithin bài viết này. Xin cảm ơn anh Trương Văn Dân và trân trọng giới thiệu những tình cảm nồng thắm mà người Việt ở Italia đã dành cho nhạc sĩ Trịnh Công Sơn.

 

Thư viện của  Người hát rong trên cõi tạm

                                  Trương Văn Dân                                                                                                                                    

          Tôi và vài người bạn  xa nhau hơn 30 năm rồi một hôm gặp lại! Bỡ ngỡ nhìn nhau tưởng như một sự tình cờ nhưng ngẫm lại thì cuộc hội ngộ này đã  được sắp đặt bỡi một người đã khuất. Điều kỳ lạ là đối với  người giờ đây đã thành thiên cổ tất cả chúng tôi đều biết nhưng chẳng mấy ai quen.

 

Không quen chỉ biết ấy thế mà với anh chúng tôi đều có cảm giác là mang chung một món nợ. Một món nợ tinh thần. Bởi  vì từ rất lâu anh đã nói hộ chúng tôi rất nhiều điều: Trong tình yêu anh nhắn nhủ những tự tình trong cuộc sống anh bày tỏ những niềm đau khắc khoải hay gửi gắm những ưu tư về thân phận con người mà trong đó thế hệ chúng tôi đều sinh ra trong bom đạn lớn lên trong chiến tranh rồi trưởng thành trong chia lìa mất mát.

 

Là chứng nhân nhưng chúng tôi chỉ  lặng lẽ đi qua cuộc đời hay chịu đựng trong câm lặng.

 

Và anh anh đã nói những nỗi niềm cho tất cả chúng tôi nói bằng một thứ âm thanh và ngôn ngữ mà khi ngân lên như len lỏi vào máu thịt đi thẳng vào trái tim và làm rung động đến những phần sâu thẳm nhất.

 

          Những ca từ của anh đã chạm đến đáy lòng của lớp  thanh niên triền miên sống trong âu lo phập phòng trước cuộc chiến đang làm rách nát quê hương và  dày xéo lên lương tâm những người yêu chuộng hoà bình.

 

           Người ấy  Trịnh Công Sơn.

 Nhưng Trịnh Công Sơn Anh là ai  ?

 

Tôi đã nghe anh tự nói về mình : “Tôi chỉ là một tên hát rong đi qua miền đất này đã hát lên linh cảm của mình về những giấc mơ đời hư ảo” hoặc  lắng nghe một trí thức lỗi lạc từ miền bắc sau  1975 đã phải thốt lên: “ Cái  anh Trịnh Công Sơn này lạ thật anh ta muốn ôm hết những mâu thuẩn  và khát vọng vào mình.”

 

  Đối với anh Sơn ca khúc là “đời sống thứ hai sau cái thân thể mà cha mẹ đã sinh thành” (phác thảo chân dung tôi TCS 1987) và anh đã diễn đạt lòng mình qua giai điệu.

Hơn 30 năm nhiều người đã hát đã say mê giai điệu cuả ca khúc da  vàng và tôi tin là thời gian sẽ kéo dài vì  những  nốt nhạc đẫm nỗi buồn thân phận kia sẽ còn ngân  nữa và  làm cho nhiều trái tim thổn thức.

 

Dù một  ngày đầu tháng tư của hai năm trước người hát rong  về tình yêu kia đã không còn nữa. Anh đã rời cõi tạm này để lại một gia tài ca khúc thật   đồ sộ nhưng có lẽ cái cao quý nhất vẫn là tấm lòng thiết tha của anh đối với cuộc đời.

 

Và hôm nay những ca từ của anh đang ngân vang và vẫy gọi  anh em chúng tôi tìm đến nhau và đến với anh hội ngộ trong một đêm văn nghệ tại một thành phố đầy thơ mộng trên đất Ý .

 

  Buổi sinh hoạt này do Quỹ Tương Trợ  Người Việt tại Italia  tổ  chức (31-5-2003) theo lời mời của chị  Sandra Scagliotti   giám đốc  Trung Tâm Nghiên  Cứu Việt Nam (CSV- Torino)  nhằm gây quỹ và đóng góp cho việc thành lập thư viện Trịnh công Sơn tại Italia.

     

Đến Ý từ những năm đầu của thập kỷ 70 sau một khoá học tiếng Ý ngắn hạn tại trường Đại học cho người ngoại quốc ở Perugia chúng tôi phân tán phần lớn theo học ở những phân khoa kỹ thuật nằm ở miền Bắc Ý. Tuy vậy cũng có một số  ở lại miền trung Ý. Và tuy củng ở trên một đất nước không lớn lắm nhưng có một vài người  từ bấy đến nay chưa một lần gặp lại.

 

          Ba mươi  năm lúc quen nhau tóc hãy còn xanh giờ gặp lại tóc đã nhuốm màu sương tuyết. Thời gian nói theo ngôn ngữ Trịnh Công Sơn mỗi năm trôi qua là mỗi lần  mang đi những giấc mơ của tuổi thanh xuân mang theo một thời hoang tưởng của những cuộc rong chơi không quan tâm về nơi đến  chốn về.

                                                  &

 

Thính phòng đang nhốn nháo bỗng im bặt một người Âu từ phía sau hậu trường bước ra trịnh trọng rót rượu rồi nâng ly cao lên  khỏi đầu. Chén rượu vàng sóng sánh trong ly bàn tay anh run run va giọng nói cũng run theo xúc cảm : “Anh Sơn ơi em mời rượu Anh đây.” Lời vừa dứt anh ngửa cổ uống cạn một hơi. Nghe tiếng khà...của anh mà bỗng dưng  tôi thấy mũi nồng cay như dâng lên trong lòng mình một nỗi bồi hồi.

 

Người Âu đó chính là Frank Gerke giáo sư ngôn ngữ học Châu Á tại đại học  Bonn (Đức) và cũng là người em kết nghĩa của Trịnh Công Sơn anh lấy họ Trịnh và tên Việt là  Trịnh Công Long.

 

Trước mắt anh là màn bạc trên đó có hình Trịnh Công Sơn đội nón kết mang kiếng trắng với cái nhìn đăm chiêu hướng về   hàng chữ : “Bao nhiêu năm rồi còn mãi ra đi đi đâu loanh quanh cho đời mỏi mệt”.

 

Sau  lời giới thiệu bằng tiếng Việt thật chuẩn của Trịnh Công Long các ca khúc lừng danh của Trịnh như“Hãy yêu nhau đi” “Diễm xưa” “Biển nhớ” đã được hát lên. Có người bạn cứ  ấn tượng mãi về lời chia tay trong tiếng hát Thái Hoà : “Ngày mai em đi biển nhớ tên em gọi về” vì quê hương luôn dang rộng vòng tay đón những người con người bạn trở về. Trở về để “Nối vòng tay lớn”  để “Dựng tình người trong ngày mới”.

 

Sau “Nối vòng tay lớn” những bài hát phản chiến “Người con gái VN da vàng” “Tôi có người yêu ” đã được cất lên. Tiếng hát như bày ra sự toang hoác trần truồng của chiến tranh cùng với tâm trạng hụt hẫng của tuổi trẻ trước bi kịch đất nước  mà anh đã đớn đau nhận lãnh rồi biến hoá thành nghệ thuật. Anh đã hát cho Việt Nam mà cũng nói hộ cho nhân lọai nỗi tuyệt vọng của cuộc nhân sinh sự phẫn nộ của chiến tranh   và lòng khao khát hòa bình.

 

  Anh đã từng nói về người Việt: “Mỗi con người Việt Nam đều sống cùng một lúc hai thân phận.Thân phận chiến tranh và cái thân phận bình thường của nhân loại nó như một loài lạc đà hai bướu gánh nặng một hành trang  quá tải qua cuộc sống này.”

 

Trong một trang nhật ký của mình một chiến sĩ giải phóng đã viết từ  bên kia chiến tuyến lần đầu nghe  hát bài nối vòng tay lớn: “Bài ca có tác động làm chùng tay súng một ngày một giờ mà sinh mệnh hàng triệu con người nằm trên đường tơ kẽ tóc. Mặt đất bao la...anh em ta về ...gặp nhau mừng như bão cát quay cuồng trời rộng... Lời ca không phải là tiếng thách thức tử thủ không phải là tiếng bể máu như kết cục thường có của chiến cuộc mà lời ca khi ấy làm chùng xuống không khí thù hận và hằn học.”


          Hơn hai mươi lăm năm chiến tranh Việt Nam đã kết thúc và sự tàn khốc của nó vẫn còn là một vết thương chưa khép miệng trên lương tâm nhân loại.

Và lịch sử đã dạy cho chúng ta điều gì ?

 

          Nếu con người có thể rút ra được những bài học thì tại sao cứ mỗi thời kỳ thế giới lại tiếp tục tái phạm những sai lầm và thực hiện những tội ác  phi nhân ? Vừa dứt chiến tranh bức tường Bá Linh đổ xuống ai cũng hy vọng  là con người trưởng thành thêm một chút sợ hãi hơn chín chắn  hay nhân ái hơn nào ngờ cuộc chiến Yugoslavie Afghanistan Iraq Đông Timor lại bùng nổ. Người ta khủng bố giết nhau vì dầu lửa vì quyền lợi phe nhóm và tàn sát như thuở còn man di mọi rợ.

 

Trong ánh sáng của toàn cầu hoá đang san bằng văn hoá và tất cả  mọi giá trị những thành phố xa lạ.....cách nhau hàng nghìn km bỗng trở nên giống nhau vì tất cả đều đã biến thành đống gạch vụn ;  Những con người đủ mọi màu da tập quán kinh nghiệm sống và ước mơ khác biệt... bỗng chốc giống nhau không phân biệt được vì  thân xác đã biến thành những mảng da thịt thiêu cháy thân thể tách rời...

 

Chúng ta đã học được gì từ những tan hoang ? Đổ nát ? Hay chỉ nhìn thấy máu chưa kịp khô đã liền đổ nữa ?

 

Và bởi con người trì trệ trơ trơ...nên những ca khúc văn chương phản chiến cần phải có để làm cho chúng ta thức tỉnh và đưa tâm hồn chúng ta có thêm hy vọng và cuộc đời có thêm ánh sáng. Bởi cái đích của văn nghệ là nhắm đến Chân Thiện Mỹ cần phải vươn tới dù có thể ngã gục giữa đường.

 Ngã gục vì dường như con người càng thông minh thì càng gian ác bạo tàn. Trí thông minh mà thiếu lòng nhân ái thì chỉ mang đến huỷ diệt.

 

                                                  &

 

Sau cuộc thay đổi của đất nước Trịnh Công Sơn đã ở lại. Tất cả những hứa hẹn những mời mọc ân cần từ các nơi trên thế giới Nhật Canada   Hoa kỳ... anh đều từ chối và chấp nhận gắn bó với quê hương mà anh đã sinh thành và lớn lên dù có khi chính quê hương ấy đã  gây cho anh nhiều hệ luỵ và đớn đau mất mát.

 

Và chính sự ở lại này đã mang lại cho anh nhiều tiếng khen chê. Trước những bình phẩm ấy anh chỉ yên lặng hoặc vỏn vẹn trả lời bằng hai chữ “ thôi kệ” như mỗi khi có ai lừa gạt hay làm anh phật ý. Thái độ sống  của anh ngoài bản chất nhân ái hiếu hoà còn đứng trên mọi khôn dại toan tính đời thường.

 

Trịnh Công Sơn đã được người yêu và bị người ghét. Nhưng dù muốn dù không một vị trí đặc biệt trong trái tim của họ đã bị anh chiếm  giữ bởi ca từ của anh bằng cách này cách nọ đã thấm sâu vào cái mầm thiện trong lòng họ. Vì thế kẻ chống người theo khi riêng mình vẫn nghe  hay hát nhạc Trịnh.

 

          Chính điều này đã minh  chứng là ca khúc của anh đã vượt lên trên lòng thù hận.

                         

          Trong tiếng hát âm vang của các bạn  đến từ khắp nơi trên nước Ý có người lặn lội từ Thuỵ Sĩ   Pháp Đức  hay từ tận Canada xa xôi... tôi nhìn khắp khán phòng.  Tôi cố ghi lại trong  trí những khuôn mặt của họ và đối chiếu với ngày vừa đặt chấn đến sân bay Fimumicino bao nhiêu năm truớc.

 

          Bước đi của thời gian  vô hình hơn 30 năm qua cũng dễ dàng thấy được qua những sợi tóc trắng đã chiếm đa số  trên mái đầu của bạn bè đây là những đổi thay không bao giờ trở lại.

 

 Năm tháng đã trôi đi bao nhiêu dòng nước đã chảy dưới cầu trên đó   dấu chân tình yêu đã đi qua cùng những khắc khoải của chiến tranh. Những đứa bé ngày xưa giờ trở nên chững chạc. Những thiếu nữ ngày nào đã trở thành thiếu phụ và những nấm mộ bây giờ  cỏ đã xanh xao... tất cả bốn thế hệ đã và đang hát những bản tình ca của Trịnh Công Sơn ; Còn những bài ca chống chiến tranh đó đây vẫn vang lên những tiếng ngân căm phẫn và tuyệt vọng vì thế giới đã chứng minh là chiến tranh không bao giờ chấm dứt.

 

Cảm ơn chị Sandra mà thư viện Trịnh Công Sơn đã được ra đời.

 

Đây cũng là lần đầu tiên tài sản âm nhạc của một nhạc sĩ Việt Nam được lưu giữ tại một thư viện riêng mang tên chính mình. Nhân dịp nhạc sĩ Trịnh Công Sơn được trao tặng Giải thưởng Âm nhạc Hòa bình Thế giới

 

                                                                             Trương Văn Dân

Thành viên sáng lập QTT người Việt tại Italia

 Milano 30/5/2003

 

 Bài viết nhân ngày giỗ năm thứ hai Nhạc Sĩ Trịnh Công Sơn  do Quỹ Tương Trợ  Người Việt tại Italia  tổ  chức hai buổi sinh hoạt văn nghệ ngày  29-05-2003 tại Trung Tâm Nghiên Cứu Việt Nam (CSV-Centro di studi  vietnamiti - TORINO) và ngày 31-05-2003 tại Cavaion  Veronese thuộc thành phố Verona nơi phát xuất chuyện tình lãng mạn của Romeo và Giulietta.

 

Buổi họp mặt có sự tham gia đóng  góp cộng  tác của chị Sandra  Scagliotti người đã sáng lập Trung Tâm Nghiên Cứu Việt Nam (CSV) các bạn Việt kiều vùng Torino Brescia Bergamo Verona Mantova và các bạn Việt Nam sinh sống tại  Pháp (Lyon Paris) ca sĩ Thái Hoà đến từ Canada và anh bạn người Đức Frank Gerke 

 

Ý tưởng thành lập thư viện Trịnh Công Sơn là của chị Sandra Scagliotti  và được những anh em trong Quĩ tương trợ người Việt tại Ý hết lòng hổ trợ.

 

Thư viện Trịnh Công Sơn tại Ý sẽ phối hợp chặt chẽ cùng gia đình cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn các bè bạn tại VN các hội đoàn và tổ chức văn hóa yêu mến Trịnh Công Sơn ở các nước để thực hiện việc lưu trữ dịch thuật phân loại đánh giá về gia tài âm nhạc và con người của Trịnh Công Sơn phục vụ công chúng và giới sinh viên các nhà nghiên cứu ở nước ngoài.

 

Thư viện Trịnh Công Sơn là một phần của Trung tâm văn hóa Việt - Ý do chị Sandra Scaglotti làm Giám đốc. Hiện nay Trung tâm đã có một thư viện Việt Nam với khoảng 5000 cuốn sách viết về Việt Nam trong rất nhiều lĩnh vực chủ yếu do cá nhân chị Sandra và bạn bè sưu tập từ suốt mấy mươi năm qua.

 

QTTL Quỹ tương trợ người Việt tại Ý) Là tổ chức của người Việt tại Italia được thành lập (2002) bởi sự gợi ý của 6 sáng lập viên  nhằm qui tụ người Việt định cư tại Ý với mục đích hướng về quê hương.  Hoạt động chủ yếu trong 3 lãnh vực : Từ thiện văn hoá xã hội       

         

          Tính đến 2010 thì QTT  đã cấp  khoảng 1000 học bỗng cho các học sinh sinh viên nghèo ở Việt Nam đã xây dựng lại trường Tây Thuận ( Tây Sơn Bình Định) bị đổ nát vì bão lũ và  đóng góp hơn 300 triệu đồng cho các công tác từ thiện khác ( cứu trợ bão lụt giúp trẻ em mồ côi trẻ em khuyết tật...)

 

 

 

More...

MỘT CHUYỆN TÌNH THỜI CHIẾN TRANH/ 2209/ Phát tối 2/4/2011

By Gã Phu Xe bất tử (Mai Thìn)

MỘT CHUYỆN TÌNH THỜI CHIẾN TRANH/ 2209/ Phát tối 2/4/2011 

Truyện ngắn Trung Trung Đỉnh 

 

Tôi được ông Ba Sang gọi lên lán chỉ huy để nhận nhiệm vụ. Thực lòng tôi chẳng ưa gì ông một ông già khó tính mặt lúc nào cũng lầm lầm lì lì khô như củi. Ngoài bốn mươi tuổi mà ông vẫn chưa có “thời cơ” lập gia đình phần vì hoàn cảnh chiến tranh quanh năm suốt tháng ở phía trước. Phần vì bản tính ông khô khan thế nên rất khó gần phụ nữ.

 

Nghe đâu trước khi được về Nam chiến đấu ông cũng có mối tình khá sâu nặng với một cô giáo rất xinh ở Hà Nội nhưng khổ nỗi chỉ vì ông biết yêu mà lại không biết thổ lộ tình yêu nên cuối cùng người ông yêu sa vào tay một người bạn hôm ông dẫn anh ta tới thăm cô nàng. Kể từ sau cái ngày đáng buồn ấy ông không còn có cảm tình với bất kỳ người con gái nào nữa.

 

Ấy thế mà khi cậu công vụ của ông tới gọi tôi thì trung đội trưởng Chín Thung của tôi lại bảo: “Tao biết tỏng nhiệm vụ chi rồi. Mi phải nhận đó nghe. Cứ nhận đại đi rồi về tao nói cho mà hay sau!”. Quái lạ cái nhà anh Chín Thung này! Tôi thấy cái sự ấm ớ của anh mới rõ là nhảm nhí vì tôi là lính làm sao dám từ chối lệnh của cấp trên mà xui nhận với lại không nhận! Vậy nên tôi mới hỏi anh: “Anh nói gì lạ? Anh biết nhiệm vụ gì không mà cứ nói càn?”- “Thì mày cứ tới đó khắc biết”. Thế đấy! Nói thế thì còn nói làm gì? Tôi là y tá của đơn vị. Vâng một y tá bất đắc dĩ. Chả là sau trận đánh đồn Chè tôi ngồi buồn tí táy mở túi thuốc chiến lợi phẩm của đơn vị ra xem tình cờ thấy có quyển sách “Cẩm nang y tá” liền mò mẫm đọc. Té ra cái sự tiêm chích theo như trong sách này dạy cũng chẳng phải khó khăn gì cho lắm. Mà ngay cả cái việc chẩn đoán các căn bệnh thông thường thực ra cũng đơn giản. Ví như muốn tiêm chích một loại thuốc có dầu thì nhất thiết phải luộc thuốc lên rồi tiêm vào mông. Sau khi phóng mũi kim xuống phải rút ngược lên một tí coi xem có máu không. Nếu có máu hút theo có nghĩa là ta đã chích trúng động mạch cần phải kéo nhanh mũi kim lên hoặc nhấn sâu xuống rồi lại thử coi xem máu có còn hút theo thuốc lên xa- ranh nữa không. Nếu máu hết theo lên tức là không nguy hiểm nữa tiêm được rồi đấy. Còn nếu dùng kháng sinh thì nhất thiết phải thử phản ứng trước khi tiêm. Bệnh nào cũng có nguyên nhân và cách chữa trị. Tìm được nguyên nhân thì chữa trị đơn giản cứ theo ba-rem liều lượng có sẵn thế là ổn. Thằng Đào kêu đau bụng rờ vô hố chậu phải cu cậu giật thót lên. Tôi bảo đau ruột thừa phải đưa nó đi cấp cứu ở trạm xá gấp. Thế mà trúng choóc. Cũng vì có vụ đau ruột thừa của thằng Đào mà tôi có dịp làm quen với trạm xá. Nói tới trạm xá tức là nói tới cái sự tươi đời vì ở đây lúc nào cũng vừa có nếp lại cũng vừa có tẻ!

 

Người tôi được làm quen đầu tiên là y sĩ Thư. Chị Thư tiếp nhận thương bệnh binh ở phòng cấp cứu sau khi hội ý chớp nhoáng với bác sĩ Long họ đi đến kết luận là phải mổ ngay. Tôi được họ mời phụ mổ. Đến nước này tôi phải thú nhận trình độ chuyên môn giê rô của mình. Cả bác sĩ Long lẫn chị Thư đều không tin họ bảo lúc này không cần khiêm tốn. Té ra cái sự phụ mổ cũng chẳng có gì ghê gớm lắm. Tôi đứng cạnh chị Thư tiếp tay cho chị những thứ dao kéo bông gạc khi anh Long cần. Sau ca mổ tôi được chị rủ xuống bếp chị nuôi... tư tỏi. Ấy là món chè đỗ xanh nấu với mật ong. Lần đầu tiên được chén món này tôi thấy ngon và thơm vô cùng. Còn anh Long thì thậm chí không thèm ăn. Anh bảo chỉ cần nhắc đến đỗ xanh là anh đã ớn dựng tóc gáy! Chẳng là năm ngoái trạm xá được trên cấp đậu xanh thay gạo cả tháng trời ăn tuyền đậu xanh nên anh ngán đến tận bây giờ. Hôm rời bệnh xá về chị Thư gởi tôi một lít mật ong và một túm đỗ xanh bảo “biếu anh Ba Sang” tôi mới biết ông Ba đâu phải chú người gỗ. Chị Thư bảo chị với “anh Ba” là đồng hương. Biết vậy tôi chẳng bình phẩm gì. Tôi thấy chị nói tiếng Huế hay Trị Thiên gì đó còn ông Ba nói rặt giọng Quảng đồng hương Miền cũng còn khó nữa là. Tôi nghĩ nếu ông Ba mà “vớ” được bà Thư này thì đời ông coi như  được đền bù xứng đáng. Chị Thư người mảnh dẻ nhưng không phải cái mảnh dẻ yểu điệu yếu đuối. Chính sự mảnh dẻ của chị lại toát lên vẻ cứng cỏi kể cũng có hơi khô nhưng bù lại nghe chị nói ta có cảm giác chị đang thì thầm từ đâu đó một thứ giọng ngân nga như chuông lại vừa trầm ấm gần gũi.

 

- Em nói anh Ba đừng gởi chi cho chị nữa nghen.

Đấy giọng chị đấy chỉ cần nghe là ta không có cách nào khác mà không “dạ”.

- Dạ tôi ngoan ngoãn nói.

Tôi hồi ấy mới mười chín hai mươi lại mới vào chiến trường mới tham gia đánh đấm được dăm trận lẻ tẻ mới đủ mọi thứ nên thấy cái gì cũng lạ cũng hong hóng nghe hong hóng theo dõi và cả hong hóng suy nghĩ nữa. Về tới đơn vị tôi kể lại chuyện đó với anh Chín Thung. Anh Chín là người Quảng cùng quê với ông Ba Sang. Đã nhiều lần anh muốn cho chị Thư tìm hiểu ông Ba nhưng cả anh cũng là người vụng chỉ biết nói với chị rằng anh Ba Sang là người tốt! Nói thế thì ai chả nói được? Chả lẽ anh em chúng tôi là người xấu hết à? Thật khó lọt lỗ tai tôi chứ chưa nói gì tới tai chị Thư. Vả lại nghe đồn chị Thư cũng lắm chuyện lắm. Chị chỉ thích yêu mấy anh bộ đội miền Bắc có học thức cao lại trẻ tuổi. Chính anh Chín có lần bảo với tôi rằng chị Thư mê tay Long bác sĩ nhưng tay Long đã có vợ có con “ở ngoải” nên cứ tránh chị mặc dù hai người làm việc cùng nhau. Tôi nghiệm thấy có lẽ đúng. Anh Long tỏ ra khá lạnh lùng với chị Thư một điều “cô” hai điều “cô” ngay cả khi chê món chè anh cũng có cái vẻ của người né tránh. Còn chị Thư thì cứ nhẹ nhàng như không. Mọi cử chỉ của chị đều giản dị và hơi đượm buồn hơi... cam chịu.

Hôm tôi đem mật ong và đỗ xanh của chị Thư về trao cho ông Ba Sang ông tra hỏi tôi rất nhiều rằng Thư có nói gì với em không? Thư có bảo bao giờ thì đi với đội phẫu ra phía trước không? Thư không viết cho anh chữ nào à? Tôi bắt thóp được tình cảm của thủ trưởng nên cứ ấm ớ kể rằng chị ấy chỉ hỏi thủ trưởng có khỏe không có hay buồn hay cáu với anh em không thôi. Ông Sang ngồi thừ ra một lúc rồi bỗng đưa cho tôi chỗ đỗ xanh và mật ong ấy bảo đem về nấu chè cho anh Chín và anh em trung đội trinh sát cùng ăn. Tôi chả dại gì không nhận. Về đến nơi đem “chiến lợi phẩm” ra khoe anh Chín mắng tôi một trận lên bờ xuống ruộng rồi mới nói: “Mày đừng bép xép ông ấy hâm hâm nhưng tốt bụng cực kỳ đừng để nhiều người hay chuyện ông ấy nhụt chí”. Tôi tất nhiên là “vâng”.

 

 Bẵng đi một thời gian vì bao nhiêu công chuyện hôm nay ông Ba Sang lại nhớ tới tôi mà gọi hẳn có chuyện gì đây? Tôi mong sao mọi điều đến với ông và chị Thư được suôn sẻ. Và tôi tự dưng cảm thấy ngùi ngùi thương ông lại cũng phát hiện ra ông đâu phải người khô như củi mà thỉnh thoảng anh em lính tráng chúng tôi cứ hay đem ra bình luận.

***

Tôi vừa lội qua suối thì đã thấy anh chàng công vụ của ông Ba Sang đón ngay trên bờ. Đó là một thanh niên dân tộc Bahnar có giọng nói cứng rất khó nghe: “Thủ trưởng biểu tui chờ anh.” anh ta nói từng tiếng một. “Có chuyện gì quan trọng không?” tôi hỏi. Anh ta bảo rằng thủ trưởng bố trí cho tôi tới trạm xá học một thời gian để về làm y tá chính thức cho đơn vị. Tôi nghe mà ngán ngẩm. Thực lòng tôi đâu có mê cái nghề ấy. Chẳng qua vì lúc rỗi tôi tò mò tìm hiểu rồi khi bí thì ra tay bây giờ đến nước này rõ là thân làm tội đời rồi! Anh bạn công vụ khoác súng đi trước bảo tôi theo sau. Tôi buồn bã ra mặt trong lòng chỉ nghĩ tới chuyện phải từ chối thế nào để ông ta hiểu đừng bắt tôi đi học. Nhưng tôi đâu có nghĩ được điều gì cho mạch lạc?

 

- Anh Bình. Thủ trưởng biểu tui dẫn anh vô đây.

Tôi sững lại trước cửa một căn nhà hầm nhỏ có biển  đề “Quân y đơn vị”. Chẳng lẽ chuyện đã gọn ghẽ thế này rồi sao? Chẳng lẽ ông ta không cần hỏi xem nguyện vọng của tôi? Nghĩ thế người tôi giận run lên nhưng chân vẫn cứ bước vào. Tôi không ngờ chị Thư đang ngồi đó trước cái bàn ghép bằng phên nứa cùng cái túi quân y. Thấy tôi vào chị ngẩng lên nhìn tôi mặt đầy nước mắt. Rồi bỗng chị lao tới ôm chầm lấy tôi vừa nức nở khóc vừa nói:

- Em ơi! Chị em mình bị người ta đánh tráo cho nhau rồi!

Tôi không hiểu. Không tài nào hiểu được đánh tráo cái gì và ai là người ta?

Té ra ông Ba Sang không phải là chú người gỗ. Chính âm mưu này do anh Chín lập ra sau này tôi mới biết. Anh Chín đã tới trạm xá gặp bác sĩ Long kể về tình yêu của ông Ba Sang với chị Thư rồi anh đề nghị anh Long nếu thương chị thì nên cho chị chuyển về đơn vị chúng tôi để hai người có dịp gần nhau vì vả hai cùng đều lớn tuổi cả rồi mà chiến tranh thì chả biết tới bao giờ chấm dứt. Anh Long nghe cũng xuôi tai có điều anh đề nghị cho cậu y tá Bình - tức là tôi về trạm xá thế chân chị Thư phải có thêm một y tá nam trẻ khỏe như tôi thì anh Long mới chấp nhận.

Cho mãi tới bây giờ tôi vẫn nhớ gương mặt đen sạm của ông Ba Sang khi ông tới chỗ chúng tôi bắt gặp cảnh khóc lóc của chị Thư. Ông nói run run:

- Thôi thôi mà. Không có gì đâu mà. Nếu các đồng chí không ưng thì thôi cũng được kia mà. Ở đây với trạm xá cũng vẫn là một đơn vị tôi đâu có ép...

Đúng thế. Trạm xá chỉ là một đầu mối của đơn vị. Nhưng tôi đã nhận ra nét mặt quá đau khổ của thủ trưởng Ba khi ông khẽ đặt tay lên vai tôi nói nhỏ: “Tuỳ em thôi mà!”.

Không phải tuỳ tôi điều ấy tôi hiểu. Nhưng lúc đó nếu tôi từ chối hẳn từ chối được. Ấy vậy mà tôi đã lại “vâng” một cách nước đôi để rồi sau đó phải khoác ba lô về trạm xá thật. Còn chị Thư với ông Ba đã thành vợ chồng sau đó nửa năm đúng vào dịp tôi được nhận bằng y tá trước Tết ta vài  ngày trước khi toàn đơn vị được lệnh vào chiến dịch lớn. Đám cưới của họ nói như anh Chín Thung là lấy vui làm gốc món ăn chỉ có độc một nồi quân dụng lớn chè mật ong nấu với đỗ xanh do chính anh Chín vừa là anh nuôi vừa là trưởng ban tổ chức nấu ai ăn được bao nhiêu thì tuỳ khả năng mà múc../.

 TRUNG TRUNG ĐỈNH  

Nguồn: VN  Q Đ

 

 LỜI BÌNH CỦA NGUYỄN ĐỨC THIỆN/ 2/3/11

 

Chiến tranh có bao nhiêu chuyện tưởng như không thể nào có được nhưng nó cứ diễn ra. Có thể làm người ta ngạc nhiên nhưng rồi nó cứ diễn ra như bao điều bình thường khác. Truyên ngắn MỘT CHUYỆN TÌNH THỜI CHIẾN TRANH của Trung trung Đỉnh là một trường hợp như vậy. Chuyện bắt đầu từ một anh lính. Từ một anh lính trở thành y tá nhờ một cuốn sách hướng dẫn cách tiêm một cuộc đóan mò bạn lính đau ruột thừa và phụ mổ bất đắc dĩ khi đến nhận nhiệm vụ ở trạm xá. Anh ta từ đơn vị chiến đấu đến trạm xá làm một nhiệm vụ mà có lẽ chỉ diễn ra trong chiến tranh: thăm dò một nữ y sĩ cho ông thủ trưởng lớn tuổi chưa vợ. Anh ta hòan thành nhiệm vụ mà không hề biết đã hòan thành nhiệm vụ đó là mang tin đầy đủ về người con gái mà thủ trưởng mình cần biết. Và điều đáng quý là sau đó ông thủ trưởng và cô y sĩ kia được tác thành vợ chồng nhờ bạn chiến đấu hùn vào.

 

Chiến tranh ngòai sự hy sinh xương máu còn có những sự hy sinh khác của những người lính. Chuyện ông Ba Sang lớn tuổi chưa vợ trong hòan cảnh chiến trường rất có thể sẽ không sao tạo lập được gia đình nếu không có sự tận tình giúp đỡ của bạn bè. Y sĩ Thư cũng vậy trong hòan cảnh như thế cũng rất có thể chẳng thể có được một gia đình. Chuyện như thế diễn ra trong chiến tranh là điều hiển hiện. Chiến tranh là bom đạn là hy sinh. Sau chiến tranh có hàng ngàn chi em là bộ đội là thanh niên xung phong không kịp xây dựng hạnh phúc gia đình. Họ thêm một lần nữa phải hy sinh ngay khi đất nước đã hòa bình. Nhưng không phải ở đâu cũng làm được những việc mà đồng đội ông Ba Sang đã làm. Phải thương nhau nhiều lắm. phải lo nghĩ cho nhau thật nhiều mới tìm cách để ông Ba Sang đến được với người con gái mà ông để ý mới tạo dựng được một gia đình hạnh phúc ngay trong lúc chiến tranh đang tiếp diễn. Cuộc tình của ông Ba Sang và y sĩ Thư không có những cuộc hẹn hò không có những lúc tắm mình trong ánh trăng rừng hay rúc rích cười bên con suối reo róc rách nhưng nó lại tràn đầy tình người và cao hơn cả là tình đồng đội trong chiến đấu. Chuyện tình giản dị mà long lanh sáng: “ Còn chị Thư với ông Ba đã thành vợ chồng sau đó nửa năm đúng vào dịp tôi được nhận bằng y tá trước Tết ta vài  ngày trước khi toàn đơn vị được lệnh vào chiến dịch lớn. Đám cưới của họ nói như anh Chín Thung là lấy vui làm gốc món ăn chỉ có độc một nồi quân dụng lớn chè mật ong nấu với đỗ xanh do chính anh Chín vừa là anh nuôi vừa là trưởng ban tổ chức nấu ai ăn được bao nhiêu thì tuỳ khả năng mà múc.”

Chiến tranh của chúng ta là như vậy trong gian khổ và hy sinh vẫn sáng lên tình người tình đồng đội tha thiết.

 

NGUYỄN ĐỨC THIỆN

 

 

 

 LỜI BÌNH “ MỘT CHUYỆN TÌNH THỜI CHIẾN TRANH” /2/4/2011

 

          Trong chiến tranh giữa tên bay đạn lạc cái chết luôn cận kề người ta càng cần tới nhau thêm. Cần một người để mà yêu thương và để được yêu thương biết là dường nào. Thế nên không hiếm những lứa đôi đã yêu nhau ngày đất nước chưa thể hòa bình. Bao cuộc tình đẹp như cổ tích đã nảy sinh và tồn tại trong chiến tranh. Bao mối tình sét đánh mãnh liệt đã bùng nở trong chiến tranh. Bao ngọt ngào bao đắng chát bao xót thương bao lỡ lầm bao sum họp và bao chia lìa đã xảy ra khiến cho cuộc tình đành kết thúc tức tưởi hay là hân hoan đoàn tụ?

 

          Hãy nghe người kể chuyện giới thiệu sơ lược về mình: “Tôi hồi ấy mới mười chín hai mươi lại mới vào chiến trường mới tham gia đánh đấm được dăm trận lẻ tẻ mới đủ mọi thứ nên thấy cái  gì cũng lạ cũng hong hóng nghe hong hóng theo dõi và cả hong  hóng suy nghĩ nữa…”. Và hãy nghe tác giả kể lại một chuyện tình mà mình đã được chứng kiến đã được sẻ chia. Một chuyện tình chẳng hoa mộng thơ thẩn tí nào. Cứ thật thà như đất và cứ khô khan như là ngói vậy. Đúng hệt tính cách của người nam trong chuyện tình này. Ấy là ông Ba Sang một người rất khó để phụ nữ đến gần chứ chưa nói chi đến chuyện để ý lưu tâm và xốn xang hồn vía . Bởi đã trên tuổi bốn mươi mà ông Ba Sang không những chưa vợ chưa con mà còn chưa có cả một mảnh tình. Nghe bảo trước khi vào Nam chiến đấu ông cũng tình sâu nghĩa nặng lắm lắm với một người con gái làm nghề dạy học ở thủ đô. Con người ông thấy khô khan kín đáo nhưng tình trong ông cũng dạt dào cũng thắm thiết như ai. Chỉ phải tội! Chắc cũng do cái tính mà ra…Nên ông chả dám mở lời khiến người ta trở thành bạn tình của kẻ khác. Và kẻ khác đây nào phải ai xa lạ chính là một người bạn ông đã đích thân dẫn đến thăm cô gái đó!

 

Sự trớ trêu biến thành nỗi đau ghim chặt nơi tâm hồn khiến ông thêm co mình trước phái nữ khiến ông thêm dè dặt với tình yêu. Thử hỏi một người có tính cách như thế lại gặp phải tình huống như thế thì sao còn có thể tiếp tục đến với tình yêu một cách bình thường được đã nào… Thế nên đơn vị mới phải lo đồng đội mới phải tạo mọi điều kiện để cho ông và cô y sĩ Thư có thể gần gụi. Không ngạc nhiên khi cô Thư là đích nhắm tới của bao người ở một cái nơi toàn những nam giới là nam giới. Và cũng chả lạ lùng gì khi cô ấy đem lòng yêu thương một bác sĩ có tên là Long cùng ở chung một trạm xá với mình. Mặc cho Long đã có vợ con ở hậu phương.

 

Cũng là có lý cả thôi khi nhân vật Tôi trở thành một y tá bất đắc dĩ dù lỏm bỏm về bệnh tật thuốc men như mọi người. Và ngẫm ra cũng là rất phải khi được điều vào phụ mổ một ca ruột thừa. Đang giữa thời chiến và việc cứu người mới quan trọng xiết bao. Rồi xa hơn nữa việc Tôi được hoán chuyển ra phục vụ ở trạm xá cho chị Thư về “ Quân y viện đơn vị” để được gần gũi với ông Ba Sang theo kịch bản của trung đội trưởng Chín Thung thì cũng là rất nên đấy chứ! Bởi tình cảm chị Thư đang như thế và ông Ba lại không phải là mẫu đàn ông hấp dẫn.

Nên mới cần lắm những tác động từ khắp phía từ mọi người. Hay cho những sắp đặt tưởng chừng rất xơ cứng đóng khuôn nhưng lại hết sức là linh hoạt mềm mỏng. Chẳng thế mà nhân vật tôi bỗng trở thành y tá thật sự còn họ ông Ba Sang và chị Thư y sĩ đã nên vợ thành chồng sau đúng nửa năm kể từ khi những sự việc như thế bắt đầu xảy ra.

 

Một chuyện tình thời chiến không ngẫu nhiên không màu mè hoa lá. Rất đơn sơ chân thật như trong chính tình yêu của ông Ba trong chính những sắp xếp của đồng đội mà hiệu quả đến khó ngờ.

………………………………………………………

 

                    Nguyễn Mỹ Nữ

 

More...

CHO CHÚT LÁ XANH/2680/ phát 26/3/2011

By Gã Phu Xe bất tử (Mai Thìn)

CHO CHÚT LÁ XANH/2680/ phát 26/3/2011

 (Kính tặng người thày đầu tiên dạy tôi làm người)

 Truyện ngắn của Nguyễn Đức Thiện

          Cánh cửa nhà giam khép lại. Anh công an đã thật nhẹ tay nhưng tiếng động vẫn dội lên khắc nghiệt. Bao giờ cũng thế mỗi khi tiếng động ấy dội lên thày giáo Quỹ đều ngoái đầu nhìn lại. Mắt thày trĩu buồn. Cạnh thày đứa nhỏ gày guộc cũng đang ngoái cổ nhìn về phía cánh cửa nhà tù. Những giọt nước ấp đầy mi mắt nó.

 

          Ra về hai người hai chiếc xe đạp sóng hàng. 

 

          Anh trực đài truyền thanh của nhà máy chờ thày ở cổng nhà:

 

          - Thưa thày. Có người điện thoại báo chiều nay người ta sẽ đến thăm thày.

          - Ai thế?

          - Dạ không biết. Họ điện thoại hỏi thày còn không. Em bảo còn. Họ hỏi thày còn ở chỗ cũ không. Em bảo họ vẫn còn. Họ nhắn em báo thày chiều nay họ đến thăm. Thôi em về. Thày sắm cái điện thoại đi. Trong nhà không có cái điện thoại bất tiện lắm thưa thày….

 

Thày dựa chiếc xe đạp vào bờ hiên nhắc đứa  nhỏ khóa xe của thày lại.

          - Con nghe rồi đó. Chiều nhà ta có khách. Con cầm tiền ra chợ mua thêm chút dầu ăn. Lỡ người ta có ở lại ăn cơm với thày trò mình thì còn có cái mà nấu. Đi nhanh về nhanh còn ăn cơm mà đi học chiều.

 

          Thằng bé vâng một tiếng thực lễ phép làm hết việc được nhắc rồi cầm những đồng tiền thày giáo Quỹ đưa cho chạy xe đi.

 

          Thày Qũy vào bếp nấu cơm. Một cái nồi bé xíu được bắc lên bếp. Ngọn lửa than hừng hực cháy như muốn thiêu rụi luôn cái nồi. Thày ráng nhướng con mắt lên chăm chú nhìn bóng nước đang sôi ùng ục trong đó. Khi nước vừa cạn thày lấy một lớp tro đổ lên phủ kín hết mặt than hồng rồi mới đặt lại cái nồi lên trên. Gía mà không phải ăn thì người như thày đâu có phải tỷ mẩn làm công việc chẳng cần mấy thời gian nhưng lại phải rất cẩn trọng kia. 

 

          Thày bước ra sau vườn. Mảnh vườn con con và những cây rau đủ loại mọc tuỳ tiện. Rau dền xen rau cải. Lá mồng tơi chen mọc với mấy cọng rau muống cạn. Cũng không nhiều mỗi lần hái nấu chừng hai nồi canh là hết. Với thày như thế là đủ. Đã lâu lắm rồi thày đã quen với rau dưa. Rau dưa sạch ruột

 

          Thày không phải chỉ có một mình. Vợ thày mới “về” cách nay gần chục năm. Con trai lớn đi bộ đội vào những năm ác liệt nhất của chiến tranh. Ở miết bên chiến trường Lào. Hoà bình anh ta về thăm thày và xin thày cho ở lại xứ đó vì chót yêu một cô gái sứ Chămpa rồi. Đứa con trai thứ hai học xong Đại học về quê đi dạy. Một cô con gái chẳng nói làm gì. Gái về nhà chồng rồi. Hồi bà còn sống thày có nuôi một đứa cháu nội con anh cả. Lâu lâu căn nhà cũ kỹ này sôi lên một trận vì có con cháu hoặc có những học trò bỗng nhớ đến thày về thăm rồi sau đó lại chìm nghỉm trong sự tĩnh lặng. Nhất là khi bà “ về”. Anh con trai thứ hai mấy lần mới thày về ở trong quê. Thày không đi. Lý do thực đơn giản: thày còn bao lớp học trò. Đi rồi lỡ chúng muốn gặp lại làm sao mà gặp được.

 

*

*        *

Khách đến vào giấc ba giờ chiều. Ông ta đi trên một chiếc Woai-anpha màu bạc len lách trên con hẻm bê tông đến tận cửa nhà thày giáo Quỹ.  Ông ta cúi đầu chui qua cái cổng có hai cánh xiêu vẹo. Ông ta dơ cả hai tay lên và ôm choàng lấy thày giáo Quỹ khi thày mới từ trong nhà bước ra.

 

- Em chào thày. Thưa thày…

Thày giáo Quỹ khẽ đẩy tay người đàn ông ra và nhướng mắt:

 

 - Anh là ai sao tôi không nhận ra…

- Dạ em là Vĩnh. Vĩnh bàn cuối lớp bốn của thày ngày xưa đây ạ…

- Vĩnh… Ờ ờ Vĩnh….

Thày ngập ngừng thế một lúc khá lâu và rõ ràng thày chưa thể tìm ra được cái nét của cậu học trò lớp bốn có gì giống với người đàn ông rắn rỏi mạnh mẽ trước mặt mình. Thày đưa cả hai tay mời khách vào nhà. Ông khách cẩn thận dắt chiếc xe máy qua cổng và lấy ra từ chỗ đèo hàng một bọc nhỏ mang vào nhà hai tay nâng lên đưa cho thày giáo Quỹ: 

 

- Thưa thày kể từ ngày lên học cấp hai đến giờ em không về thăm lại thày. Em đến để xin lỗi thày xin thày nhận cho em gói quà này coi như thày đã tha lỗi cho em…

 

Thầy Qũy không thể chối từ dơ tay nhận lấy:

- Anh đến thăm tôi thế này là quá tốt rồi… Lần sau đừng quà cáp gì nhé. Mà này tôi nhớ ra anh rồi đấy. Đừng trách tôi già lẩm cẩm hay quên. Gần tám mươi rồi còn gì…

 

Cả hai bỗng yên lặng. Chuyện về một đêm cách nay hơn bốn mươi năm bỗng hiện về.

 

Đó là một đêm mùa đông rét như cắt da cắt thịt. Không ai còn đi lại trong cái đêm rét mướt như thế. Vĩnh một mình lang thang trên đường. Nó không còn đường nào để về. Nhà nó giờ này chắc đã đóng cửa. Bố nó chắc đã hết cơn giận  lên giường ngủ. Chắc là chỉ còn có mẹ thức vì  lo cho nó. Con đường ra cổng nhà mày giấy Đáp Cầu cũng đã vắng tanh vắng ngắt. Nó đói và rét. Đói vì từ chiều đến giờ nó không có hạt cơm nào vào bụng. Rét vì trên mình nó chỉ có một chiếc áo sợi chùm ra bên ngoài chiếc áo sơ mi mỏng tanh. Nó không dám về nhà. Một cây roi tre đang chờ nó. Một ông bố dữ đòn đang chờ nó. Chiều nay khi nghe ông bố quát lên: “ Đứa nào lấy tiền trong túi tao?” là nó biết mọi chuyện sẽ bắt đầu nếu nó không trốn nhanh ra khỏi nhà. Không oan một chút nào. Chính nó chứ không phải ai khác. Lần này nữa là lần thứ bao nhiêu mà nó vẫn không chừa. Hễ túi áo bố sơ hở thế nào nó cũng móc. Khi thì vài xu. Khi thì vài hào. Cũng vì vài xu vài hào đó mà nó đã từng bị những trận đón tím tái cả cái mông vốn gày đét của nó. Vậy mà nó cứ không chừa. Lần này không phải vài xu vài hào mà vài đồng. Vài đồng với mức lương công nhân cơ khí của bố sẽ không còn là nhỏ nữa. Vĩnh là một đứa trẻ không ra ngang ngược mà cũng không ra một đứa trẻ hiền lành. Mỗi khi bị đánh đòn là mỗi lần nó khóc thảm thương và lạy bố như tế sao. Nhưng rồi sau đó đâu lại hoàn đó. Có gan sang nhà hàng xóm bẻ cổ gà mang ra suối nướng ăn. Có gan chặt cả buồng chuối nhà hàng xóm   rấm chín ăn dần. Chơi đáo bằng cúc áo về nhà vặn tất cả cúc áo trong nhà. Với nhà nó là một đứa trẻ bất trị. Ông bố rát đòn đánh nó mãi rồi cũng nản. Nhiều khi chỉ còn bết nhìn nó mà thở dài. Lần này là mấy đồng. Không còn là chuyện nhỏ nữa Vĩnh biết thế. Nó còn biết lần này nó đã đi quá đà nên nó không dám về nhà.  Con đường ra cổng nhà máy sao mà dài thế. Nó thèm được rúc vào chiếc chăn bông khai mù nước đái của mấy đứa em. Nó bỗng thấy cả một khoảng rộng sâu thẳm và đen thui trước mặt. Vĩnh nhận ra đó là sân vận động của nhà máy. Mà bên cạnh sân vận động là lớp học của nó. Thôi được ghé vào lớp ngả lưng lên mấy chiếc ghế mà ngủ qua đêm. Chứ còn biết đi đâu bây giờ. Lớp học tường đất mái lá không cửa nẻo gì. Ngày ấy trường học giống như nhà thờ chẳng ai dám đến mà phá phách. Vĩnh lẳng lặng chui vào lớp đến ngay cái bàn mình ngồi học mỗi ngày và ghé lưng xuống cái ghế băng dài. Nhưng cơn đói cứ thúc vào dạ dày nó khiến cái lạnh càng lạnh hơn. Nó lại bò dậy. Bỗng có  một đốm lửa hiện ra. Bếp nhà thày giáo Quỹ. Hồi ấy thày giáo Qũy chưa có nhà. Thày còn ở trong một gian hẹp cạnh ngay lớp học. Gian bếp được làm tách ra. Vĩnh bò dậy. Mong sao trong bếp nhà thày còn một ít cơm nguội. Thế nào cũng có muối. Cơm nguội chấm muối cũng tốt chán rồi. Cũng chẳng mấy khó khăn để lọt được vào bếp nhà thày giáo Quỹ. Chỉ có một cái phên nứa đan lóng một.Trong bếp có một lò than đã bi chét kín chỉ còn hở có một cái lỗ tròn bằng ngón tay. Nồi cám lợn. Nhà thày cũng nuôi lợn.. Vĩnh thò tay vào chạn. Cái chạn trống không. Ngọn lửa than tạo ra một thứ ánh sáng yếu ớt đủ cho nó thấy được hết các thứ trong bếp. Vài cái nồi. Nó mở vung từng cái. Toàn là nồi không. Nó thất vọng ngồi xệp xuống ngay cạnh bếp than hồng.  Nó kiếm được một thanh củi và nhè nhẹ mở nắp vung nồi cám. Bàn tay nó chạm vào nắp vung bỏng dãy. Nó buông vội. Nắp vung rơi xuống làm vang lên một tiếng động khiến nó rụng rời chân tay. Một ánh đèn pin loé lên. Hồn vía Vĩnh bay đi đâu hết. Bây giờ thì nó run lên vì sợ chứ không phải vì rét nữa.

- Vĩnh phải không em?

- …

- Lên nhà đi em. Đừng sợ. Không ai làm gì em đâu…

- …

- Lúc tối bố em có đến đây tìm em. Vì thế khi nghe tiếng động ở ngoài lớp tôi đoán là em đã đến. Người như em thì chỉ còn biết đến lớp học thôi chứ còn đi đâu nữa… Lên nhà đi tôi rang cơm lại cho mà ăn… Đói lắm rồi phải không?

Đã từng bốc vụng ruốc thịt của em từng xẻo trộm một miếng thịt nạc bỏ vào chảo mỡ rán vàng từng ăn vụng một miếng thịt gà kho nước mắm… ngon thật. An vụng bao giờ cũng ngon thật. Nhưng chắc không thể ngon được bằng bát cơm rang đêm ấy thày giáo Quỹ rang cho Vĩnh. Cả nhà thày không ai thức dậy. Chỉ có hai thày trò. Thày hỏi:

- Vì sao em bỏ nhà đi như thế này?

- Em sợ bố em đánh…

- Vì sao bố lại đánh?

- Dạ thưa thày…

- Em không muốn trả lời khải không? Thì thôi vậy… Nhưng  bố em đã cho thày biết hết rồi. Em ngủ lại đây đêm nay mai phải về. Về xin lỗi bố mẹ. Cũng còn may em không ra ga Quán Triều ga Đồng Quang ra ngoài chợ… Mà còn biết tìm đường về lớp.  Lớp bốn rồi. Biết nghĩ rồi em đừng làm cho bố mẹ buồn đừng làm cho thày phải buồn.

Đêm ấy Vĩnh không nói thêm câu nào nữa. Mọi chuyện rồi cũng qua đi. Sáng hôm sau thày giáo Qũy lấy xe đạp đèo Vĩnh về nhà. Thày giáo và bố Vĩnh nói gì với nhau ở nhà trên Vĩnh không nghe được nhưng khi thày về không thấy bố Vĩnh gầm lên vì giận dữ như trước kia.

Bốn mươi năm rồi. Chuyện ấy   Vĩnh nhớ đến tận hôm nay.

 

- Em cảm ơn thày…

- Sao em nhiều lời cảm ơn thế? Mà cảm ơn vì cái gì nào.

- Vì bát cơm rang đêm hôm ấy… Nếu không có nó không biết bây giờ em sẽ thành con người như thế nào?

- Thế bây giờ em làm gì?

- Dạ em đi viết báo…

- Viết báo? Hay đấy. Tôi còn nhớ ngày ấy tôi thì bảo “ nước trong leo lẻo “ là một cách viết hay còn anh thì cãi “ nước thì làm sao lại trong leo lẻo được”. Anh đi làm báo là phải… Nhưng anh vẫn chưa nói cho tôi biết vì sao đêm ấy anh lại bỏ nhà ra đi đấy nhé…

- Dạ thưa thày…

- Lại dạ thưa thày…

Thày giáo Quỹ chỉ nói được câu ấy rồi thôi.

 

Anh vẫn chưa dám nói thật sao? Bốn mươi năm rồi còn gì nữa. Thế mà đến tận bây giờ anh vẫn không dám nói thật với tôi. Người ta nói dối được một lần người ta sẽ nói dối được lần thứ hai rồi nói dối cả một đời.

 

- Mà quên tôi không hỏi không phải ngẫu nhiên anh đến thăm tôi chứ?

- Vâng. Em đến đây còn vì một việc nữa. Em muốn viết về cái xóm này.

- Xóm không tên cầu không tên suối không tên có gì mà viết?

- Dạ nó có tên rồi đấy thưa thày.

- Tên gì?

- Xóm nghiện…

- À tôi hiểu rồi.

Thày lặng đi buồn. Lát sau:

- Anh có muốn nghe tôi khuyên anh một câu không?

- Dạ nghe ạ.

- Anh đừng viết gì cả. Đừng viết gì hết. Xóm nghiện. Anh có thấy nó rất chua xót không? Tôi ở đây đã gần năm chục năm trời người ta chưa bao giờ nghĩ đến đặt cho xóm này một cái tên. Bây giờ là xóm nghiện.  Có cả đứa là học trò tôi đó. Tôi làm thày mấy chục năm. Về hưu cũng đã mấy chục năm rồi. Học trò thành đạt nhiều tôi mừng lắm. Nhưng mừng bao nhiêu thì buồn bấy nhiêu. Một trăm học trò thành đạt không giúp tôi hết buồn khi có một học trò hư hỏng.  Vậy mà vẫn có những đứa học trò như thế. Lại còn đi tù nữa chứ…

Đã xế chiều. Nắng đã bắt đầu nhạt. Thằng bé dắt chiếc xe đạp lọc cọc vào cổng:

 

- Thưa thày con về. Cháu chào bác ạ

Thày giáo Quỹ nhận ra ánh mắt ngạc nhiên của Vĩnh:

 

- Nó chẳng phải con cháu gì của tôi hết. Con của thằng học trò tôi đấy. Hôm tuyên án nó xong thằng bé gào lên gọi bố gọi mẹ nghe mà xót ruột xót gan. Tôi đưa nó về và nuôi nó đến bây giờ. Mỗi tháng đưa nó lên thăm bố mẹ nó một lần. Hai mươi năm. Tôi muốn khi vợ chồng nó ra tù sẽ có một đứa con tử tế. Nhưng không biết tôi có sống được đến ngày đó không?

 

Thày giáo Quỹ thở dài. Tiếng thở dài bật ra làm buồn cả một chiều.

 

- Thày vẫn dạy học ạ?

-  Tôi mở cái lớp ở tại nhà này cho chúng nó. Anh có biết không sau nhà tôi có một vườn rau. Rau trồng có rau dại có. Ngày nào tôi cũng tưới. Sức già rồi tưới chẳng được bao nhiêu. Nhưng vài giọt thôi có khi cũng làm tươi lại được một cái lá …

 

Vĩnh xốn xang. Thày ơi có thể em đã là  chiếc lá nhận được vài giọt nước thày tưới mỗi ngày … ./.

 

 

Tháng 5-2005

NĐT

 

 

LỜI BÌNH TRUYỆN NGẮN CHO CHÚT LÁ XANH CỦA NGUYỄN ĐỨC THIỆN/ 26/3/11

Lê Hoài Lương

 

Có những công việc bình thường nếu chỉ được nghe gọi tên như kê khai nghề nghiệp vào một bản khai lý lịch nào đó. Như nghề dạy học của thầy giáo Quỹ. Có những trẻ nhỏ hư ăn cắp vặt vài đồng tiền trong nhà con gà buồng chuối hàng xóm rồi sau này cũng nên người sống được bằng một nghề nghiệp đàng hoàng là viết báo như Vĩnh học trò thày Quỹ. Có cảnh đau lòng cha mẹ một đứa trẻ đều vô tù đứa trẻ sống được dựa vào lòng từ tâm của người đời. Có cảnh đau lòng cái xóm thành xóm nghiện… Sẽ bình thường nếu chỉ nghe kể những nên hư thành bại như vậy trong cuộc sống.

 

Nhưng nếu tất cả xâu chuỗi lại trong căn nhà nhỏ tuềnh toàng của ông thầy già tuổi gần tám mươi ngoài vườn chỉ có vài chút cây lá hàng ngày ông chăm tưới với cái lớp học ông cứ kiên trì dạy tại nhà cho đứa trẻ nào cần những đứa trẻ vì hoàn cảnh không thể đến trường học bình thường gần năm mươi năm gắn với vùng đất này với lớp lớp học trò thành đạt có hư hỏng tù tội cũng có… Giờ đây ông thầy già này vẫn kiên trì nuôi thằng cháu nhỏ gầy còm con của một học trò cha mẹ bị tù ông nuôi nó với chút hy vọng đến ngày vợ chồng người học trò ra tù còn đứa đứa con tử tế. Mà cái án tù hai mươi năm! Thấy ngớp thở sự kiên trì của người thầy già. Thấy hụt hơi chút thiện mong manh người thầy giáo cố níu giữ. Cho cuộc sống. Cho chúng ta người đọc câu chuyện này nghe nhà văn Nguyễn Đức Thiện kể câu chuyện này ngớp thở mà vẫn cứ lằng lặng dâng lên trong lòng một niềm cảm phục vô biên ý chí của con người cảm phục và hy vọng. Như chút lá xanh kia.

 

Hãy đọc lại đoạn kết: “Tôi mở cái lớp ở tại nhà này cho chúng nó. Anh có biết không sau nhà tôi có một vườn rau. Rau trồng có rau dại có. Ngày nào tôi cũng tưới. Sức già rồi tưới chẳng được bao nhiêu. Nhưng vài giọt thôi có khi cũng làm tươi lại được một cái lá …

Vĩnh xốn xang. Thày ơi có thể em đã là  chiếc lá nhận được vài giọt nước thày tưới mỗi ngày …”

 

Cám ơn nhà văn Nguyễn Đức Thiện. Chút lá xanh của sự kiên trì tin yêu và nhân hậu của nhà văn làm thắt nghẹn trong người đọc niềm xót xa thương cảm sự nể phục một con người bình thường mà lớn lao. Và ý nghĩa nhân văn đằm sâu của chút lá xanh vừa hiện thực vừa nhiều tính biểu tượng. Một câu chuyện thấy đâu đó trong cuộc sống vẫn làm người đọc ngạc nhiên xúc động bởi cách dàn dựng khéo và lựa chọn chi tiết đắt. ./.

 

 LỜI BÌNH TRUYỆN: “ CHO CHÚT LÁ XANH”/ 26/3/11

 

NMN

 

Hẳn không gian trong truyện  là khuôn viên của nhà máy giấy Đáp Cầu và tất nhiên trong đó có nhà xưởng có lớp học và có những căn hộ tập thể. Ở đấy cũng có một thầy giáo tên là Quỹ với nhiều thế hệ học trò.

 

Chuyện của ngày xưa cách đây những bốn mươi năm là trong số những học trò nhỏ của thầy có em Vĩnh rất hoang bợm. Em đã: “…Có gan sang nhà hàng xóm bẻ cổ gà mang ra suối nướng ăn. Có gan  chặt cả buồng chuối nhà hàng xóm rấm chín ăn dần. Chơi đáo bằng cúc áo về nhà vặn tất cả cúc áo trong nhà…”. Còn lắt nhắt lấy của nhà thì thôi khỏi phải nói bởi có thể là nó rất sẵn sàng ra tay. Khi thì mấy xu thì thì vài hào và cứ thế thi thoảng Vĩnh lại giở trò. Mặc cho những trận đòn thừa sống thiếu chết của bố. Thằng bé lì lợm thật vì đòn roi của bố kinh khiếp đến thế mà nó vẫn chẳng chịu chừa cho. Và cứ vậy ngày tiếp ngày Vĩnh dấn sâu thêm vào tội lỗi cho đến khi dám lấy vài đồng trong túi áo của bố. Mà mấy đồng đó so với mức lương cơ khí của người cha thì nào có nhỏ nhoi gì!

 

Quá hãi sợ Vĩnh bỏ nhà ra đi trong một đêm mùa đông lạnh buốt. Tâm hồn hoang mang và cái đói cái rét không thôi dày vò hành hạ. Chưa kể bóng đêm hung hãn cũng góp phần đe dọa khiến cho thằng bé thêm muôn phần hoảng loạn. Giữa khi lang thang vô định Vĩnh ghé đến lớp học tìm chỗ ngã lưng nhưng cái bếp có lửa của nhà thầy Quỹ đã khiến nó chẳng đặng đừng. Cũng chỉ đơn giản nghĩ: Vào kiếm miếng ăn bỏ vào cái bụng đang sôi sùng sục của mình. Cơm nguội chấm với tí muối đã là nỗi mong mỏi niềm khát khao mãnh liệt trong tâm hồn của cậu bé. Không ngờ trong lúc lọ mọ lén thầm thực hiện ý đồ của mình thì thầy Quỹ xuất hiện. Sự có mặt đúng lúc của thầy mới đến là tuyệt vời chứ! Thầy đã cho Vĩnh nào chỉ có mỗi một bát cơm rang dằn cơn đói lòng mà còn làm đổi thay cả cuộc đời của nó.

 

Còn chuyện của bây giờ là thằng Vĩnh gầy còm hư hỏng ngày xưa đã trở thành một nhà báo hẳn hoi. Trở về khu vực mình sinh sống hồi trước để gặp lại thầy Quỹ nói lời cảm ơn  và để viết về cái nơi ấy của thời điểm hôm nay. Một cái xóm nói như thầy Quỹ là: “ Xóm không tên cầu không tên suối không tên…” và nói theo cách của hết thảy mọi người là xóm nghiện. Nhiều thứ đã thay đổi trong một cộng đồng trong cả xã hội trong từng con người. Thầy Quỹ đã có thêm nhiều rất nhiều học trò để cảm thấu hơn và ngậm ngùi hơn khi mở lời tâm sự với Vĩnh: “ Một trăm học trò thành đạt không giúp tôi hết buồn khi có một học trò hư hỏng…” .  Thầy đã phải đau xót chứng kiến sự sa ngã của các em. Những bước trượt dài mà đích đến đâu còn một nơi nào khác ngoài nhà tù. Thầy cũng đang nuôi một đứa trẻ con của học trò mình trong cảnh ngộ éo le ấy. Nuôi dưỡng với hy vọng thằng bé được dạy dỗ học hành và đến ngày bố mẹ cháu ra tù họ sẽ có một đứa con ngoan ngoãn tử tế.

 

Một người thầy có tấm lòng sự hy sinh  vì học trò thân yêu mình như thầy Quỹ nào chỉ là cần thiết cho cậu bé Vĩnh của ngày xưa hay cho rất nhiều lớp học trò sau này ở khu vực nhà máy giấy Đáp Cầu. Một người thầy với triết lý sống triết lý giáo dục con người hết sức là độc đáo. Với những ý nghĩ cao cả mà dung dị và sâu sắc nhưng lại giản đơn. Giản đơn đến lạ lùng: “…Anh có biết không sau nhà tôi có một vườn rau. Rau trồng có rau dại có. Ngày nào tôi cũng tưới. Sức già rồi tưới chẳng được bao nhiêu. Nhưng vài giọt thôi có khi cũng làm tươi được một chiếc lá…” .

 

Một truyện ngắn của nhà văn Nguyễn Đức Thiện đẫm đầy chất nhân văn. Không có gì là mới mẻ gay cấn cuốn hút trong những tình tiết của truyện và trong những lời kể của các nhân vật. Nhưng làm lay động tâm hồn người đọc và tôi muốn mượn câu trích dẫn trên đây để kết lại bài viết này.

…………………………………………………

Nguyễn Mỹ Nữ

 

    

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

More...

ĐỒI MA/ 2928/ phát 19-3-2011

By Gã Phu Xe bất tử (Mai Thìn)

 

ĐỒI MA/ 2928/ phát 19-3-2011

Truyện ngắn Nguyễn Đặng Mừng

 

                                                                         

              Gọi là đồi ma nhưng thật ra đó chỉ trảng cát trắng nằm giữa hai làng. Mùa hè cát ngời lên màu trắng rờn rợn. Gió Lào thổi làm cát bay mù mù đôi khi người ta còn gặp những khúc xương người lộ ra. Ngang qua đồi ma những lúc trưa nắng lũ trẻ thường cắm đầu chạy cho đỡ nóng chân và đỡ sợ.

 

              Hồi chín năm một trận đánh độn thổ* giữa dân quân và lính Tây xảy ra trên trảng cát này. Nghe kể hồi đó dân quân chưa có súng mà dám vùi mình dưới cát chờ Tây ngang qua là nhất tề đứng dậy dùng dao mác gậy gộc và cả vật lộn nữa. Thế là trảng cát nhỏ chưa đầy hai mẫu đất này xác Tây xác ta nằm la liệt. Trảng cát còn là nơi xử bắn của Tây và du kích một lần có tiếng súng là ít nhất một mạng người nằm xuống trên cát . Cát dễ đào nên cũng dễ vùi thây. Trảng cát có tên đồi ma từ dạo đó.

 

           Ngoài những chuyện về ma trơi ma cụt đầu còn có căn chòi tranh của lão Nghi nữa. Nghe nói suốt đời lão ăn của cúng nên đêm về lão thường sống và nói chuyện với ma quỷ. Căn chòi lão Nghi từ dưới làng trông lên như cái núm vú thô kệch mà bầu vú là trảng cát khum khum.

 

            Không biết lão Nghi bao nhiêu tuổi. Nói ba mươi cũng được năm mươi cũng xong. Gia đình lão đến xin ngụ cư ở làng bố mẹ cu Nghê (tên thường gọi hồi nhỏ của lão Nghi) xin làng cho dựng căn chòi trên trảng cát để làm nghề thợ rèn. Hồi nhỏ khi ông bà còn sống nhiệm vụ của cu Nghê là thổi bệ rèn. Với dị tật từ nhỏ cu Nghê chỉ thích nghi với việc thụt bệ. Ngồi giữa hai ống bệ to tướng cu Nghê nghiêng qua nghiêng lại với hai cán thụt trong tay thành thạo nhịp nhàng. Đến năm Ất Dậu cả làng đói. Những người chết đầu tiên là gia đình ông bà thợ rèn vì không có lương thực trữ. Những vị lớn tuổi trong làng kể lại rằng khi đem chôn thiếu một chiếc chiếu người ta chạy khắp làng để xin thêm làm áo quan cho cu Nghê xấu số lúc tìm được chiếc chiếu thì chỉ còn xác hai ông bà thợ rèn. Vùi thây hai ông bà xong cu Nghê từ trong bụi bò ra mếu máo run run nói: tui chưa chết đừng chôn mà tội. Từ đó cu Nghê đi ăn xin. Mấy trăm năm từ ngày theo chúa Nguyễn Hoàng vào lập làng C. này lần đầu có kẻ sống bằng nghề ăn xin các bô lão trong làng nói thế. Truyền thống của làng là thà chết đói chứ không ai đi ăn xin.

 

            Làm người ai cũng có năng khiếu bẩm sinh lão Nghi cũng thế. Lão nhớ rành rọt chính xác những ngày giỗ chạp mà không cần ghi chép. Mà lão có biết chữ nào đâu. Vậy là một ngày trong ba trăm sáu mươi lăm ngày   hôm nào lão cũng có xôi thịt để ăn. Vùng đất mà người chết gấp mấy chục lần người sống này lão tha hồ ăn xôi thịt. Hôm nào xin được nhiều lão phơi xôi trên những chiếc nia lớn để dành thịt ướp muối cả hủ lớn.

 

    Mặt lão Nghi gầy má hóp để lộ hai lưỡng quyền cao. Miệng nhỏ và luôn nhúc nhích run run. Nước miếng thường nhiễu ra lúc lão nói “ ự …ự..cho tui xin nắm xôi.”. Lão thường chỉ nói thế. Sau khi chủ nhà cho nắm xôi một ít thịt luộc vào chiếc tô nhôm lão cầm run rẩy trên tay cúi chào cám ơn rồi lui ra. Lão không bao giờ chê ít nhiều (thường thì người ta cho nhiều). Lão lại đi chới với chúi chúi về phía trước. Lão không nhìn ai chỉ nhìn xuống đất khi đi. Lão Nghi lại trở về đồi ma nơi chòi tranh của lão.

 

   Căn chòi tranh của lão Nghi đầm ấm ra khi có thêm bệnh xá của xã. Sau khi dân các làng không nơi nào chịu cho xây bệnh xá vì sợ truyền nhiểm và dị đoan chính quyền phải chọn đồi ma. Bệnh xá khang trang mà không có y tá y sĩ gì. Trong xã chẳng mấy ai học hành bao nhiêu . May mà có chị Thuyền.

 

          Chị Thuyền là con gái duy nhất cuả ông cả Lễ giàu có và chức sắc nhất làng. Chị đậu trung học rồi ở nhà nội trợ may vá. Học vấn của chị Thuyền thuộc loại nhất làng. Chị không đẹp mặt lắm nhưng đẹp nết. Đã gần ba mươi mà trông chị vẫn tươi mát hơn hớn.Trai làng không ai dám dạm hỏi . Phần vì nghèo vẫn sợ cái giàu có của ông Cả Lễ. Phần ít học lại sợ cái có học của chị Thuyền. Thế là chị phải quá thì một cách tức tưởi. Chị thường đi lang thang một mình dọc dường bạn* vào những đêm trăng sáng. Trai làng cứ việc nhìn theo mà thèm khát mà bất lực…

 

           Sau một thời gian học khoá y tế huơng thôn chị về nhận nhiệm sở với sự giúp đỡ của mụ Mận y công (hộ lý). Công việc hàng ngày là vào sổ cấp thuốc những bệnh thông thường. Hồi đầu chị Thuyền buồn lắm. Nhất là lúc có người sinh đẻ chị phải ở lại trực đêm. Đồi ma về đêm gió hú cát bay từng vạt mù mù ghê rợn lại thêm hình ảnh run rẫy liêu xiêu của lão Nghi nữa. Lão thường vừa phơi xôi vừa nhìn về phía bệnh xá như đang dò xét canh chừng điều gì ấy làm chị sờ sợ. Nhiều lần chị  khóc lặng lẽ xót cho phận mình.

 

         Rồi chị Thuyền cũng quen dần. Mỗi chiều rảnh việc chị  ngồi đọc tiểu thuyết thường là loại rẻ tiền thời đó. Những trang viết về mảng sống thị thành không dính dấp gì đến hoàn cảnh chị mà sao đôi lần cũng làm chị buâng khuâng cảm động. Nhất là những đoạn người ta yêu nhau say đắm hoặc …cả làm chuyện ấy nữa. Đã ba mươi tuổỉ mà chị Thuyền vẫn tưởng tượng điều ấy như là chuyện bí ẩn xa vời lắm.

 

       Tiếng “ự ự “sau lưng làm chị giật mình quay lại. Lão Nghi bưng tô xôi thịt run run khó nhọc nói:

           -Ự ự tôi đem xôi thịt mời cô.Cô ở đây lâu rồi mà không có dịp ra thăm cô.

Lần đầu tiên chị thấy lão Nghi không đáng sợ như chị tưởng.

Đôi mắt của lão toát lên vẻ gì đó như là thân mật chân tình.

       Chị cười:

            -Cám ơn bác bác đi mấy nơi mà nhiều thế?

       Lão không trả lời nhìn xuống cuốn tiểu thuyết:

             -Ự ự chị đọc gì thế đọc cho tui nghe với.

       Lão Nghi nói xong cười như mếu.

 

       Vậy thôi mà chị cũng đọc cho lão nghe. Lúc cô đơn người ta cần có bạn dù đó là lão Nghi đi nữa. Chị còn sốt sắng kể lại cả cốt truyện từ đầu. Đôi mắt lão cũng buồn cũng xa vắng. Chị rùng mình nhìn xuống tô xôi thịt.

 

            Mấy tháng mùa hè có lão Nghi chị cảm thấy đỡ oi bức hơn. Có khi mụ Mận bị bệnh chị lại nhờ lão phụ vài việc lặt vặt trong bệnh xá. Những đêm phải trực chị cảm thấy không đáng sợ nữa. Có lần chị đọc một đoạn tiểu thuyết cảm động lão Nghi ôm mặt khóc như trẻ thơ. Chị lại khuyên bảo an ủi lão rằng phận người ai cũng có nỗi khổ người kiểu này người cách kia. Chị không đủ ngôn từ để giải thích hết những điều chị nghĩ. Chị lại quay sang trêu lão:

         - Sao bác Nghi không lấy vợ cho rồi sau này già cả ai nuôi. Hay là tui nói với mụ Mận ra ở với bác nghe.

  Lão Nghi cười cười. Trong mắt lão có cái gì như là mơ ước.

 

         Tháng bảy năm đó mùa mưa đến chậm. Ngồi trong phòng với cây đèn Huê Kỳ chị Thuyền đọc tiểu thuyết. Hình như ngoài việc nói chuyện với lão Nghi chị chỉ thả hồn theo những trang sách mùi mẫn. Sau buổi chiều vất vả với ca đẻ khó giờ này chị thấy thanh thản trong lòng. Trăng hạ tuần lên cao càng sáng hơn. Dưới ánh trăng và gió nhẹ bãi cát trắng như tấm lụa phơi mình  gợn nhẹ đẹp vẻ đẹp man rợ. Bầy chó trong làng rủ nhau ra bãi cát tự tình. Chúng đùa giỡn cắn nhau gầm gừ tru tréo. Cặp chó con đen con vàng đến gần cửa sổ phòng chị chúng ve vãn bằng những tiếng rên “ự ự”…Một ngọn gió mạnh thổi tắt cây đèn. Chị đứng lên đi lại phía cửa sổ. dưới trăng chị quan sát thật kỷ hành động cặp chó. Chị lẩm bẩm “ Đồ quỷ. Râp rình như chó tháng bảy”. Chị trở lại nằm ngữa ra giường hai chân buông thỏng xuống nền thở dài.

 

     Gió mạnh chuẩn bị cơn mưa lớn. Những đụn mây kéo ngang nghịt trời. Chị đóng chặt hết cửa mà gió vẫn lọt vào thổi tắt hết đèn. Chị nhớ hộp diêm chẳng còn que nào. Chị nảy ra ý định sang nhà  lão Nghi xin lửa. Mưa bắt đầu rơi lộp bộp chạy qua mái tôn rồi lại im rồi lộp bộp từng tràng. Tiếng trẻ sơ sinh ọ ẹ. Tiếng sản phụ dổ con ư ử. Chị mở cửa vụt chạy băng băng qua trảng cát. Miếng nhựa che trên lưng đập giật lạt xạt. Chị đứng lại trước căn chòi lão Nghi gọi khẽ:

 

           - Bác Nghi ơi xin tí lửa.

          Lão Nghi cựa mình nói vọng ra:

            - Ự… ự  cô vào đây đã ướt hết.

 

      Chị Thuyền bước vào bóng tối làm chị rùng mình. Hình như có bàn tay vuốt lên tóc chị.

 

            -Ự ự…tóc cô ướt hết rồi. Tội nghiệp ự ự …ngồi xuống đây cho ấm đã.

 

        Chị vẫn đứng và thương thân mình đến xót xa. Mùi đàn ông lẫn trong mùi ẩm ướt của căn chòi làm chị rởn gai ốc. Bàn tay run rẩy của lão Nghi ấn vai chị xuống giường tre chuyển mình ọt ẹt. Chị ngoan ngoãn với chính mình ngồi xuống. Chị nghe mơ hồ tiếng thở dài thượt của lão Nghi. Hình như lão sờ soạng đâu đó tìm hộp diêm. Lão liêu xiêu lần về phía chạn tre đựng thức ăn mò mẫm.: “Đây rồi có rồi”. Lão nói ậm ự. Lão lại đi về phía chị. Chị hồi hộp ngồi chờ hai tay chị đưa về phía trứơc trong tư thế vừa đầu hàng vừa chống đỡ.

 

         Bỗng ánh chớp rạch một đường hắt ánh sáng vào căn chòi. Trong thoáng chốc chị thấy lão Nghi lảo đảo mất thăng bằng lão té chồm lên người chị cùng lúc với tiếng sét nổ chát chúa ngoài trời. Chiếc giường đánh rắc đổ nghiêng về phía hai người. Cứ thế họ nằm chồng lên nhau. Lão Nghi lại ự ự câu gì đó không rỏ chị thở gấp gáp hổn hển. Hai tay chị bấu chặt vai lão Nghi nửa như xô ra nửa như níu vào. Lão cứ ự ự tiếng rên muôn thuở. Nhưng với chị chỉ với chị lần này tiếng rên lại khác hoàn thiện hơn vượt qua tiếng rên dị tật của lão.

 

           Chị nghe cơ hồ tiếng mưa tiếng sét ngoài trời gầm rú ghê lắm. Bụi mưa ẩm ướt trên nền cát thấm vào lưng chị lành lạnh. Những đợt sóng âm thanh vỡ oà rồi chạy xa nhỏ dần. Lại bùng lên ầm ào rồi chạy xa nhỏ lại trả không gian về với lặng thinh tịch mịch đến xé lòng. Nước mắt lạnh trên má chị. Chỉ là tiếng sét ấy thôi! Có gì mà phải tủi! Nhắm mắt lại trong tối tăm chị tưởng tượng những con đom đóm nhập nhòe như nhang đèn trên bà thờ tổ. Những mồ mã cha ông từ thời ông nhất thế tổ những ngôi mộ tròn đường kính cả vài chục mét cứ hiện về hiện về.... Chị nằm sấp. Tái tê. Buồn. Khát nước.

 

              Chị đang nằm sấp trên nền cát sờ soạng. Vật gì vuông vuông như là cái hộp diêm chị cầm lên rồi chạy vụt ra ngoài mưa. Chị chạy về bệnh xá. Tiếng khóc trẻ thơ xé tan không gian tịch mịch. Ngọn lửa bùng lên khuôn mặt hài nhi đỏ hỏn nhăn nhó khóc.. Chị cũng khóc ròng : Ôi em bé! Ôi trẻ thơ! Ôi hạnh phúc!

            Mưa gió rả rích …

           Lơ mơ chị như ngủ…

 

   Bỗng ánh chớp rạch một đường. Sáng đến loá mắt tiếp theo  là tiếng nổ inh tai .Có mùi khét. Bất giác chị nghĩ đến căn chòi lão Nghi…

 

   Rạng sáng hôm sau cơn mưa ngớt. Còn vài đám mây đục màu khói bay nhanh và thấp. Chị bước ra khỏi bệnh xá nhìn về căn chòi. Chị co rúm ôm ngực. Căn chòi đổ sụp một phía. Hình như hai chân của lão Nghi  thòi lòi ra dưới cát trong tư thế nằm sấp nám đen khẳng khiu như hai khúc củi cháy nham nhở.

 

***

            Năm 1975 chị Thuyền trở về làng sau hơn mười năm lên tỉnh. Đứa con trai của chị đã mười tuổi. Chiến tranh đã góp phần san bằng “giai cấp” ở quê nhà. Căn nhà ngói năm gian của ông Cả Lễ chỉ còn đống gạch. Ông bà Cả đã qua đời. Khu vườn nhà được chia thành bốn thổ cư chị Thuyền cũng nhận được một phần non sào đất. Chị ngỡ ngàng với công việc và nhịp sống mới lạ. Nhưng lạ hơn cả là việc lão Nghi được phong tặng danh hiệu liệt sĩ đại diện cho “giai cấp công nhân” đầu tiên của cả vùng làm cách mạng. Rất nhiều giai thoại được thêu dệt quanh con người bí hiểm này. Bấy giờ chị mới hiểu là những lọ thuốc sốt rét lão Nghi xin chị đã gửi cho ai những bao xôi khô thịt muối lão dự trữ cho ai.

 

           Chiến tranh và đất trời đã xuý xoá giùm chị Thuyền tất cả. Dân làng cũng đoán non đoán già về cha của thằng cu Hờn (con chị). Chị đặt tên thằng cu Hờn là Lê văn Hoài theo họ mẹ.  Chị dửng dưng trước mọi dư luận. Nhưng trong sâu thẳm lòng chị có điều gì đó áy náy bất an. Nửa đêm lần mò lên lại đồi ma chị thắp nén nhang lớn lạy tứ phía dừng lại trên chỗ mà chị hình dung đó là căn chòi lão Nghi. Chị cắm nhang từ đó về lại đống gạch hoang phế của bệnh xá. Đêm đó trăng sáng lắm. Lặng lẽ trở về căn nhà tranh của chị căn nhà cũng lạnh lẽo không kém Đồi Ma. Chị thắp nhang lên bàn thờ và khấn : “Lạy cha lạy mạ xin tha lỗi cho con ”. Chị cũng thắp nhang ở am thờ ngoài trời và khấn ”Người ơi con đã lớn rồi. Tôi nguyện nuôi nấng dạy dỗ con nên người. Người sống khôn thác thiêng phù hộ cho con”.

 

              Chị ngủ thiếp đi bên cạnh đứa con trai thân yêu của mình. Hai tay ôm chặt con vào lòng trong chiêm bao đứt đoạn chị thấy lão Nghi trở về đòi con . Hai tay lão quờ quạng nói run run “ Ự .. ự trả con lại cho tui.Tui cả đời chỉ ước có được đứa con nối dõi tông đường chị nở nào đành đoạn dứt tình máu mủ. Chị ơi là chị…” .chị giật mình trở dậy mồ hôi ướt dầm lưng áo. Chị lại lò mò ra am thắp nhang khấn vái. Trở về nằm bên con thiu thiu ngủ thì đến lượt mơ thấy ông Cả râu tóc bạc phơ nghiêm giọng nói “Cha không có con trai thì coi như thằng cu Hờn là cháu nội . Cha đã chịu bao nhiêu miệng tiếng của dân làng để bảo vệ con và cháu nở nào con lại nghe theo lời cái thằng ăn xin cùng đinh ba đời đó”. Chị hét lên ôm chặt con vào lòng khóc không thành tiếng.

 

   Từ đêm đó dân làng lại đồn ở đồi ma xuất hiện một con yêu tinh nó xõa tóc đi quanh đồi khóc than suốt đêm. Điều này chỉ mình chị Thuyền biết mà thôi../.

 

NĐM

*Đánh độn thổ : ẩn núp ở dưới hầm đã được ngụy trang phía trên như địa hình tự nhiên khi đối phương lọt vào đội hình thì tất cả đội hầm đứng lên chiến đấu. Cách đánh này rất bất ngờ và táo bạo thường dùng trong chiến tranh du kích những năm chống Pháp.

* Dường bạn: Lối đi trên cánh đồng đường đất nhỏ nhằm  cắt chia những thửa ruộng.                                                                            

 

 

                                                                          

                                                                           

 

LỜI BÌNH TRUYỆN NGẮN ĐỒI MA CỦA NGUYỄN ĐẶNG MỪNG/ 19/3/11         

 

Lê Hoài Lương

 

Truyện có cấu tứ đơn giản mà độc đáo quanh hai nhân vật: một lão Nghi tật nguyền sống kiếp ăn mày từ nhỏ khi mồ côi đến chết một chị Thuyền đẹp nết là con một nhà giàu và có học nhất làng nên bao người mơ ước bao người khát khao mà vẫn không ai dám đến quá thì. Trên đồi ma nơi nhiều người chết vì chiến tranh vì giặc giã có lão Nghi ở chen cùng với cái chòi và sau này thêm bệnh xá làng nơi chị Thuyền làm việc. Chị Thuyền lỡ thì và lão Nghi hàng xóm. Rồi một đêm giông gió họ ngã vào nhau như cái lẽ tự nhiên như tình cờ như chờ đợi. Và giông gió can thiệp mơ hồ một nỗi tái tê lại cụ thể một đứa con trong bụng chị sau này. Và giông sét kết thúc cũng trong đêm ấy cái chòi cháy xém cả lão Nghi. Truyện kết bất ngờ sau này khi hòa bình người ta tôn vinh lão Nghi liệt sĩ với nghề ăn xin tiếp tế cho cách mạng bao nhiêu thuốc men xôi thịt và bao câu chuyện thêu dệt quanh cái đồi ma quanh đứa con chị Thuyền. Đồi ma còn tiếp tục lời đồn về người phụ nữ xõa tóc khóc than như một nối tiếp.

 

          Chuyện thực trăm phần trăm nhưng cũng ảo với các số phận các hoàn cảnh tình huống. Người và ma tật nguyền hình hài và cao đẹp một tâm hồn một sứ mệnh; ăn mày và nhiệm vụ tận cùng thống khổ và tròn đầy mãn nguyện… Mỏng mảnh lắm và cũng bền vững lạ lùng sự sống với những nẻo khuất những vết nhòe mờ nhân tính. Trên nền của đồi ma đã có sức sống kỳ lạ có phần quái dị những chớp lòe khi khốc liệt lúc lặng trầm oan khiên của kiếp người.

 

          Chuyện dễ đọc dễ kể nhưng sức lan tỏa khá lớn ở các tình huống vừa khốc liệt vừa nhòe mờ nhiều khơi gợi nhất là sự tiết chế chắt lọc cần thiết và tinh tế trong quan sát mô tả. Chẳng hạn cái ánh nhìn của lão Nghi khi thì “như dò xét canh chừng” lúc lại “có cái gì như mơ ước”; còn những tâm trạng những khao khát của chị Thuyền lại chìm khuất lại hiển lộ độc đáo cùng giông gió mưa sét cùng tiếng rên ự ự vừa tật nguyền vừa hoàn hảo của lão Nghi v.v …

 

          Một tác phẩm thành công nhiều khía cạnh của tác giả Nguyễn Đặng Mừng!./.

 

NGUYỄN ĐỨC THIỆN BÌNH truyện ngắn ĐỒI MA / 19/3/2011

          Bối cảnh truyện ngắn ĐỒI MA của Nguyễn Đặng Mừng là một cồn cát mà ở đó được mô tả như là nơi tụ họp của nhưng linh hồn chết. họ chết trong chiến tranh và chết do đói. Tại đó còn tồn tại một con người sống vì chưa kịp chết trong nạn đó. Nhưng ông ta cũng thân tàn ma dại mà sống. Không công ăn việc làm. Sống nhờ vào việc xin ăn trong đó có cả việc xin ăn từ những người đến đây cúng những linh hồn chết. Nhưng chính nhờ xin ăn của những linh hồn chết mà ông có xôi thịt những món ăn hạng sang đối với con người như ông.

          ĐỒI MA chỉ ấm lên khi ở đó có một trạm xá và ở trạm xá đó có một người đàn bà không còn xuân sắc nhưng cũng không thể coi là già. Người đàn bà ở tuổi đó thì biết chọn ai làm chỗ dựa cuộc đời. cô có vẻ như yên bình sống không lo gì đến chuyện cơm áo gạo tiền. Nhưng có một cái thật giống với người đàn ông ăn xin kia: cô đơn và lạnh lẽo giữa nơi hoang vắng ma nhiều hơn người này.

Trong khung cảnh ấy cái gì đến tất yếu phải đến thôi. Một đêm mưa giông sấm sét tối trời. Người đàn bà thiếu lửa đến tìm xin lửa của ngừơi đàn ông. Trong cái lạnh lẽo kia bỗng cháy bùng ngọn lửa mà cả hai dấu kín. Người đàn ông dấu vì thân phận thấp hèn người đàn bà dấu kín vì không thể có nơi thổ lộ. Một sinh linh bé nhỏ ra đời ngày trong cái đêm giông bão kia. Nhưng hỡi ôi thật khắc nghiệt đến kinh hòang. Có giông có gió có mưa và có sét nổ ngang trời thiêu rụi con người mới làm xong việc gieo sự sống. Như định mệnh: Nơi này đất sống của ma làm sao lại sinh ra con người. Mà con người thì thật đáng yêu khi nó còn bé nhỏ. Vậy thì ngươi con người sống nhờ miếng ăn cúng ma thì không đáng sống nữa khi người dám làm cái việc truyền giống của con người. Sét nổ hàn là trời đánh đấy?

ĐỒI MA của Nguyễn Đặng Mừng có dáng dấp một câu chuyện cổ tích một chút hoang đường và một chút đau cho số phận con người. Không khí của chuyện là một không khí của liêu trai. Và cuộc tình của hai người cũng giống liêu trai. Chỉ khác đây là những con người được xây dựng giống như đang sống thực. Họ tìm đến nhau vừa như ngẫu nhiên nhưng lại là một sự tất yếu. Có thời gian nào không gian nào thích hợp hơn để hai người làm được cái việc người nhất. Đó cũng là sự cảm thông của trời đất cho hai con người cô đơn và bất hạnh. Lão ăn xin bây giờ có chết cũng an lòng. Và ta cũng cầu mong cho người đàn bà làm được lời cầu nguyện: “Người ơi con đã lớn rồi. Tôi nguyện nuôi nấng dạy dỗ con nên người. Người sống khôn thác thiêng phù hộ cho con”. 

NĐT

 

 

 

More...

LHQ tôn vinh vai trò thi ca trong đời sống nhân loại

By Gã Phu Xe bất tử (Mai Thìn)

LHQ tôn vinh vai trò thi ca trong đời sống nhân loại

 

Phát biểu nhân Ngày Thơ thế giới (21.3) Tổng Giám đốc Tổ chức Giáo dục khoa học và văn hóa Liên hợp quốc (UNESCO) bà Irina Bokova khẳng định vai trò của nhà thơ như là nhân chứng vĩnh cửu của những biến đổi to lớn của thế giới và những khát khao thẩm mỹ của nhân loại.

Tổng Giám đốc Irina nhấn mạnh nhà thơ chuyển tải những thông điệp không chịu ảnh hưởng của thời gian và được tôn vinh như là những chứng nhân quan trọng nhất của những biến đổi chính trị-xã hội.

Những bài thơ của họ truyền cảm hứng để gắn kết con người với thiên nhiên xây dựng lòng nhân ái trên sự đồng nhất và đa dạng của các dân tộc.

Từ năm 1999 UNESCO đã chọn ngày 21.3 là Ngày Thơ thế giới nhằm nhấn mạnh thơ là nhu cầu xã hội khuyến khích con người đặc biệt là thế hệ trẻ tìm về cội nguồn.

Cùng với mục đích hỗ trợ sự đa dạng ngôn ngữ thông qua cảm xúc thơ ca Ngày Thơ thế giới đồng thời tạo cơ hội để các ngôn ngữ có nguy cơ biến mất được "tỏa sáng" trong cộng đồng người.
Ngoài ra Ngày Thơ thế giới cũng nhằm hỗ trợ nghệ thuật biểu diễn thơ khuyến khích duy trì truyền thống ngâm thơ bình thơ thúc đẩy học thơ khôi phục đối thoại với các nghệ thuật khác như sân khấu múa âm nhạc và hội họa hỗ trợ các nhà xuất bản nhỏ và tạo ra hình ảnh hấp dẫn của thi ca trong các phương tiện thông tin đại chúng để thi ca không còn bị coi là nghệ thuật lỗi thời.

UNESCO cũng khuyến khích các nước kỷ niệm trọng thể Ngày Thơ thế giới ở cấp địa phương cũng như cấp quốc gia với sự tham gia tích cực của các ủy ban quốc gia các tổ chức phi chính phủ trường học viện bảo tàng nhà xuất bản các tổ chức văn hóa cũng như các cộng đồng dân cư.

. Theo TTXVN/Vietnam+

 

More...

Ghi nhận từ đêm thơ Võ Ngọc Thọ

By Gã Phu Xe bất tử (Mai Thìn)

My photoGhi nhận từ đêm thơ Võ Ngọc Thọ

 

          Định kỳ cứ đến ngày 14 hàng tháng tại Trung tâm văn hóa tỉnh CLB Văn học Xuân Diệu tổ chức buổi sinh hoạt gặp gỡ các hội viên trong CLB. Và những ngày giữa tháng 3 này CLB đã tổ chức buổi giới thiệu tập thơ mới phát hành của nhà thơ Võ Ngọc Thọ (ảnh) - tập thơ “Hạt bụi và hoa quỳnh”.

 

          Võ Ngọc Thọ sinh ngày 3/3/1952 tại xã đảo Nhơn Lý hiện nay đang thường trú tại thành phố Quy Nhơn. Nối tiếp 2 tập thơ đã xuất bản: Sợi tóc và vầng trăng (2002) Ươm mầm trên sóng (2005) tập thơ thứ 3 “Hạt bụi và hoa quỳnh” của Võ Ngọc Thọ nhận được rất nhiều lời góp ý của các anh chị em hội viên. Buổi sinh họat đã lần lượt giới thiệu những bài viết của các nhà thơ Vân Bích Mang Viên Long Hồ Thế Phất Trần Hà Nam…về tập thơ này. Hầu hết đều khen ngợi động viên sự nỗ lực đều tay về 52 bài thơ ra mắt lần này.

 

          “Hạt bụi và hoa quỳnh” chất chứa những triết lý nhân sinh những hoài niệm bâng khuâng về cuộc sống của tác giả. Trong buổi sinh hoạt lần này ngoài việc chia sẻ về tập thơ mới nhất các hội viên CLB Văn học Xuân Diệu còn vui chung niềm vui với anh khi MC- nhà thơ Trần Hà Nam thông báo tin vui về bài thơ “ Ngày xuân cờ đỏ sao vàng” của Võ Ngọc Thọ đã được chọn treo trên lá cờ thơ trong ngày thơ Việt Nam tại Phú Yên vừa rồi.

Phát biểu trong buổi giao lưu nhà thơ Võ Ngọc Thọ bày tỏ sự cảm ơn đối với các bạn bè những người đã góp ý sửa bản in đồng thời cũng chia sẻ về những trăn trở khi xuất bản nên tập thơ này.

 

          Góp mặt trong buổi giới thiệu thơ lần này của Võ Ngọc Thọ là giọng ngâm truyền cảm của các nghệ sỹ quen thuộc với CLB Văn học Xuân Diệu như: Nghệ sỹ Tăng Tri Hải Đường Kim Long. Bên cạnh đó các tiết mục văn nghệ do các ca sỹ trẻ của Trung tâm văn hóa tỉnh và nhóm nhảy Hoàng Vũ đến từ Nhà văn hóa lao động đã tạo cho buổi giao lưu một sự sôi động và sâu lắng với nhiều cung bậc cảm xúc như chính cung bậc thơ của Võ Ngọc Thọ.

 

          Cảm động nhất là một số bạn thơ và bạn bè của nhà thơ Võ Ngọc Thọ từ Nhơn Lý cũng vào để chia vui cùng anh.

 

          Có góp mặt trong buổi giao lưu mới thấy hết tình cảm của những bạn thơ đối với nhau. Họ yêu thơ say thơ và sẵn sàng công hiến bút lực vì niềm đam mê ấy. Hy vọng rằng với những tình cảm ấy thơ ca sẽ luôn luôn song hành cùng cuộc sống này.

 

                                                                                      Kim Chánh

More...

MỘT BÀI THƠ GIÀU CHẤT NHÂN VĂN CỦA MAI THÌN

By Gã Phu Xe bất tử (Mai Thìn)

MỘT BÀI THƠ GIÀU CHẤT NHÂN VĂN

 

 Thơ Mai Thìn mộc mạc và giản dị như ta hình dung về người Bình Định. Chính điều này làm thơ anh hấp dẫn và có sức sống lâu bền trong trí nhớ bạn đọc. “Bài thơ buồn cho một tình yêu” là một ví dụ.

 Tôi đã đọc đi đọc lại nhiều lần những câu thơ đầy trăn trở trong “Bài thơ buồn cho một tình yêu” của Mai Thìn. Bài thơ anh viết là để được chia sẻ phần nào nỗi đau mà các nạn nhân chất độc màu da cam phải gánh chịu. Có lẽ anh đi nhiều tiếp xúc nhiều thông cảm nhiều với những nỗi mất mát của chiến tranh nên mới có những câu thơ như rút ruột:

 Vì sao không chịu lớn/

những đứa con./

 vì sao không biết cười/

những vành môi.//

 

 đám mây nào che phủ mắt con/

lũng núi ráng chiều mờ mịt khói/ 

vầng trăng năm tháng thở dài//

 

chúng mình yêu nhau/

chúng mình đã chờ nhau/

chiến tranh không dài hơn nỗi nhớ//

 

 hoà bình rồi/

gặp gỡ!/

 em cười  reo/

anh cũng đã cười reo//

 

dẫu chỉ còn một tay/

dẫu chỉ còn một chân/

dẫu chỉ còn một mắt/

hay/

chẳng còn gì cả/

thì/

con tim/

sính lễ cầu hôn/

bài thơ/

ta viết đêm đêm/

xanh khát mầm hoa trái”.

 

Những câu thơ chứa đựng bao cung bậc cảm xúc. Chiến tranh đã đi qua. Tiếng gầm rú của sắt thép và những hình thù gieo chết chóc cũng đã đi qua. Hòa bình rồi! Hòa bình về! Vỡ òa niềm vui ngày gặp gỡ. “Em cười reo“Anh cũng đã cười reo" “Chiến tranh không dài hơn nỗi nhớ”; “Chúng mình yêu nhau/ Chúng mình đã chờ nhau”. Rồi điểm đến như là tất yếu của mọi cuộc tình: “Mẹ đã là em!” “Bố đã là anh!”. Tưởng chừng như niềm vui qua bao đợi chờ dồn nén nay đã trọn vẹn; tưởng rằng nỗi buồn thời con trai con gái đã đi qua; và nỗi “xanh khát mầm hoa trái” sẽ trở thành hiện thực. Nhưng… những cái dấu chấm lửng (…) những câu thơ lặp đi lặp và hoán đổi vị trí cho nhau lại như xoáy vào lòng ta một hiện thực một nỗi đau:

 

nhưng …/

những đứa con/

vì sao không chịu lớn./

những vành môi/

vì sao chẳng biết cười”.

 

Chao ôi đã hơn 35 năm kể từ khi đất nước hòa bình thống nhất. Quảng ấy thời gian cùng với nỗ lực hàn gắn thương đau của bao người những tưởng như đủ để cho những mất mát đau thương dịu xuống. Nhưng không di chứng của chiến tranh vẫn đang nhức nhối từng ngày. Đọc những câu thơ của Mai Thìn chúng ta càng xót xa khi chứng kiến những số phận tật nguyền do hậu quả của chất độc màu da cam do bom mìn sót lại. Bước ra khỏi máu lửa của cuộc chiến tranh những người lính trở về với cuộc sống đời thường hơn ai hết họ khát khao một mái ấm hạnh phúc và những đứa con khỏe mạnh. Đó là nỗi khát khao niềm ước muốn giản dị chính đáng. Nhưng trong vòng tay của họ sau cuộc binh đao là những đứa con không chịu lớn là những vành môi không nói nữa là những đôi mắt không còn mi những vầng trăng đã chết…

 

Đi – ô – xin thứ chất độc ghê người ấy đã không chỉ tàn phá sức khỏe và tinh thần của những người trực tiếp đối mặt với chiến tranh mà còn tiếp tục âm ỉ hủy hoại cả nhiều thế hệ được sinh ra trong hòa bình.

 

Thật bất hạnh những người lính năm xưa không chỉ gánh chịu mất mát khổ đau trong một kiếp người mà còn mang nỗi đau khổ của cả nhân sinh.

 

Ôi con tôi!/

một trong bảy mươi nghìn vành môi không nói nữa/

một trong bảy mươi nghìn đôi mắt không còn mi/

một trong bảy mươi nghìn vầng trăng đã chết/

lửng lơ treo trên khắp thế gian”.

 

Vậy đó. Cuộc chiến tranh Việt Nam không chỉ cướp đi hàng triệu sinh linh người Việt không chỉ cướp đi 58.116 lính Mỹ đến Việt Nam mà còn cướp đi 70 nghìn nụ cười 70 nghìn đôi mắt của trẻ em Việt Nam. Hơn 35 năm trôi qua chất độc Đi-ô- xin mà người Mỹ rải ở Việt Nam như một vết nhơ đã và sẽ còn lửng lơ treo trên khắp thế gian. Đó là một thực trạng. Và thực trạng đó cũng lại tiếp tục đi vào trong thơ Mai Thìn. Những câu thơ với những dấu hỏi lớn như những nhát dao cứa qua nỗi đau nhân loại:

 

Một phần tỉ tỉ nào đã có trong anh/

một phần tỉ tỉ nào đã chuyển sang con/

trong bốn mươi lăm triệu vết nhơ từ bên kia bờ nước Mỹ/

da nhân loại năm màu sao còn có da cam.”…

 

Thơ Mai Thìn là những tình cảm thiết tha chân thật được rút từ gan ruột của con người không phải bằng câu thơ hào nhoáng giả tạo mà nó thể hiện sức sống mãnh liệt của lòng yêu thương và tính nhân văn bản thiện của con người Việt Nam. Thơ Mai Thìn đằm thắm yêu thương thế đấy.

         

                                             Nguyễn Viết Chính

  64/6 Đặng Huy Trứ phường Trường An thành phố Huế.

ĐT: 01667520836 Email : nguyenvietchinh@gmail.com 

(Bài in  Báo Bình Định số 4241 ra ngày thứ Tư 16/3/2011)

 

 BÀI THƠ BUỒN CHO MỘT TÌNH YÊU

(Xin được sẻ chia nỗi đau chất độc màu da cam)

 

 Mai Thìn

 

 

1

Vì sao không chịu lớn

những đứa con.

vì sao không biết cười

những vành môi.

 

đám mây nào che phủ mắt con

lũng núi ráng chiều mờ mịt khói

vầng trăng năm tháng thở dài

 

2                          

chúng mình yêu nhau

chúng mình đã chờ nhau

chiến tranh không dài hơn nỗi nhớ

 

hoà bình rồi

gặp gỡ!

em cười  reo

anh cũng đã cười reo

 

dẫu chỉ còn một tay

dẫu chỉ còn một chân

dẫu chỉ còn một mắt

hay

chẳng còn gì cả

thì

con tim

sính lễ cầu hôn

bài thơ

ta viết đêm đêm

xanh khát mầm hoa trái.

 

3

bây giờ

đã qua rồi

nỗi buồn thời con gái

mẹ đã là em!

bố đã là anh!

 

nhưng…

những đứa con

vì sao không chịu lớn.

những vành môi

vì sao chẳng biết cười.

 

4

một phần tỉ tỉ nào đã có trong anh

một phần tỉ tỉ nào đã chuyển sang con

trong bốn mươi lăm triệu vết nhơ từ bên kia bờ nước Mỹ

da nhân loại năm màu sao còn có da cam.

 

ôi con tôi!

một trong bảy mươi nghìn vành môi không nói nữa

một trong bảy mươi nghìn đôi mắt không còn mi

một trong bảy mươi nghìn vầng trăng đã chết

lửng lơ treo trên khắp thế gian!

 

 

MT

 

 

More...

Đêm Bến Tre

By Gã Phu Xe bất tử (Mai Thìn)

altalt

Đêm Bến Tre

 

Mai Thìn

 

Đêm Bến Tre

nghe

giọt mồ hôi

trôi

từ sông Hàm Luông từ phà Rạch Miễu

vẳng

tiếng Đồ Chiểu

từ Ba Tri

Phan Văn Trị vung thơ kháng Pháp

 

Đêm Bến Tre

nghe

máu rơi

rì rầm Đồng Khởi

từ Mỏ Cày

Lê Anh Xuân viết “đêm nằm nghe mưa rơi”

nhớ quê hương miền Bắc

sông Hàm Luông dằng dặc

cửa Tiền lục bình trôi ngăn ngắt

dùng dằng cồn Phụng cồn Qui

 

Đêm Bến Tre

nghe

giọt mồ hôi

trên đồng không kịp mát

những em bé bắt chuột ban chiều

không biết

được bao nhiêu.

 

 

Bến Tre ngày 22 -3 - 08

More...

“Ăn chè… rồi lại ăn xôi”

By Gã Phu Xe bất tử (Mai Thìn)

alt

“Ăn chè… rồi lại ăn xôi”

Bút ký của Huỳnh Kim Bửu

 

 “Mặn nhạt chua cay lẫn ngọt bùi” (Thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm): Vị giác cũng đó mà tình đời cũng đó. Món ngọt phong phú lắm: Bánh thuẫn bánh in cốm nếp cốm ngô… Mà phải chăng trong đó chè là món thứ nhất?

 

Chè nào chẳng nấu với đường và thường không thiếu các “gia vị” vẫn dành cho nồi chè: Dầu chuối gừng va – ni lá dứa…

Chè tổng hợp là món chè thường gặp nhất ở nông thôn tức nông dân thường ăn nhất. Chè chế biến từ đậu đen nếp đậu phụng (rang nguyên hột). Tại sao nông dân thích ăn chè tổng hợp? – Vì trong các gia đình nông dân vẫn sẵn có những thổ sản này. Chè tổng hợp nấu đặc. Người nông dân thích ăn đặc cho chặt bụng mà cầm cày cuốc nên gặp món chè này thì phải lòng không gì hơn. Chén chè tổng hợp nóng bốc hơi tỏa đủ hương vị: Thơm - nếp bùi - đậu đỗ vị ngọt của đường tới. Người sành ăn sẽ ăn nóng bẻ bánh tráng nướng giòn giòn thơm thơm xúc ăn cho thêm hương vị. Chén chè này ăn nguội sẽ mất hết hương vị bỏ cục đá lạnh (của thời nay) vào sẽ rất nhạt nhẽo; chế biến chè phải dùng đường đen (đường muổng hay đường tán) mới có vị ngọt đậm đà tính dân dã nó không hợp với đường cát trắng dành cho bữa chè khác của nhà khá giả.

 

Chè thập cẩm thời nay là một sự “phát triển” của chè tổng hợp xưa có thêm nhiều loại đậu đỗ để cho thành “thập cẩm”. Có thấy những quán chè thập cẩm dọn ra đến trên dưới mười cái xoang trắng tinh đựng chè xếp thành hình vòng cung giống như một dàn trống võ mà bà bán chè với những thao tác uyển chuyển nhanh nhẹn cũng giống như người nghệ sĩ biểu diễn dàn trống đó.   

Chè đậu đen nấu loãng ăn với đá lạnh có giá trị giải khát lắm.

 

Chè đậu xanh chế biến từ nếp đậu xanh đường cát vàng mỡ gà thường gặp ở các nhà trung lưu trở lên. Chè này ăn với đá lạnh vừa mát miệng vừa đã khát.

 

Chè đậu xanh đánh được chế biến bằng bột đậu xanh mịn đường cát vàng hay đường cát trắng đánh nhuyễn. Để nguội ly chè đặc lại thành bánh có thể cầm trên tay ăn.

 

Chè đậu váng nấu bằng đậu váng nguyên hột cho bột mì nhứt và đường cát vào. Chè đựng trong ly người ta thích ăn với đá lạnh.

 

Chè đậu ngự ngọt thanh cắn hột đậu ngự nghe thơm bùi. Đậu ngự còn nấu canh với thịt nạc xào với bún Tàu - thịt nạc đều ngon đặc biệt. Do vậy nó thường để dâng vua bởi thế mới đặt tên là đậu ngự.

Chè hạt sen thường nấu dâng cúng Phật. Hạt sen còn làm mứt ăn mứt hạt sen cắn túc tắc rỉ rả trong Tết tư đám tiệc cũng vui chẳng khác gì cắn hạt dưa.

Chè chuối nướng - nước dừa - đậu phụng rang giã nhỏ là món chè bình dân vẫn “kết bạn tâm giao” với giới lao động và học sinh ở các thành phố.

 

Chè nếp nấu đặc đựng trong chén thường gặp trong những bữa cúng Các bác ngày sóc vọng hàng tháng bên cạnh các đĩa xôi nếp - đậu xanh đĩa củ lang luộc chín và những chén cháo trắng.

 

Chè bắp chế biến từ bắp non. Nấu sênh sếch hạt bắp non bào nhỏ với đường cát sẽ cho ly chè bắp ngọt thanh ăn lợi tiểu chẳng khác gì uống thuốc bắc.

Chè trôi nước chế biến bằng nguyên liệu bột mì vo viên có nhân. Gọi là chén chè trôi nước bởi vì những viên bột mì hình thoi bọc nhân là hạt đậu phụng rang to bằng hạt mít nổi trôi trong chén chè loãng. Chè ỉ khác với chè trôi nước ở viên bột mì. Viên bột mì chính là viên chè. Nó to và tròn trĩnh như quả chanh mang nhân đậu đỗ hay nhân dừa bào mảnh thành sợi hương thơm vị béo mà ngọt lịm. Chè ỉ múc cả nước lẫn cái vào chén hay ly thủy tinh sẽ bắt mắt kích thích vị giác vì cái viên chè to tướng nằm choán hết chỗ của ly chè.

 

Bánh canh ngọt là món gần gũi bà con dòng họ với chè. Món này chế biến bằng bột gạo sú nước vào cho ướt đều xe thành cọng to dài bằng chiếc đũa con. Đoạn cầm trên tay đưa tay ra ngang tầm nồi nước đang bắc trên bếp lửa dùng kéo cắt cọng bột thành từng đoạn dài 5 – 10 phân cho rơi thẳng vào nồi nước kế tiếp cho đường vàng vào. Nồi bánh canh vẫn ở trên bếp cho tới khi nào nghe mùi thơm của bột gạo chín của đường tới thì hạ xuống. Bánh canh dùng nhiều gia vị gừng (như chè đậu đen chưa có bột va – ni dầu chuối như ngày nay). Chế biến bánh canh xong múc ra chén bát vại sắp vào mâm bà nội trợ mời cả nhà ăn. Ăn uống tùy sức ai hảo ngọt thì ăn bát vại. Đứa con nít nào hư bị người lớn đánh đòn nứt lằn ngang dọc ở mông đít thì gọi là đã bị “cho ăn …bánh canh”!

 

Chè bánh tráng là “sáng chế” của mấy chị em nhà nọ mỗi khi cha mẹ vắng nhà. Cầm dao gọt đường tán vào bát đã có sẵn bánh tráng bẻ vụn rồi chế nước sôi vào. Chế 7 đứa 7 tô tức thì mỗi đứa có một tô chè bánh tráng ăn cũng ngon như thường.

 

Chè đông sương chế biến từ rau câu xay thành bột đóng gói bán ngoài chợ. Cho bột rau câu vào xoong nước đang bắc trên bếp hồng nấu sôi cho gia vị vào rồi tắt lửa hạ xuống múc ra chén. Đợi nguội nếu nấu loãng thì cho chè đông sương (đông mềm) nếu nấu đặc thì cho bánh đông sương (đông cứng). Ăn chè bánh đông sương nhớ xu xoa cũng chế biến từ rau câu chỉ khác ăn xu xoa nghe rõ mùi rau câu hơn khiến cho người dễ mủi lòng nẩy sinh tình cảm nhớ biển …mặn.  

Thường thì chè đặc đựng trong chén bát; chè loãng chứa trong ly. Nhưng cũng còn tùy thuộc vào những gì có sẵn trong sóng chén của bà nội trợ nữa. Các bà nhà khá giả quản lý sóng chén đã chia tô chén đĩa thành mấy loại: Chén ăn cơm chén ăn chè (còn gọi tắt là chén chè) chén nước mắm đĩa trái đào đĩa con vịt bầu chén da lươn…Chén chè là chén mỏng (thuộc nhóm đồ mỏng đồ Tàu) don don đứng trái đáy sâu đóng triện Nội phủ dưới khu chén khác với chén ăn cơm lớn hơn miệng rộng; chén nước mắm nhỏ đáy nông. Như vậy có chén chuyên dụng: Chén chè.

 

Khi nào thì người ta ăn chè?

Người ta vẫn thường ăn chè khi trong nhà đã có sẵn các nông thổ sản có liên quan tới nồi chè xoong chè.

 

Trưa nhất là những trưa hè nóng bức bà nội trợ chế biến sẵn từ hồi nào dọn lên bữa chè đậu xanh hoặc đậu đen nấu loãng đãi cả nhà ăn. Ăn với đá lạnh. Ăn xong được cái cảm giác mát rượi chạy khắp người ông chồng hứng quá khen vợ mình đảm đang lũ con bắt chước bố khen mẹ mình giỏi giang hết ý. Khách tới nhà chơi được chủ nhà mừng rỡ cầm chân mời ăn cơm trưa ngủ trưa xế thức dậy còn cho ăn chè rồi mới được thả cho về. Người lớn trẻ con hảo ngọt trông cho luôn có dịp ăn chè và chắc đã có không ít lần thốt lên “tiếng lòng”: “Cu kêu ba tiếng cu kêu / Cho mau tới Tết dựng nêu ăn chè…” (Ca dao). Trong các làng ở quê tôi xưa rải rác có quán chè có những gánh chè bán dạo xóm dạo đồng đang mùa gặt hái đông người. Ở Quy Nhơn hồi cách đây vài mươi năm đường Phan Bội Châu đường Trần Phú… nối đuôi nhau các tiệm chè bởi thế được nhiều người gọi là mấy phố Chè cho nó văn nghệ. Cũng thời đó ai thích món chè chuối nướng cứ chờ tối đến đạp xe thẳng tới đường Mai Xuân Thưởng (đoạn gần Nhà hàng Trầu Cau bây giờ) lên Cầu Đôi…Ở các nơi đó quán chè chuối nướng la liệt trên hè phố mà quán nào cũng đang đông vui những người hảo ngọt tụ lại. Còn các gánh chè bán dạo phố phường thì sớm trưa chiều tối gánh nọ đụng đầu gánh kia. 

 

Gu của người ta ăn chè thường kèm với ăn xôi chè – xôi vẫn đi đôi với nhau: “…Ăn chè rồi lại ăn xôi / Còn ba đòn bánh tét để dành hạ nêu” (Ca dao).

 

Xôi được chế biến từ các nguyên liệu chính: Nếp đậu xanh đậu đen đậu phụng đậu ngự…Nói chung nguyên liệu chế biến xôi giống như chè chỉ khác: Xôi không đường nấu bằng chõ (1) để cho xôi vò hoặc bằng nồi để được cơm nếp.

 

Ngày nay cái thú ăn chè đã giảm đi nhiều. Ở Quy Nhơn những phố chè ngày trước nay chuyển sang bán buôn mặt hàng khác. Thậm chí gánh chè rong phố cũng đã ít gặp! Phải chăng người ta ăn kiêng món đường ngọt như kiêng thịt mỡ da gà? Nhớ quá những bữa chè với bạn bè ở đường Phan Bội Châu (gần trụ sở Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh) tình bạn cứ thêm ngọt ngào!

 

(1) Dụng cụ nhà bếp bằng đất nung giống cái vò nước nhưng đáy đục nhiều lỗ thả lọt hòn bi ve. Khi nấu xôi đặt chõ lên miệng nồi trát đất kín chỗ chõ tiếp giáp với miệng nồi rồi cho nếp nguyên liệu và các thứ thịt thà đậu đỗ vào chõ (Có lót lá ở đáy chõ) đốt bếp cho đến khi nếp trong chõ chín và thấm tháp thành xôi vò.

 

H. K. B

 

Địa chỉ: Huỳnh Kim Bửu 162 / 32 / 18 Nguyễn Thái Học Quy Nhơn – Bình Định. ĐT: 0958 501562

 

 

 

 

 

 

 

“Ăn chè… rồi lại ăn xôi”

 

Bút ký của Huỳnh Kim Bửu

 

 “Mặn nhạt chua cay lẫn ngọt bùi” (Thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm): Vị giác cũng đó mà tình đời cũng đó. Món ngọt phong phú lắm: Bánh thuẫn bánh in cốm nếp cốm ngô… Mà phải chăng trong đó chè là món thứ nhất?

 

Chè nào chẳng nấu với đường và thường không thiếu các “gia vị” vẫn dành cho nồi chè: Dầu chuối gừng va – ni lá dứa…

Chè tổng hợp là món chè thường gặp nhất ở nông thôn tức nông dân thường ăn nhất. Chè chế biến từ đậu đen nếp đậu phụng (rang nguyên hột). Tại sao nông dân thích ăn chè tổng hợp? – Vì trong các gia đình nông dân vẫn sẵn có những thổ sản này. Chè tổng hợp nấu đặc. Người nông dân thích ăn đặc cho chặt bụng mà cầm cày cuốc nên gặp món chè này thì phải lòng không gì hơn. Chén chè tổng hợp nóng bốc hơi tỏa đủ hương vị: Thơm - nếp bùi - đậu đỗ vị ngọt của đường tới. Người sành ăn sẽ ăn nóng bẻ bánh tráng nướng giòn giòn thơm thơm xúc ăn cho thêm hương vị. Chén chè này ăn nguội sẽ mất hết hương vị bỏ cục đá lạnh (của thời nay) vào sẽ rất nhạt nhẽo; chế biến chè phải dùng đường đen (đường muổng hay đường tán) mới có vị ngọt đậm đà tính dân dã nó không hợp với đường cát trắng dành cho bữa chè khác của nhà khá giả.

 

Chè thập cẩm thời nay là một sự “phát triển” của chè tổng hợp xưa có thêm nhiều loại đậu đỗ để cho thành “thập cẩm”. Có thấy những quán chè thập cẩm dọn ra đến trên dưới mười cái xoang trắng tinh đựng chè xếp thành hình vòng cung giống như một dàn trống võ mà bà bán chè với những thao tác uyển chuyển nhanh nhẹn cũng giống như người nghệ sĩ biểu diễn dàn trống đó.   

Chè đậu đen nấu loãng ăn với đá lạnh có giá trị giải khát lắm.

 

Chè đậu xanh chế biến từ nếp đậu xanh đường cát vàng mỡ gà thường gặp ở các nhà trung lưu trở lên. Chè này ăn với đá lạnh vừa mát miệng vừa đã khát.

 

Chè đậu xanh đánh được chế biến bằng bột đậu xanh mịn đường cát vàng hay đường cát trắng đánh nhuyễn. Để nguội ly chè đặc lại thành bánh có thể cầm trên tay ăn.

 

Chè đậu váng nấu bằng đậu váng nguyên hột cho bột mì nhứt và đường cát vào. Chè đựng trong ly người ta thích ăn với đá lạnh.

 

Chè đậu ngự ngọt thanh cắn hột đậu ngự nghe thơm bùi. Đậu ngự còn nấu canh với thịt nạc xào với bún Tàu - thịt nạc đều ngon đặc biệt. Do vậy nó thường để dâng vua bởi thế mới đặt tên là đậu ngự.

Chè hạt sen thường nấu dâng cúng Phật. Hạt sen còn làm mứt ăn mứt hạt sen cắn túc tắc rỉ rả trong Tết tư đám tiệc cũng vui chẳng khác gì cắn hạt dưa.

Chè chuối nướng - nước dừa - đậu phụng rang giã nhỏ là món chè bình dân vẫn “kết bạn tâm giao” với giới lao động và học sinh ở các thành phố.

 

Chè nếp nấu đặc đựng trong chén thường gặp trong những bữa cúng Các bác ngày sóc vọng hàng tháng bên cạnh các đĩa xôi nếp - đậu xanh đĩa củ lang luộc chín và những chén cháo trắng.

 

Chè bắp chế biến từ bắp non. Nấu sênh sếch hạt bắp non bào nhỏ với đường cát sẽ cho ly chè bắp ngọt thanh ăn lợi tiểu chẳng khác gì uống thuốc bắc.

Chè trôi nước chế biến bằng nguyên liệu bột mì vo viên có nhân. Gọi là chén chè trôi nước bởi vì những viên bột mì hình thoi bọc nhân là hạt đậu phụng rang to bằng hạt mít nổi trôi trong chén chè loãng. Chè ỉ khác với chè trôi nước ở viên bột mì. Viên bột mì chính là viên chè. Nó to và tròn trĩnh như quả chanh mang nhân đậu đỗ hay nhân dừa bào mảnh thành sợi hương thơm vị béo mà ngọt lịm. Chè ỉ múc cả nước lẫn cái vào chén hay ly thủy tinh sẽ bắt mắt kích thích vị giác vì cái viên chè to tướng nằm choán hết chỗ của ly chè.

 

Bánh canh ngọt là món gần gũi bà con dòng họ với chè. Món này chế biến bằng bột gạo sú nước vào cho ướt đều xe thành cọng to dài bằng chiếc đũa con. Đoạn cầm trên tay đưa tay ra ngang tầm nồi nước đang bắc trên bếp lửa dùng kéo cắt cọng bột thành từng đoạn dài 5 – 10 phân cho rơi thẳng vào nồi nước kế tiếp cho đường vàng vào. Nồi bánh canh vẫn ở trên bếp cho tới khi nào nghe mùi thơm của bột gạo chín của đường tới thì hạ xuống. Bánh canh dùng nhiều gia vị gừng (như chè đậu đen chưa có bột va – ni dầu chuối như ngày nay). Chế biến bánh canh xong múc ra chén bát vại sắp vào mâm bà nội trợ mời cả nhà ăn. Ăn uống tùy sức ai hảo ngọt thì ăn bát vại. Đứa con nít nào hư bị người lớn đánh đòn nứt lằn ngang dọc ở mông đít thì gọi là đã bị “cho ăn …bánh canh”!

 

Chè bánh tráng là “sáng chế” của mấy chị em nhà nọ mỗi khi cha mẹ vắng nhà. Cầm dao gọt đường tán vào bát đã có sẵn bánh tráng bẻ vụn rồi chế nước sôi vào. Chế 7 đứa 7 tô tức thì mỗi đứa có một tô chè bánh tráng ăn cũng ngon như thường.

 

Chè đông sương chế biến từ rau câu xay thành bột đóng gói bán ngoài chợ. Cho bột rau câu vào xoong nước đang bắc trên bếp hồng nấu sôi cho gia vị vào rồi tắt lửa hạ xuống múc ra chén. Đợi nguội nếu nấu loãng thì cho chè đông sương (đông mềm) nếu nấu đặc thì cho bánh đông sương (đông cứng). Ăn chè bánh đông sương nhớ xu xoa cũng chế biến từ rau câu chỉ khác ăn xu xoa nghe rõ mùi rau câu hơn khiến cho người dễ mủi lòng nẩy sinh tình cảm nhớ biển …mặn.  

Thường thì chè đặc đựng trong chén bát; chè loãng chứa trong ly. Nhưng cũng còn tùy thuộc vào những gì có sẵn trong sóng chén của bà nội trợ nữa. Các bà nhà khá giả quản lý sóng chén đã chia tô chén đĩa thành mấy loại: Chén ăn cơm chén ăn chè (còn gọi tắt là chén chè) chén nước mắm đĩa trái đào đĩa con vịt bầu chén da lươn…Chén chè là chén mỏng (thuộc nhóm đồ mỏng đồ Tàu) don don đứng trái đáy sâu đóng triện Nội phủ dưới khu chén khác với chén ăn cơm lớn hơn miệng rộng; chén nước mắm nhỏ đáy nông. Như vậy có chén chuyên dụng: Chén chè.

 

Khi nào thì người ta ăn chè?

Người ta vẫn thường ăn chè khi trong nhà đã có sẵn các nông thổ sản có liên quan tới nồi chè xoong chè.

 

Trưa nhất là những trưa hè nóng bức bà nội trợ chế biến sẵn từ hồi nào dọn lên bữa chè đậu xanh hoặc đậu đen nấu loãng đãi cả nhà ăn. Ăn với đá lạnh. Ăn xong được cái cảm giác mát rượi chạy khắp người ông chồng hứng quá khen vợ mình đảm đang lũ con bắt chước bố khen mẹ mình giỏi giang hết ý. Khách tới nhà chơi được chủ nhà mừng rỡ cầm chân mời ăn cơm trưa ngủ trưa xế thức dậy còn cho ăn chè rồi mới được thả cho về. Người lớn trẻ con hảo ngọt trông cho luôn có dịp ăn chè và chắc đã có không ít lần thốt lên “tiếng lòng”: “Cu kêu ba tiếng cu kêu / Cho mau tới Tết dựng nêu ăn chè…” (Ca dao). Trong các làng ở quê tôi xưa rải rác có quán chè có những gánh chè bán dạo xóm dạo đồng đang mùa gặt hái đông người. Ở Quy Nhơn hồi cách đây vài mươi năm đường Phan Bội Châu đường Trần Phú… nối đuôi nhau các tiệm chè bởi thế được nhiều người gọi là mấy phố Chè cho nó văn nghệ. Cũng thời đó ai thích món chè chuối nướng cứ chờ tối đến đạp xe thẳng tới đường Mai Xuân Thưởng (đoạn gần Nhà hàng Trầu Cau bây giờ) lên Cầu Đôi…Ở các nơi đó quán chè chuối nướng la liệt trên hè phố mà quán nào cũng đang đông vui những người hảo ngọt tụ lại. Còn các gánh chè bán dạo phố phường thì sớm trưa chiều tối gánh nọ đụng đầu gánh kia. 

 

Gu của người ta ăn chè thường kèm với ăn xôi chè – xôi vẫn đi đôi với nhau: “…Ăn chè rồi lại ăn xôi / Còn ba đòn bánh tét để dành hạ nêu” (Ca dao).

 

Xôi được chế biến từ các nguyên liệu chính: Nếp đậu xanh đậu đen đậu phụng đậu ngự…Nói chung nguyên liệu chế biến xôi giống như chè chỉ khác: Xôi không đường nấu bằng chõ (1) để cho xôi vò hoặc bằng nồi để được cơm nếp.

 

Ngày nay cái thú ăn chè đã giảm đi nhiều. Ở Quy Nhơn những phố chè ngày trước nay chuyển sang bán buôn mặt hàng khác. Thậm chí gánh chè rong phố cũng đã ít gặp! Phải chăng người ta ăn kiêng món đường ngọt như kiêng thịt mỡ da gà? Nhớ quá những bữa chè với bạn bè ở đường Phan Bội Châu (gần trụ sở Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh) tình bạn cứ thêm ngọt ngào!

 

(1) Dụng cụ nhà bếp bằng đất nung giống cái vò nước nhưng đáy đục nhiều lỗ thả lọt hòn bi ve. Khi nấu xôi đặt chõ lên miệng nồi trát đất kín chỗ chõ tiếp giáp với miệng nồi rồi cho nếp nguyên liệu và các thứ thịt thà đậu đỗ vào chõ (Có lót lá ở đáy chõ) đốt bếp cho đến khi nếp trong chõ chín và thấm tháp thành xôi vò.

 

H. K. B

 

Địa chỉ: Huỳnh Kim Bửu 162 / 32 / 18 Nguyễn Thái Học Quy Nhơn – Bình Định. ĐT: 0958 501562

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

More...